|
xây nhà Thư Viện Đọc nhiều nhất
Văn Phòng |
Tác giả: Vương Trùng Dương
In bài
Gởi bàiLý Bạch - Ðỗ Phủ: Giao Tình Thi Hữu Lưu Linh Vương Trùng Dương Buổi chiều cuối tuần, người bạn từ phương xa đến Little Saigon mang theo chay “Trường Xuân Tửu”, bạn bè chén tạc chén thù, bàn chuyện thế gian. Hơn ba thập niên rồi, nhớ lại ngày nào ở Ðà Lạt, mỗi lần nâng ly “Bạn ơi, quan hà xin cạn chén ly bôi”, cho đến khi ngất ngưởng con tàu đi... Rượu vào lời ra, ông bạn Thiết Trượng, tác giả bài “Men Nồng Trong Thơ Văn” nhắc đến bài viết của Vĩnh Phúc “Nhân Ðọc Bài Thơ Lý Bạch” trên nhật báo Viễn Ðông, có đôi điều lý thú nên câu chuyện ban đầu trở thành câu chuyện văn chương. Vĩnh Phúc đề cập đến bài thơ Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn Chí của Lý Bạch với quan niệm trong thú vui hưởng thụ cùng rượu, say suốt ngày, nằm bậy bạ trước nhà, quên mất ngày tháng và cả thân mình... Vĩnh Phúc viết: “May cho Lý Bạch vì ông không sống vào thời này, nhất là lại sống ở nước Mỹ. Bởi vì nói theo chữ nghĩa thời nay, ông sẽ gặp nhiều pốp-lầm lắm (problem)... không thích làm mà lại thích rượu. Với cái tật nầy, mà cứ theo bài thơ đã dẫn, ông say sưa suốt ngày... Thế thì ông cần phải vào trung tâm cai rượu. Nhưng họ Lý không quan tâm chuyện đó. Vì không có việc làm (reference quá xấu!) ông phải đến ở nhờ nhà một người bạn... Rất may còn có bạn tốt nuôi ăn, cho ở nhờ. E rằng thời buổi nầy rất khó kiềm được một người bạn như thế...”. Ở đất Hoa Kỳ ngày nay mà đem lòng tốt nuôi thiên tài nát rượu, gặp phải bao điều nhiêu khê; vì vậy: “Ở nhờ ngoài garage, không có trợ cấp thất nghiệp, cũng không trợ cấp bệnh tật... e rằng có nằm ngay giữa rừng hoa và nghe một triệu con chim oanh hót, Lý Bạch thời nay cũng không thể có hứng thú mà sáng tác được lấy một bài thơ” Rồi ông kết luận: “Than ôi! thế thì thiên tài Lý Bạch chưa kịp lóe lên trên nền trời thi ca Trung Quốc đã vội tắt ngủm ngay mất rồi, còn đâu!” May thay cho Lý Bạch, nếu có đầu thai lại ở thiên đàng hạ giới nầy thì cũng than thân “sinh bất phùng thời”, nếu gặp phải ông bạn thân Ðỗ Phủ, không thể nào có được áng thơ tuyệt tác để lưu truyền hậu thế. Vương Triều nhà Ðường ở Trung Hoa từ Cao Tổ (818-627) đến Ai Ðế (904-9070 kéo dài gần ba thế kỷ, trong đó có Võ Tắc Thiên (624-725) thống trị đất nước (684-690) lấy quốc hiệu là Chu. Trong thời đại nầy được đánh dấu là thời cực thịnh của thi ca Trung Hoa, với những thiên tài lỗi lạc trên văn đàn quốc tế. “Thi Phật Vương Duy, Thi Tiên Lý Bạch, Thi Thánh Ðỗ Phủ, Thi Quỷ Lý Hạ đều sinh ra vào thời Trung Ðường ở thế kỷ thứ VIII. Bốn thiên tài Phật Tiên Thánh Quỷ cùng tụ hội nhau trong một giai đoạn hoàng kim của thơ ca Trung Quốc. Thế mà, Phật Tiên Thánh Quỷ đều giống nhau: rượu. Thi hào Lý Bạch (701-762) và Ðỗ Phủ (712-770), nghe tiếng, trọng tài hoa, gặp nhau ở Tràng An, trở thành “tri kỷ với rượu và thơ”. Lý Bạch được may mắn hơn vì trải qua thời gian được sống ở cung đình, tuy được ân sủng nhưng với tâm hồn phóng khoáng, thanh liêm nên ghét cảnh nịnh nọt, bèn treo áo từ quan, ngao du sơn thủy. Rồi một đêm trăng, với rượu với thơ trên chiếc thuyền lặng lờ giữa sông hồ, thấy bóng Hằng Nga thoáng hiện, nhoài người ra ôm bóng, ngã xuống dòng sông, thành người thiên cổ. Ðổ Phủ suốt cuộc đời lận đận khổ cực, nhờ Nghiêm Vũ mến tài vận động làm “công chức hạng bét” ở Tứ Xuyên được bảy năm, không nuôi nỗi vợ con, chán đời, vào chùa trên núi Hoàng Sơn nương náu qua ngày. Ðược viên quan mến tài, chiêu đãi rượu thịt, nhà thơ bị bội thực, qua đời. Theo Lý Dương Băng thì Lý Bạch sáng tác khoảng hai vạn bài nhưng ngày nay được lưu truyền khoảng một ngàn bài, Ðỗ Phủ với số lượng ít hơn, khoảng vài trăm bài lưu lại cho hậu thế. Tương truyền cho rằng hai nhà thơ nầy, rượu càng vào thì ý thơ càng tuyệt vời, linh động... Nhà thơ Nguyễn Du khi đi sứ Trung Quốc, đến viếng mộ thi nhân và lưu lại mấy câu thơ: “Thiên cổ văn chương thiên cổ sư Bình sinh bội phục bất thường li” (Lỗi Dương Ðỗ Thiếu Lăng Mộ) (Nghìn thưở văn chương đúng bậc thầy Trọn đời khâm phục dám đơn sai) Trong bài “Tài Tử Ða Cùng Phú” nhà thơ Cao Bá Quát bày tỏ: “Lúc bầu rượu dốc nghiêng non nước lại, Chén tiêu đàm mời mọc trích tiên. Hóng túi thơ nong hết gió trăng vào, Cơn xướng họa hẹn hò Lão Ðỗ”. Lý Bạch có rất nhiều bài thơ ca ngợi với men nồng điển hình như: Ðối Tửu “Khuyến quân mạc cự bôi (Khuyên anh chớ từ chối chén rượu này) Xuân phong tiếu nhân lai (Gió xuân thổi đến cười cợt người ta đấy) Ðào lý như cựu thức (Ðào mận như quen biết nhau sẵn) Khuynh hoa hướng ngã khai (Nghiêng hoa về phía ta mà nở) Lưu oanh đề bích thụ (Con oanh chuyền hót trên cây biếc) Minh nguyệt khuy kim lôi (Vầng trăng sáng ghé vào chén vàng) Tạc lai chu nhan tử (Hôm qua còn là kẻ má hồng) Kim nhật bạch phát thôi (Hôm nay tóc bạc đã giục đến) Cúc sinh Thạch Hổ điện (Cây gai mọc trong điện Phục Hổ) Lộc tẩu Cô Tô đài (Loài hươu chạy ở đài Cô Tô) Tự cổ đế vương trạch (Chỗ ở của vua chúa từ xưa) Thành khuyết bế hoàng ai (Thành quách đã phủ kín lớp bụi vàng) Quân nhược bất ẩm tửu (Nếu như anh không uống rượu) Tích nhân an tại tai?” (Hỏi xem người xưa nay còn ở đâu nào?) Bài thơ Tương Tiến Tửu được đánh giá là một trong những tuyệt tác của Lý Bạch: “Quân bất kiến Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai, Bôn lưu đáo hải bất phục hồi! ...... Chung cổ soạn ngọc bất túc quý, Ðản nguyện trường túy bất nguyện tinh Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch, Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh. Trần Vương tích thời yến Bình Lạc, Ðẩu tửu thập thiên tứ hoan hước. Chủ nhân hà vi ngôn thiểu tiền, Kính tu cô thủ đối quân chước. Ngũ hoa mã, Thiên kim cừu, Hô nhi tương xuất hoán mỹ tửu, Dữ nhĩ đồng tiêu vạn cổ sầu”. Bản dịch của Trần Trọng Kim: Cùng Uống Rượu “Anh chẳng thấy Hoàng Hà nước nọ, Tự trên trời chảy đổ ra khơi. Ra khơi thôi thế là thôi, Về nguồn trở lại có nguồn nào đâu. ... Quý gì soạn ngọc cổ chung, Muốn say say mãi tỉnh không thú gì, Bao hiền thánh xưa kia lặng lẽ Chỉ anh say tiếng để đời đời, Trần-vương, Bình-lạc mua vui Mười ngàn đẩu rượu chơi bời thỏa thuê. Chủ ông hỡi, chớ e tiền ít. Mua rượu về chén tít cùng ta. Cừu thiên kim, ngựa ngũ hoa, Ðem đi đổi rượu, khề khà uống chơi. Sầu đâu dằng dặc muôn đời”. Nhà thơ Lý Hạ cũng lưu lại thế gian bài Tương Tiến Tửu: “Lưu ly chung Hổ phách nùng Tiểu tao tửu tích trân châu hồng Phanh long, bào phượng ngọc chi khấp La vi tú mạc vi xuân phong Suy long địch, kích đà cổ Hạo xỉ ca, tế yêu vũ Huống thị thanh xuân nhật tương mộ Ðào hoa loạn lạc như hồng vũ Khuyến quân chung nhật mính đính túy Tửu bất đáo Lưu Linh phần thượng thổ” Bản dịch của Huỳnh Ngọc Chiến: Mời Uống Rượu “Chén lưu ly Rượu ngon nồng Thùng rượu tuôn giọt trân châu hồng Giết rồng nướng phụng mỡ khóc nấc Màn là trướng vũ vây xuân phong Thổi sáo rồng, vỗ trống lụa Cùng hát lên Eo thon múa Huống hồ tuổi xuân đang tàn úa Hoa đào rơi loạn mưa tua tủa Mời anh suốt ngày say mệt mê Ðừng mong rượu tưới Lưu Linh mộ”. * Lưu Linh: tự là Bá Luân, người thời Ðông Tấn, nổi tiếng ưa thích uống rượu làm thơ. Tính tình hào phóng, sống bất cần đời. Ông ca ngợi hình ảnh uống rượu qua bài thơ Tửu Ðức Tụng. Trong tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc có câu: “Cờ tiên rượu thánh ai đang, Lưu Linh, Ðế Thích là làng tri âm” Từ danh từ riêng được trở thành từ chung, Lưu Linh thường được dùng để chỉ những người uống rượu như từ tửu đồ. Ngoài bài Xuân Nhật Túy Khởi Ngôn Chí, bài Xuân Nhật Ðộc Chước của Lý Bạch tỏ bày tâm sự: “Xuân phong phiến thục khí Thủy mộc vinh xuân huy Bách nhật chiếu lục thảo Lạc hoa tán thả phi Cô vân hoàn không sơn Chúng điểu các dĩ qui Bỉ vật giai hữu thác Ngô sinh độc vô y Ðối thử thạch thượng nguyệt Trường túy ca phương phi” Bản dịch của Trần Trọng Kim: Ngày Xuân Uống Rượu Một Mình “Gió đông khi thổi huyên hòa, Nước cây tươi đẹp, đậm đà nắng xuân. Màu hương sắc cỏ đượm nhuần, Hoa tàn cành rữa rụng dần bay tung. Ðám mây về núi thung dung, Chim bay về tổ, đều cùng thảnh thơi. Vật kia y thác có nơi, Thân ta riêng chịu cảnh đời lẻ loi. Ngắm trăn trên đá bồi hồi, Rượu rồi say tít, hát bài phương phi”. Ðổ Phủ luôn luôn mang tâm trạng u uẩn, mượn rượu giải sầu nhưng ít bạt mạng hơn Lý Bạch, hoàn cảnh gia đình trong cơn bỉ cực được thể hiện qua vài thơ tiêu biểu: Khách Chí “Xá nam xá bắc giai xuân thủy, Ðản kiến quần âu nhật nhật lai. Hoa kiến bất tằng duyên khách tảo, Bồng môn kim thủy vị quân khai. Bàn tôn thị viễn vô kiêm vị, Tôn tửu gia bần chỉ cựu phôi. Khẳng dữ lăng ông tương đối ẩm, Cách ly hô thủ tận dư bôi” . Bản dịch của Trần Trọng San: Khách Ðến “Nước xuân đầy rẫy bắc nam; Ngày ngày âu vẫn thường sang chơi nhà. Chưa vì khách quét lối hoa, Cửa bồng nay mới mở ra vì người. Chợ xa thiếu vị dâng mời; Nhà nghèo; chỉ có rượu ôi lâu ngày. Với ông hàng xóm cùng say, Gọi đem hết rượu ra ngay bên rào”. Trong Khúc Giang Kỳ có ba bài, trong đó bài số II: “Triều hồi nhật nhật điển xuân y Mỗi nhật giang đầu tận túy quy Tửu trái tầm thường hành xứ hữu Nhân sinh thất thập cổ lai hy Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện Ðiểm thủy thanh đình khoản khoản phi Truyền ngữ phong quang cộng lưu chuyển Tạm thời tương tống mạc tương vi”. Bản dịch của Tản Ðà: Sông Khúc “Khỏi bệ vua ra cố áo hoài Bến sông say khướt, tối lần mai Nợ tiền mua rượu đâu không thế ? Sống bảy mươi năm đã mấy người ? Bươm bướm luồn hoa phơ phất lượn Chuồn chuồn rởn nước lửng lơ chơi Nhắn cho quang cảnh thường thay đổi Tạm chút chơi xuân kẻo nữa hoài”. (Câu “Nhân sinh thất thập cổ lai hy” được lưu truyền dài dài phát xuất từ dòng thơ của Ðỗ Phủ) Bài thơ Bất Kiến nói lên tấm lòng của thi nhân đối với bằng hữu: “Bất kiến Lý sinh cửu, Dương cuồng chân khả ai. Thế nhân giai dục sát, Ngô ý độc lân tài. Mẫn tiệp thi thiên thủ, Phiêu linh tửu nhất bôi. Khuông sơn độc thu xứ, Ðầu bạch hảo qui lai”. Bản dịch của Trần Trọng San: Không Gặp “Lâu rồi không gặp Lý sinh, Giả điên vờ dại, cho mình xót ai. Giết đi là ý người đời, Ngậm ngùi riêng chỉ mình tôi mến tài . Lẹ mau thơ viết ngàn bài; Bây giờ một chén nổi trôi bụi trần. Nơi xưa đọc sách Khuông Sơn, Mái đầu bạc trắng, cố nhân hãy về”! Bài thơ Lạc Nhật được sáng tác sau thời gian thất nghiệp: Lạc nhật tại liêm câu (Bóng mặt trời đã ngang bức mành) Khê biên xuân sự u (Bên khe, vẻ xuân vắng lặng) Phương phi duyên ngạn phố (Cỏ thơm đầy vườn bên bờ sông) Tiều thoán ỷ than chu (Người đốn củi nấu nướng trên thuyền cạnh thác) Trác tước tranh chi trụy (Chim sẻ mổ nhau giành cành rơi xuống) Phi trùng mãn viện du (Côn trùng bay chơi khắp sân) Trọc giao thùy tạo nhử ? (Rượu đục ai chế ra mày ?) Nhất chước tán thiên ưu (Uống một cuộc tan hết nghìn mối lo âu) Chứng kiến hình ảnh từ Ðường Minh Hoàng và Dương Quý Phi sống trụy lạc, xa hoa... quần thần nịnh nọt, bóc lột dân chúng đói khổ, An Lộc Sơn âm mưu phản loạn; trên đường từ kinh đô về Phụng tiên, Ðỗ Phủ làm một mạch 100 câu thơ gồm 500 chữ, tuôn chảy theo nỗi lòng uẩn ức bấy nay. Trong đó có những câu nổi tiếng được người đời truyền tụng: “Chu môn tửu nhục xú Lộ hữu đống tử cốt Vinh khô chỉ xích dị Trù trướng nan tái thuật” (Cửa son rượu thịt ôi Ngoài đường đầy xác chết Sướng khổ cách gang tấc Quặn lòng không nói được) * Tình bạn giữa Thi Tiên Lý Bạch và Thi Thánh Ðỗ Phủ được dàn trải qua dòng thơ: Xuân Nhật Ước Lý Bạch của Ðỗ Phủ “Bạch dã thi vô địch , Phiêu nhiên tứ bất quần . Thanh tân Dữu khai phủ , Tuấn dật Bào tham quân . Vị bắc xuân thiên thụ , Giang đông nhật mộ vân . Hà thời nhất tôn tửu, Trùng dừ tế luân văn” . Bản dịch của Trần Trọng San: Ngày Xuân Nhớ Lý Bạch “Không có thơ nào hơn Lý Bạch ; Ý phơi phới nhẹ , chẳng ai bằng . Thanh Tân giống hệt Dữu Khai phủ , Tuấn dật như là Bào tham quân . Vị Bắc cây xuân trời chốn cũ , Giang đông mây vẫn bóng chiều tàn . Bao giờ rượu lại cùng nâng chén , Câu chuyện văn chương lại được bàn?”. Sau khi gặp nhau, cảm mến thi tài, Ðỗ Phủ viết bài thơ Tặng Lý Bạch: “Thu lai tương cố thượng phiêu bồng (Thu tới nhìn nhau còn như cỏ bồng xiêu dạt) Vị tựu đan sa quý Cát Hồng (Chưa luyện xong đan thẹn với Cát Hồng) Thống ẩm cuồng ca không độ nhật (Uống say khướt hát lung tung cho hết ngày) Phi dương bạt hộ vị thùy hùng?” (Ðã bướng lại ngông,vì ai mà làm anh hùng?) Ðể đáp lại tấm lòng của người bạn thơ, Lý Bạch phóng bút tặng Ðỗ Phủ bài Sa Khâu Thành Hạ Ký Ðỗ Phủ “Ngã lai cánh hà sự (Tôi đến đây nào có việc gì đâu) Cao ngọa Sa Khâu thành (Chỉ nằm khểnh ở thành Sa Khâu) Thành biên hữu cổ thụ (Bên thành có cây cổ thụ) Nhật tích liên thu thanh (Ngày đêm liên tiếp phát ra tiếng thu) Lỗ tửu bất khả túy (Rượu nước Lỗ uống không thể say) Tề ca không phục tình (Khúc hát nước Tề cũng chẳng hợp tình) Tư quân như Vấn thủy (Nhớ anh như dòng nước sông Vấn) Hạo đãng ký nam chinh” (Mênh mông gửi chảy về nam) Lý Bạch lớn hơn Ðổ Phủ 10 tuổi, địa vị trong xã hội tuy cách biệt nhưng trong tình văn nghệ, nể trọng nhau trong văn tài vì vậy khi mới gặp nhau, cả hai trở thành “đệ tử của Lưu Linh”. Lý Bạch tặng Ðổ Phủ trước khi chia tay trong bài Kim Lăng Tửu Tứ Lưu Biệt: “Phong suy liễu hoa mãn điếm hương, Ngô cơ áp tửu hoán khách thường. Kim Lăng tử đệ lai tương tống, Dục hành bất hành, các tận trường. Thỉnh quân thí vấn đông lưu thủy, Biệt ý dữ chi thùy đoản trường?” Bản dịch của Khương Hữu Dụng Quán ngạt ngào hương gió liễu bay, Cô hàng rượu đẹp ép người say. Kim Lăng bạn trẻ ra đưa tiễn, Kẻ ở người đi cạn chén đầy. Nhờ ai hỏi nước Trường Giang thử, Nước ấy tình kia ai vắn dài? Bên cạnh Lý Bạch và Ðỗ Phủ, Vương Duy (701-761) làm quan đến chức Thượng Thư Hữu Thừa, ba nhân vật nầy được người đời ban cho ba ngôi: Thiên, Ðịa, Nhân. Tuy vậy, ông nào cũng lấy rượu giao tình, bài Chước Tửu Dữ Bùi Ðịch của Vương Duy: “Chước tửu dữ quân quân tự khoan Nhân tình phiên túc tự ba lan Bạch thủ tương tri do án kiếm Chu môn tiên đạt tiếu đàn quan Thảo sắc toàn kinh tế vũ thấp Hoa chi dục động xuân phong hàn Thế sự phù vân hà túc vấn Bất như cao ngọa thả gia san”. Bản dịch của Ðông A: Rót Rượu Mời Bùi Ðịch Nâng chén mời anh anh tự khoan Tình người tráo trở sóng giồi lan Bạc đầu quen biết còn giương kiếm Phú quý thành công diễu bạn quèn Sắc cỏ toàn thường mưa móc đẫm Cành hoa khẽ động gió xuân hàn Mây trôi thế sự mong chi nữa Sao chẳng nằm dài lại được ăn. * Hãy tưởng tượng, thi hào họ Lý “tửu nhập ngôn xuất”, sơ sơ mỗi ly mỗi bài thơ, một xị bốn ly, cũng ngốn hết hàng nghìn chai, lục phủ ngũ tạng được ướp rượu phủ phê. Thấm thoát đã tròn 8 năm, nhớ lại hôm nào Phương Triều từ Minnesota về thăm Little Saigon cùng Lâm Tường Dũ, Nguyễn Ngọc Chấn và bỉ nhân. Ba ông bạn nầy có duyên với nhau từ xa xưa vì có ba bà vợ cùng trường cùng lớp, bỉ nhân thì sinh Trung rể Bắc nhưng cùng máu văn nghệ nên xem nhau như xưa. Phương Triều cảm hứng, nghêu ngao: Bằng Hữu “Ta lại về chỗ lặng Những chiếc lá cuối mùa bầm dập Dậy từng tiếng hát loài sâu Dồn dập hư vô trống mỏ sầu... Mà... Mai Vi Phúc tuốt gươm Triều Ðại Mạc Mà... Ngọc Hoài Phương già như đã trẻ lâu Lâm Tường Dũ mỏ dài hơn loài tiên điểu Lão học trò Nguyễn Ngọc Chấn học lại chữ ban đầu! ... Phạm Trọng Phúc, Nhật Ngân, Yên Lang soạn giả Soạn một lần trăm chuyện bể dâu! Chưa kịp hát, rụng răng vào đáy rượu Bịt lại răng vàng, há miệng cười lâu! Vương Trùng Dương thọc tay vào mộng Hái lại chùm thi ca thâm sâu Gặp Lý Bạch chào anh buổi sáng Hẹn lại nhà Ðỗ Phủ hứng mưa ngâu! ... Ta về Thành Cam nhậu trận đầu Dị nhân bằng hữu đều rụng râu!... Phương Triều - Thành Cam (Sau nầy Phương Triều tiếp tục sáng tác với nhiều khuôn mặt trong bài thơ Bằng Hữu) Vào thế kỷ thứ III, thời Xuân Thu - Tam Quốc, Quan Vân Trường, Lưu Bị, Trương Phi gặp nhau, uống máu thề nguyền. Ngày nay, ở đất nước văn minh, không thể bày trò đó được, nhậu “tiết canh vịt” bàn chuyện tào lao. Vả lại, Lâm Tường Dũ và Nguyễn Ngọc Chấn uống Coca Cola, làm sao Phương Triều và bỉ nhân chén tạc chén thù cho trọn?... Bạn ta về lại nơi xứ lạnh làm bài thơ uống rượu để đời và hẹn lúc gặp nhau. Trước khi đọc bài viết của Vĩnh Phúc, bỉ nhân đã tìm ra chân lý khi chọn bằng hữu chỉ biết nhậu nước ngọt để cho lòng mình thanh thản khi gặp đệ tử Lưu Linh. Khi đặt chân tị nạn trên mảnh đất Cờ Hoa, bỉ nhân chợt nhớ hai câu thơ của Cao Thích: “Mạc sầu tiền lộ vô tri kỷ Thiên hạ hà nhân bất thức quân” (Chớ buồn phía trước không tri kỷ Thiên hạ không người quen biết anh). Trải qua vài thập niên nay, bài Hồ Trường của Nguyễn Bá Trạc hầu như quen thuộc với dân nhậu mỗi khi cao hứng nghêu ngao đôi câu: “...Vỗ gươm mà hát, Nghiêng bầu mà hỏi Trời đất mang mang ai người tri kỷ Lại đây cùng ta cạn một hồ trường...” Nếu Lý Bạch có tái sinh, vẫn mê uống rượu, tìm mấy ông bạn không rượu, không hút thuốc để khỏi mang vạ vào thân. Vương Trùng Dương Đăng bài Giới Thiệu Tác Phẩm Lớp học tháng 9, 10 tại TVTC Tác giả: Thư Viện Toàn Cầu Print Email>>> Ghi danh lớp Dịch & Phong Thủy Sơ Cấp Hàm Thụ MIỄN PHÍ Khóa 8 <<< Ghi danh các lớp khác tại 714-210-8444. HỌC PHÍ TƯỢNG TRƯNG. Thời khóa biểu và dàn bài các lớp học có tại trường Thư Viện Toàn Cầu.
... Đọc toàn bài ...Đăng bài Hey! Brian Ðoàn! Tác giả: HuyPhương Print Email...Ở đây là xứ tự do, Brian Ðoàn có quyền làm những gì anh muốn, được cổ võ bao bọc bởi một đám nhỏ đồng dạng, hãnh tiến mình là người nghệ sĩ lớn của nước Mỹ tự do, Brian Ðoàn bắt đầu say mê quyền lực, quyền lực phát biểu. Nhưng trước mắt tôi, hey! Brian Ðoàn, đối với gia đình, anh chỉ là một thằng con bất hiếu, đối với cộng đồng anh là một kẻ bất nghĩa. Con diều bị bứt sợi dây mà từ đó nó mới có thể bay lên, sẽ không bay cao được đâu? ... Đọc toàn bài ... Đăng bài Có Nên Dùng Ngôn Ngữ của VC? Tác giả: Đào Văn Bình Print EmailCó điều rất lạ là cho dù chúng ta (Miền Nam) và cả Miền Bắc trước khi có Cộng Sản - cũng đã có "tiếng Việt trong sáng" đã học nó, đã sử dụng nó, đã gần gũi quen thuộc với nó. Bỗng dưng gần đây trên báo, đài phát thanh hoặc liên mạng toàn cầu lại xuất hiện một lọai ngôn ngữ bắt chước VC: Đó là dùng hai chữ Thông Tin để thay cho hai chữ Tin hoặc Tin Tức! ... Đọc toàn bài ... Đăng bài Xin một đóa hồng cho ngày Lễ Tình Nhân (Valentine's Day) Tác giả: Hồ Đinh Print EmailTình yêu là cái quái gì mà nhân loại xưa nay, từ các bậc đế vương, phi tần, quan quyền cao sang quý phái, cho tới những anh hùng liệt nữ ngất ngưỡng hiên ngang và ngay cả hàng thứ dân bình thường.. hầu như ai cũng bị tiếng sét con tim, làm cho lận đận lao đao, dở sống dở chết, thân bại danh liệt, khi đã lỡ vướng lụy vào lưới tình. Bao nhiêu bi kịch não lòng, buồn rầu tới độ phải chảy máu mắt đêm ngày, cũng chỉ vì yêu, ghen, thương, hận. ... Đọc toàn bài ... Đăng bài Mãi Mãi Yêu Em Tác giả: Việt Hải - Los Angeles Print Email"Nước mắt chỉ rơi cho tình yêu thủy chung và tuyệt đối" Jennette W. Robertson ... Đọc toàn bài ... Đăng bài Câu Chuyện Thầy Lang: Lái Xe An Toàn, Thân Thiện Tác giả: Bs Nguyễn Ý Đức Print EmailBạn có là người lái xe hơi an toàn và thân thiện không? Xin áp dụng những đề nghị sau đây để trở nên người lái xe lịch sự. ... Đọc toàn bài ... Đăng bài Huyền Thoại về “Nàng Thơ T.T.Kh.” chỉ là giả tạo. - Nguyễn Thạch Kiên, Thi Nhân Đấu Tranh Trong Lãn Tác giả: Tạp ghi của QUỐC NAM Print EmailMột buổi tối chớm đông, những sợi mưa tuyết giăng trắng khung trời Cao Nguyên Tình Xanh Washington, tôi lái xe từ đài phát thanh SRBS trở lại nhà. Tôi chợt nghe tiếng chị Nguyễn Thuý Phượng qua điện thoại "Bố tôi vừa mất sáng nay". Lập tức, nỗi buồn nghẹn lại trong tâm hồn tôi. Chị Phượng là trưởng nữ của nhà văn, nhà thơ, nhà báo lão thành Nguyễn Thạch Kiên. Hôm đó là ngày 13 tháng 12 năm 2008. Ông hưởng thọ 83 tuổi. ... Đọc toàn bài ... Đăng bài Thế Hệ Hai: Một Nan Đề của Chúng Ta Hôm Nay. Tác giả: Đỗ Văn Phúc Print EmailCuộc triển lãm “nghệ thuật” của nhóm trẻ VAALA bùng nổ và được dập tắt ngay đã cho thấy phản ứng nhậy bén và sự đồng tâm của các tổ chức, nhân sĩ người Việt hải ngoại. Đồng thời đã nổi bật lên sự tham gia của giới trẻ (Thanh Niên Cờ Vàng) có đầy đủ ý thức chính trị và lập trường minh bạch đối lại với một nhóm trẻ khác phản bội lại lý lịch của chính mình (FOB) . Hiện tượng phản bội thì thời nào cũng có, chế độ nào cũng có. ... Đọc toàn bài ... Đăng bài Vui Tết Được Sao Khi Sơn Hà Đang Nguy Khốn Trước Ách Đô Hộ Lần V của TÀU ĐỎ Tác giả: Mường Giang Print Email...Trong cơn sơn hà nguy biến, dân tộc lâm nguy, đồng bào cả nước và hải ngoại ai nấy đều chung căm hận, quyết chờ cơ hội thuận tiện để đồng đứng chung dưới lá cờ đại nghĩa, để đánh đuổi giặc Tàu ra khỏi Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Ðông, Biên Giới.. như tổ tiên ta ngày trước đã từng làm. Vì VN không phải là một nước nhỏ, dân Việt không phải là loại người khiếp hèn. Nhỏ hay hèn trước giặc Tàu phương Bắc, chỉ có đảng CSVN còn 80 triệu người Việt luôn khẳng định sức mạnh của mình, sẽ không bao giờ để cho Tàu đỏ hung hăng bá quyền nước lớn, khi đồng bào dành lại được quyền làm chủ nước trong tay CS. Ngày đó không xa và chắc chắn VN sẽ dành lại những phần đất của tổ tiên, bị VC dâng bán cho Tàu đỏ suốt mấy chục năm qua. ... Đọc toàn bài ... Đăng bài Chân Dung Người Chiến Sĩ Tác giả: Chuẩn Tướng TRẦN QUANG KHÔI Print EmailBài CHÂN DUNG NGƯỜI CHIẾN SĨ cũng đã được dịch ra Anh ngữ sẽ đăng trên trang nhà của TGB và sẽ được phổ biến rộng rãi trong dân chúng Mỹ. Đã gởi các bản sao đi: - TS Sorley - Nhà văn Jay Veith - Giáo sư TS Louis Leresche - Đại tá Raymond Battreall - Một số người Mỹ bạn của VNCH ... Đọc toàn bài ... Đăng bài
|
Bài mới ở Diễn Đàn |
|||||||||||||||||||||||||||||
