#1  
Old 09-16-2009, 05:27 AM
Hereami
Bảo Quốc Công Thần
 
Ngày gia nhập: Apr 2007
Bài đăng: 2,073
Bài đã viết trong Blog: 75
Định sẵn Tạp Ghi—Hereami

Cho Các Em Còn Ở Lại

"Bắt nó! Bắt nó!"

Hai gã Công An đang dồn hết sức mạnh lên đôi chân rắn chắc để lao tới trước như cặp ngựa đua có hạng của một trường đua có cả một bầy ngựa hung hăng đã rất nổi tiếng. Đám dân buôn thúng bán bưng “hành, chanh, tỏi, ớt” trên con phố đìu hiu này nhốn nháo, nhưng rồi liền đó, tất cả lại lặng lờ như nỗi hiu hắt thường ngày vây hãm triền miên những mảnh đời u ám bất hạnh của họ, tưởng như không còn gì có thể làm xao động được. "Ối, tưởng gì, có hai đứa nhỏ đi bươi đống rác mà làm như giặc tới không bằng," có tiếng xầm xì đầy hằn học. Giọng khàn đục của ông già bán vé số chen vào, “Có họ chưa đủ sao, cần gì phải thêm giặc nữa!” rồi ông cười khùng khục trong cổ họng.

Không mấy người kịp nhìn thấy hai đứa bé choeo choắt cũng đang gắng dồn hết sức mạnh—cái sức mạnh èo uột thảm thương hàng ngày của chúng lên đôi chân khẳng khiu đến độ lòng khòng lao vụt đi, luồn lách vòng vèo trong đám đông rồi mất dạng.

"Có thấy chúng nó chạy lối nào không?" Một trong hai gã Công An hổn hển.

Không một tiếng trả lời, nhưng rồi, "cặp ngựa thượng hạng" tiêu biểu của một giai cấp đầy quyền uy thế lực trong xã hội đương thời đó, cũng chẳng hỏi gì thêm vì chúng đã biết, có hỏi thêm mấy thì câu trả lời cũng chỉ là sự vắng lặng hững hờ thế thôi. Chúng vừa lau mồ hôi vừa thở.

"Đã bảo bắn đi mày chẳng chịu bắn. . ."

"Mẹ. . . bắn thế nào được, chúng chạy nhanh thế bắn thế đếch. . . nào được," rồi cả hai cùng nghêng ngang đi về phía cuối phố, miệng thì vẫn lầu bầu những lời dọa nạt.

Có tiếng khóc thút thít đằng sau gốc cây phía sau một cái quán đông người.

"Em rớt mất cái túi rồi. . . anh Hai ơi. . ." tiếng đứa bé gái.

"Mất thiệt rồi hả?" Thằng anh có vẻ thảng thốt kêu lên, nhưng rồi như vừa chợt nhớ ra điều gì đó vô cùng hệ trọng, nó vội an ủi, "Thây kệ, cho bà hú nó đi, bỏ đi em, mai mốt kiếm cái khác. . ."

"Em lượm được hai miếng nhôm, giờ mất ‘mẻ. . . cha’ nó rồi. . . Nhôm bán có tiền lắm đó anh Hai."

"Bộ mày muốn trở lại tìm hả?" Thằng anh có vẻ cáu kỉnh,"Bộ mày muốn cho tụi Công An nó bắn nát xương hả? Tai mày... bộ ‘đui’ sao không nghe hồi nãy tụi nó lên đạn rốp rốp sao?"

Rồi bất chợt như thấy tôi nghiệp cho đứa em mình, thằng anh bắt chước điệu bộ người lớn, ngửa mặt lên trời than vãn, "Hôm nay ngày gì ma xui xẻo quá, thiệt xui tận mạng đó. . . Cứ kiểu này hoài chắc phải ‘giải nghệ’ với tụi nó quá".

Con bé gái quẹt ngang nước mắt, "Có ngày nào mình không ‘đụng độ’ với Công An đâu. . ."

"Ờ há!" Rồi hai đứa phá lên cười thật hồn nhiên như chẳng hề có chuyện gì vừa mới xảy ra trước đó. Chúng nheo nheo mắt cùng nhìn ra con lộ bụi mù, hơi nóng đang hừng hực bốc lên ngoằn ngoèo, lung linh. Hè năm nay trời “trở bệnh,” nóng như chưa bao giờ nóng được như thế ở vùng Cao Nguyên nắng bụi mưa sình này.

"Nhớ," thằng anh gọi nhỏ. Con bé gái bước lại, dáng mệt mỏi."Mình nghỉ một chút để coi tụi Công An nó đi đâu đã... Đừng xớn xác, tụi nó bắn thiệt tình đó. Ông Ba nói mấy lần rồi bộ em không nghe hả? Cái gì hà... để coi, cái gì mà... của... thay người... gì gì đó. Chạy riết rồi mấy chữ ông Ba chỉ cho cũng rớt hết trơn hết trụi."

Con bé gật đầu. Thằng anh lần trong túi lấy ra một cọng thung buộc lại tóc cho em.

"Anh Hai nè," con Nhớ uể oải hỏi," Tại sao má kêu em là Nhớ, hả anh Hai?"

Thằng anh nuốt nước miếng đến hai ba lần như nhận xuống một cái gì đó đang vướng trong cổ họng, rồi mới nói, "À. . . à, theo bà Tám kể lại thì. . . hồi mất nước, ba mình bị bắt đi tù cải tạo, em còn trong bụng má. . . Má tội nghiệp cho ba, má khóc hoài, khi đẻ em má mới đặt tên là Nhớ đó."

"Còn anh, sao lại là Hận?"

"Khi ba bị Cộng Sản bắt đi, anh còn nhỏ chút hà, ba biểu má kêu anh là thằng Hận."

Im lặng một giây như suy nghĩ điều gì đó rồi con Nhớ bất ngờ hỏi, "Ba chết trước khi má đẻ em hả?"

"Ờ, ba chết trong tù, không biết tụi nó chôn ba ở đâu nữa? Nghe nói trại tù gì ở tuốt ngoài Bắc . . . nào đó, xa lắm; bà Tám kể cho anh nghe có một lần hà. . ."

"Còn má?"

Thằng Hận lại cố gắng nuốt nước miếng, giọng nó bất ngờ hơi run run, "Khi em sắp sửa thôi nôi. . . má đang ngồi bán lá chuối bên lề đường, bị tụi Công An lái xe dí đuổi, đụng nhằm má bể đầu, bà Tám nói. . . Thôi em đừng hỏi nữa. . . Coi trời đỡ nắng chưa?"

Nó giả vờ nhìn lên ngọn cây để con Nhớ không thấy đôi mắt đỏ hoe đã ướt nước mắt của nó. Không ai có thể tin được đó là một đứa bé trai mười một tuổi và em gái nó lên tám với tấm thân gầy còm, choắt choeo, khô đét; những chiếc xương nhô hẳn lên như không còn muốn nằm lại dưới lớp da đen cháy, khô khốc vì không còn sót lại bất cứ một chút dưỡng tố nào. Vậy mà chúng vẫn sống, vẫn biết hằng ngày mình phải làm gì để có thể sống được.

Anh em thằng Hận luồn lách đi giữa đám đông dưới cái nắng tàn khốc, ngột ngạt của buổi trưa hè “trở chứng,” mắt dáo dác đề phòng Công An. Trên hai cái đầu để trần, những cọng tóc vàng cháy khét nghẹt nằm rời rã, khô quắt, cứng đơ như muốn gãy vụn theo mỗi bước chân của chúng. Bỗng hai đứa cùng dừng lại trước một quán giải khát. Vẻ tò mò làm cho khuôn mặt chúng ngơ ngáo hẳn lên. Trên ghế, một đưa bé mũm mĩm với quần áo thật đẹp đang phụng phịu, "Ứ, không thèm, kem gì mà dở thế?"

"Ăn thêm đi con, kem ở quán này ngon nhất phố đấy!"

"Ứ thèm đâu," và thỏi kem bị cậu bé hất tung xuống đất.

Người mẹ nhìn sững cậu "quý tử" rồi dỗ dành, "Thôi mẹ đưa con về nha, về xem bố đi họp về chưa nào… cưng của mẹ."
Tiếng “nào” được kéo dài đủ làm rởn gai ốc người nghe, vì tất cả cái vẻ quê mùa, thiếu học đang tập “lột xác” còn nằm nguyên vẹn trong đó. Chiếc xe bóng loáng vút đi không quên để lại phía sau một đám bụi mù. Con Nhớ nhanh tay nhặt thỏi kem lên, nó phùng miệng thổi phù phù cho văng hết đất bám đầy thỏi kem. Nước miếng ứa ra từ kẽ chân răng làm con bé không thổi được nữa.

"Đưa anh thổi cho, em thổi yếu quá." Thằng Hận thổi thật mạnh, thổi thật nhanh vì nó biết chỉ một tích tắc nữa thôi, nước miếng nó cũng sẽ ứa ra và nó cũng sẽ chẳng thổi đươc.

"Công An tới!" Tiếng ai đó thét lên thật to.

Anh em thằng Hận giật thót người, tay chân rụng rời. Thỏi kem rơi tọt xuống lỗ cống.

"Chạy lối này Nhớ ơi, mau lên em. . ."

Hai đứa bé luồn lách như hai con chuột nhắt giữa đám dân buôn bán bên lề đường đang nhốn nháo lôi kéo thúng, mủng, quang, gánh. Vừa chạy con Nhớ vừa tiếc ngẩn ngơ, "Sao anh không núm chắc cục cà lem lại, anh Hai?"

Tiếng thằng Hận,"Uổng quá. . . mà kem còn dính trong tay anh nè, ráng chạy đi em, đừng để Công An bắt. . . Chạy ngõ này ra ngoài gò mả, anh cho em mút ngón tay anh. . ."

"Kem dính nhiều không anh Hai?"

"Nhiều. . . nhiều lắm. . . anh cho em mút ba ngón, anh mút hai ngón thôi. . ."
-Hereami-
********
Reply With Quote
  #2  
Old 09-20-2009, 02:57 AM
Hereami
Bảo Quốc Công Thần
 
Ngày gia nhập: Apr 2007
Bài đăng: 2,073
Bài đã viết trong Blog: 75
Định sẵn Tạp Ghi—Hereami -2

Chuyện Xóm Quê


Cũng có người gọi đó là xóm Quê, nhưng “dân chính gốc” lại quen gọi bằng cái tên thân thiết là xóm Gò Mả. Họ là những mảnh đời vỡ vụn tơi tả, từ tứ xứ hớt hải chạy tấp về đây; có người còn chưa kịp lau giọt nước mắt trào ra khi chiếc T.54 từ miền xa lạ nào đó đã luồn lách ủi sập cổng vào Dinh Độc Lập. Những “mái nhà” biến cải từ hang từ ổ làm bằng bất kỳ loại “vật liệu” nào trong những lúc bương chải họ kiếm được, chen chân với mồ mả của khu nghĩa địa hoang ngày xưa; người sống và người chết cùng chia nhau những hơi thở ngặt nghèo trong thời buổi khó khăn. Nếu sau này có nhà khảo cổ nào đó đào được những “di tích” xây dựng này, chắc cũng mù tịt, không biết đây là niên đại nào trong tiến trình phát triển của loài người. Gia tài lớn nhứt mà người xóm này tự hào là không có đến nửa mảnh giấy dính thân, kể xá chi đến tên gọi; nên họ gọi nhau bằng bất cứ cái tên nào họ thích, thường thì những cái tên có kèm theo “nghề nghiệp” đang làm cho dễ phân biệt, như bà Năm khoai mì, thím Tư bắp nướng, con Sáu phụ hồ, thằng Tám đẩy xe...Chỉ có một người trong xóm có cái tên rất riêng và nghe cũng rất “sang,” ông Ba Xà Càng là tên của ông già bán vé số có giọng nói khàn đục nhứt xóm.

Chẳng ai biết vì sao ông lại có cái tên “hay” như vậy; vài người đoán vu vơ có lẽ ngày xưa ông ở xa cảng gì đó tận miệt Sài Gòn, rồi trôi dạt về đây. Chưa một ai trong xóm nghe ông mở miệng nói về vợ con hay quê quán. Chắc ông cũng chưa già lắm đâu, nhưng hình như nỗi đau đớn nào đó đã giết chết con người thật của ông rối, còn lại đầy là một nửa mảnh hồn đầy thương tích bám víu vào cái xác vật vờ đợi trả tiếp cho hết những ngày oan nghiệt. Ông Ba là người tốt bụng và là “rường cột” của xóm bởi ông hiểu biết nhiều. Trong xóm có chuyện lớn chuyện nhỏ gì cũng bàn nhau “để hỏi ông Ba Xà Càng coi,” và bao giờ cũng được ông bày biểu cho, làm ai cũng vui. Với ông thì xóm này phải kêu là xóm so le; có người vui miệng hỏi, “Sao vậy ông Ba?” “Bay coi…” cái giọng khàn khàn cố cựu của ông, “nhà nào cũng thằng chồng thì đi tù cải tạo mút chỉ cà tha, để mình con vợ bù lăn bù lóc kiếm sống nuôi con, vậy không so le sao…” rồi ông lại cười khùng khục trong cổ họng. Dân xóm cũng kính nể ông vì ông là ngưới duy nhứt có đủ uy tín để các đầu nậu vé số giao số cho bán, cuối ngày mới thu tiền mà không phải “đặt cọc” bằng giấy chứng minh nhân dân, loại giấy tùy thân mà từ thuở đó tới nay dân xóm Gò Mả chưa bao giờ nhìn thấy mặt nó.

Trên con phố hiu hắt mà ngày ngày ông Ba có mặt để kiếm sống, biết bao cảnh đời đã nhiếu lần làm ông sững người. Như con nhỏ gái bán đậu hũ miếng hồi nãy, nhằm ngày nó bịnh hay sao mà mặt mày xanh lơ xanh léc. Nó vừa đặt cái thúng, bên trên có cái mẹt bày bảy tám miếng đậu khuôn ngay sát “bàn” bán vé số của ông thì đám Công An và Thuế Vụ ập tới. Mọi người nhốn nháo chạy tán loạn như gà thấy cáo; con nhỏ lính quýnh không chạy kịp liền bị một gã Công An nắm tóc giựt té nhào, tiện chân, gã đá văng luôn mẹt đậu. Con nhỏ khóc ngất. Gã Thuế Vụ xông tới bóp cổ, “ ‘Nại’ còn già mồm à…” Mảnh thân còm cõi của con nhỏ bật lên, co giật vì ngạt thở. Mọi người láo nháo hẳn lên. Ông Ba đứng bật dậy, lừng lững bước tới đưa tay đẩy nhẹ gã trai qua một bên rồi đỡ con nhỏ ngồi lên. Bây giờ mọi người mới lao xao ồ lên như vừa thán phục, vừa kinh ngạc trước vẻ thản nhiên của ông, làm bọn chúng cũng ngớ ra vài giây rồi bỏ đi không quên hăm dọa vài câu theo đúng chính sách. Ông Ba không nói một lời nào từ nãy đến giờ và trở lại bàn vé số của mình, mặt ông như tạc vào thạch cao, hai mắt nhìn vào cõi nào đó sâu hút, thường ngày đã mờ đục, giờ lại càng đục thêm.

Hôm nay chợ ế ẩm vì “chúng” lùng sục dữ quá, chẳng ai còn hồn vía nào mà buôn với bán, cứ nơm nớp mắt trước mắt sau để kịp bê thúng bê mẹt, lôi quang lôi gánh mà chạy; thà là thân này bị đá, bị đạp, chứ tất cả sản nghiệp hôm nay quang gánh thúng mủng mà mất thì đúng là thêm đại họa. Ông Ba hơi ngạc nhiên trước sự bỏ đi quá dễ dàng của đám Công An, Thuế Vụ lùa chợ hồi nãy; thông thường thì “đối tượng” sẽ phải nghe một mớ hẩu lốn những câu xỉ vả hỗn xược, kể cả những khẩu hiệu được trích ra từ các nghị quyết có kèm lời chửi rủa để người nghe thêm chú ý, sau đó là nộp tiền phạt, hoặc bị còng tay và cùng với “tang vật” hốt lên xe đưa về đồn Công An chờ “trên xử lý.” Con nhỏ gái bán đậu miếng như chưa hết kinh hoàng, nó ngồi dúm dó nép vào ông Ba Xà Càng, vừa thút thít khóc vừa lau rửa lại những miếng đậu lấm lem; chốc chốc nó lại nấc lên vì những miếng đậu bể nát. Ông Ba tội nghiệp cho nó, “Đừng khóc nữa con, lo sửa lại hàng họ mà bán đi... Bày ra ít thôi, dú bớt đi đặng có gì còn chạy kịp... không bị cụt vốn...” Rồi ông xếp lại những tập vé số còn dầy cộm đem trả chủ cái và tính toán tiền bạc. Hôm nay ông nghỉ sớm hơn thường bữa. Cái dáng gầy gò lêu khêu của ông như dài thêm ra và nhòe đi thật mau vào đám bụi mù mịt trên con đường đất đá lởm chởm, ngoằn ngòeo hun hút dẫn vào xóm Gò Mả. Chiều rừng núi Cao Nguyên bao giờ cũng thật buồn; nhưng chiều nay, ông Ba thấy buồn nhiều hơn. Những tia nắng thoi thóp cuối ngày nhòa nhạt vô tình vào cõi hoang vu đầy bí hiểm; vài con chim rừng vội vã bay tìm tổ, chẳng buồn kêu lên một tiếng; hình như chúng cũng e sợ cho tiếng kêu lạc lõng không thể vượt qua được những ngọn núi đầy hiểm trở đang chắn ngang.

Kể từ hôm đó, dân trong xóm xầm xì truyền tai nhau một tin vui, “Ông Ba biết mần thơ.” Đầu tiên là thằng Tám đẩy xe, “Mấy bà cứ ầu ơ dí dầu hoài, chính tai tui nghe mà...” Rồi nó kể đầu đuôi, cái vụ con nhỏ bán đậu hũ miếng bị bóp cổ ở chợ chồm hổm, nó có nghe nói lại. Đêm đó nó về rất khuya, trời có mưa lất phất; chừng nhìn về hướng cuối xóm thấy có đốm lửa lập lòe, nó giựt mình tưởng là ma lồng đèn. Ở những nghĩa địa hoang mỗi khi mưa lùi xùi như vầy, thường hay có ma lồng đèn lúc xanh lúc đỏ bay đi tắm mưa lắm. Từ cái ngày xa lắc xa lơ còn ở truồng chạy ngoài mưa nó đã được kể cho nghe như vậy, và đến bây giờ vẫn tin như vậy. Nhưng không phải, đó là hướng chòi của ông Ba Xà Càng mà. Đúng rồi, ông Ba còn thức; ổng ngồi thu lu tựa lưng vào cái gốc cây bị sét đánh chết hồi năm kia. Ông Ba nhận ra thằng Tám,

“Về khuya dữ con?”

“Ủa, ông Ba còn thức hả? Trời mưa mà ông Ba, ướt hết sao?”

“Ờ, ‘nực’ quá, tao ngồi chút cho mát,” rồi bất ngờ, bằng cái giọng khàn đục hơn thường ngày, ông “rè rè ngâm”

Công An, Thuế Vụ, Kiểm Lâm
Trong ba thằng đó phải đâm thằng nào?
Nhân dân đứng dậy hô hào:
Trong ba thằng đó, thằng nào cũng đâm.


Ông cười khùng khục trong cổ họng rồi ho lên sù sụ, nãy giờ quên cả bụm tay che điếu thuốc đã bị mưa làm ướt lụi.

Không ai thắc mắc “thơ” đó do ai làm, chỉ biết ông Ba Xà Càng đọc ra là vui rồi. Họ truyền tai nhau thật mau, không chỉ trong xóm Gò Mả này mà cả ngoài con phố đìu hiu kia nữa. Thật bất ngờ cho họ, từ lời “thơ” của ông Ba làm họ chợt nhớ ra, không phải chỉ có hai mà là ba. Hàng ngày miệt mài la lết kiếm sống trên mảnh đất chợ nên họ chỉ nhớ có công an và thuế vụ và gần như quên mất kiểm lâm. Những mảnh đời xác xơ bám vào rừng kiếm sống đều không thoát khỏi những tai ương từ cái “kiềng” thứ ba này; cứ nhìn mấy đứa nhỏ bán củi, bán than rồi sẽ hiểu. Đường xa không còn được tính bằng những bước chân lầm lũi, len lén, bởi chúng không bao giờ hỏi nhau “đường bao xa,” mà chỉ hỏi, “nhiều kiểm lâm không?” Càng đi xa vào tận bìa núi càng tốt, nơi xa lắc xa lơ đó thì những hầm than mới mong có ngày chin, những bó củi mới mong có ngày đem bán. Rồi vận chuyển ra tới chợ là cả một kỳ công, một thách đố không nhân nhượng giữa “lành” và “ác” mà “dân trong nghề” vẫn thầm thì kể cho nhau nghe như rao truyền những lời kinh huyền bí; phải biết chính xác giờ nào kiểm lâm còn ở chốt, giờ nào chúng đã về; phải biết thay đổi đường đi và giờ giấc như thế nào. Chặp chiều vào rừng, cùng có nhau nhưng mỗi đứa mỗi hướng mà đi, rón rén “lên hàng” xong, kiếm chỗ ngủ vật ngủ vờ chờ tới nửa đêm thì di chuyển. Lúc vào hay ra đểu phải hiều rõ và nhớ kỹ những ám hiệu báo tin, nhất là khi có tin dữ, hôm nay giả tiếng con gì, chim hay thú; mỗi lần kêu mấy tiếng? Cái lạnh của núi rừng Cao Nguyên muôn thuở không hiền, lại càng không hiền với những đứa bé mười hai, mười bốn đang lầm lũi đẩy những bao than hay những bó củi trên những chiếc xe đạp thồ trong cái tăm tối mịt mùng của núi rừng và của chính cuộc đời chúng nó. Nhờ ông Ba mà họ nhớ lại hết. Họ đọc lầm thầm như lời kinh cầu mỗi khi những oan nghiệt đổ ập xuống mảnh đời tơi tả, hất đi những hột cơm hôi hẩm mà họ ngỡ sẽ kiếm được để đem về cho con cái. Họ vẫn đọc bằng những hơi thở nhiều khi đứt đoạn, nhiều khi thều thào gần như thoi thóp; chỉ có những giọt nước mắt của họ là nối nhau âm thầm chảy mãi không thôi...
-Hereami-
********
(5-2008)
Reply With Quote
  #3  
Old 09-27-2009, 03:43 AM
Hereami
Bảo Quốc Công Thần
 
Ngày gia nhập: Apr 2007
Bài đăng: 2,073
Bài đã viết trong Blog: 75
Định sẵn Tạp Ghi—Hereami -3

Đoạn Ghi Trong Lớp Học


Những ngày đang theo học với Thầy Quảng Đức, từng bài, từng chương, tôi vẫn được sự dìu dắt và giúp đỡ của các lớp đàn anh đàn chị mà tôi thích gọi một cách thân thiết là Sư Huynh Sư Tỷ. Trong số các Huynh Tỷ tôi rất kính mến đó, có một “vị” tuy là giòng dõi Hoàng Tộc miền đất Thần Kinh muôn đời thơ mộng, nhưng lại có cái tên rất thiết tha dân giã là “Khoait...”

Các bạn đừng phiền trách hay nài nỉ tôi nên viết rõ tên vị Sư Huynh ấy, vì sự kính trọng cách riêng, tôi không thể làm như thế được. Việc này mang ý nghĩa của một tập tục đã từng tồn tại khá lâu trong xã hội chúng ta ngày xưa. Mỗi giòng tộc, rồi mỗi làng xã đều có những cái tên của những bậc Trên Trước mà mọi người phải kiêng cữ không được nói, nếu không muốn bị quở trách hay phạt vạ vì xúc phạm đến những điều húy kỵ. Như trong giòng tộc nhà ai đó có ông cố, ông sơ hay ông sờ, ông sẩm gì đó có tên là Mít chẳng hạn, tất cả các con cháu nhiều đời không bao giờ được nói là quả mít, mà phải nói “trại” ra là “quả mịt” hay “quả mét” hoặc quả gì gì đó miễn là mọi người hiểu và không chạm đến điều phải kiêng kỵ. Trong phạm vi đất nước, lệ này càng nghiêm ngặt hơn, trở thành điều lệ hàng đầu gọi là trường quy trong mọi khoa thi do triều đình tổ chức để tuyển chọn hiền tài. Các sĩ tử nếu muốn được tận hưởng cảnh “ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau” trong ngày Vinh Quy Bái Tổ, để rồi có cơ hội ra làm quan phải tuyệt đối tránh phạm vào húy kỵ nhất là tên của Chư Vị trong Hoàng Tộc, nếu không, dù bài làm có là kiệt tác phẩm, dù văn chương có rung động cả trời mây, dù kinh sử có làu thông đến mấy cũng bị đánh rớt như nhà thơ Trần Tế Xương đã phải não nùng than thân,

“. . .Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy!”

Tôi dám nào có ý “thấy người sang bắt quàng làm họ,” nhưng quả tình Sư Huynh Khoait. . . của tôi không những là Hoàng Tộc, là gốc gác Thần Kinh, đã có danh xưng chính thức là Mệ, và ngay cả “hiền thê của Mệ” cũng được thân kính gọi là Mụ, mà còn được truyền tụng rộng rãi hầu như khắp năm châu bốn biển là rất đỗi... hiền. Ấy vậy mà chẳng hiểu vì sao vẫn có một số không phải là ít, trong lớp cũng như ngoài lóp, nhiều lần bóng gió xa gần tỏ ý nghi ngại với nhiều cách nói rất chải chuốt như, “mắt bồ câu, râu Từ Hải,” hoặc chơi chữ thật tài tình khi gọi là “Khoai Hiền.” Tôi cảm thấy băn khoăn quá đỗi trước tình cảnh này. Đã gọi Khoai mà còn kèm theo Hiền thì phạm vào hai điều không nên; thứ nhứt là dùng chữ trùng lặp như khi nói “hậu xét sau,” “ bổn phận sự,” “trách nhiệm vụ,” hoặc nói

“Nửa đêm giờ Tí canh ba
Vợ tôi con gái đàn bà nữ nhi.”


Thứ hai là có ẩn ý nhắc khéo rằng, “Mệ không hiền,” hoặc “Mệ chưa hiền,” hoặc gì gì nữa. . . tôi không dám suy nghĩ thêm, không dám tìm hiểu thêm, ôi chao. . . chóng mặt quá.

Nhưng thôi, ai hồ nghi tính hiền của Huynh Khoait… thì người đó mang tội, riêng tôi thì không. Là vì tôi luôn nghĩ rằng, đã thuộc họ Khoai thì tất cả đều HIỀN, dù là khoai lang, khoai mài, khoai mì, khoai môn, khoai mỡ, khoai sáp, khoai sọ, khoai tây, khoai tía, khoai từ; khoai Đài Loan, khoai Nhật Bản, khoai Thái Lan, khoai Trung Hoa, khoai Việt Nam. . . hay bất cứ nơi nào trên trái đất này trồng được, thì khoai cũng hiền cả; đến như khoai dại, khoai ngứa, khoai sùng hay khoai sượng cũng vẫn còn hiền! (Những ngày ba tôi tù tội trong trại tập trung cải tạo của “họ,” đã bao lần phải nuốt khoai sùng, khoai sượng, phải ăn liều cả khoai ngứa, khoai dại để cầm hơi mà vẫn còn sống, chỉ có điều ngày được thả về với gia đình, ông chỉ là một nắm bông “bay” là đà trên mặt đất!) Chúng ta còn được biết, bao nhiêu là văn nhân thi sĩ đã thành danh sáng chói khi ngợi ca những chuyện tình nơi thôn dã hiền như khoai như sắn; và những sáng tác phẩm chuyên chở đầy tình yêu có khoai có củ đó luôn được ưu ái đón nhận rộng rãi trong công chúng. Tình yêu tự nó đã thật hiền như nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thổ lộ, “Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ,” vậy mà cái hiền bao la vời vợi như thế đó của yêu thương cũng chỉ sánh ngang với cái hiền của khoai của sắn mà thôi. Đất nước đã trải qua mấy ngàn năm văn hiến, trong kho tàng văn chương bác học cũng như văn chương bình dân, chưa từng nghe ai nói hiền như cóc như ổi bao giờ.

Sau tính Hiền, sẽ chẳng thể nào là đủ nếu chúng ta không nói tới tính QUÝ của khoai. Quả đúng thế, khoai là loại quý hiếm vì trong thiên nhiên khoai thường dấu mình vào đất. Phàm giữa cuộc sống đời thường này, cái gì được cất dấu vào chỗ kín đáo thường là quý, nó luôn luôn cho người ta rất nhiều... cảm giác mỗi khi tiếp xúc; vàng bạc chẳng hạn, bom nguyên tử chẳng hạn, tình yêu vụng trộm chẳng hạn.

Những ngày còn ở quê nhà, tôi thường giúp ba tôi mỗi khi ông đào khoai. Trên vồng khoai, những dây khoai đã được cắt đoạn và phân loại, dây nào để trồng lại lứa sau, dây nào để cho heo ăn; rồi với cái cuốc chĩa ba răng, ông bảo tôi băm nhè nhẹ cho đất vồng tuần tự tơi ra từng chỗ. Ông “rà” khoai trong đất có khi bằng cuốc, nhưng thường là bằng tay. Ông sục bàn tay chai sạm khô queo vào mớ đất vừa được đánh tơi, cẩn thận mò mẫm từng dấu vết tìm đến chỗ củ khoai nằm. Mỗi khi tay ông chạm vào khoai, nhất là củ lớn, ánh mắt ông sáng ngời lên và như thoát hẳn ra ngòai mà nhảy múa quanh hai hố mắt thường ngày vẫn lờ đờ; những nếp nhăn trên khuôn mặt cằn khô như đang rung lên, co dãn liên hồi theo từng xăng-ti-mét chuyển dịch của củ khoai đang được bàn tay rất quê mùa của ông “dìu đi” trong đất. Hoạt cảnh đó luôn luôn tăng thêm sinh động theo những giọt mồ hôi thánh thót rơi như khúc nhạc của đất trời ngợi ca tính quý của khoai.

Và hơn thế nữa, tính quý của khoai cũng đã từng được cả một “triều đại của những đỉnh cao trí tuệ” hết lòng tôn vinh. Nhớ lại cái thuở nhiều tỉnh thành trên đất nước Việt Nam không dưng bị trói túm lại với nhau như gà toi, như lợn què, làm xuất hiện nhiều cái tên ngồ ngộ như tên mấy anh nghệ sỹ kém tài, có tuổi mà chẳng có tên vì càng diễn tuổi càng lên tên thì không có; nào là Cao Bắc Lạng, Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh rồi Bình Trị Thiên, Gia Lai Công Tum, Đà Lạt Lâm Đồng v. . . v. . . Vào cái thuở ấy đấy, từ đầu thôn tới cuối xóm, từ góc chợ tới hẻm phố, đi đâu mà chả nghe ra rả câu “thần chú” này:

“Quanh năm no đủ nhờ củ với khoai,
Không mắc nợ ai nhờ khoai với củ.”


Chỉ buồn cười, trong khi trên sàn, người diễn đang phùng mang vừa oang oang kêu gào, vừa gằn giọng răn đe đến mặt đỏ như vang thì dưới đất, người dân ôm bụng nhìn lên mà mặt vàng như nghệ.

Ngoài hai đức tính Hiền và Quý, khoai còn được KÍNH đặc biệt trong dân gian. Có rất nhiều thứ, người Việt chúng ta thích nói theo cách riêng của địa phương mình, chẳng hạn như miền Nam quen nói là trái bưởi, miền Bắc lại gọi là quả bòng; miền Nam nói là xe lửa, miền Bắc gọi là tàu hỏa; miền Nam nói là đồng cắc, miền Bắc gọi là đồng hào, vài nơi của miền Trung lại gọi là đồng. . . kéc; có điều dù là bưởi hay bòng, lửa hay hỏa, cắc hay hào, người nghe cũng hiểu được khá dễ dàng.

Nhưng đặc biệt với khoai thì không hề có sự phân chia theo địa phương trong cách gọi; khắp nước từ Nam Quan cho tới Cà Mau, từ miền núi cho tới đồng bằng, từ nông thôn cho tới thành thị, ai ai cũng. . . âu yếm gọi là Củ Khoai, tuy rằng thanh âm có hơi biến đổi tùy vào nét đặc thù trong chất giọng của mỗi miền. Đại lược xã hội chúng ta có ba giọng tượng trưng cho ba miền, giọng Bắc lấy Hà nội làm biểu tượng nên gọi là giọng Hà nội; tương tự, giọng Trung là Huế và giọng Nam là Sài Gòn. Bây giờ kính mời các vị và các bạn nào có tấm lòng, hãy cùng tôi đến Huế, nhưng không phải đến Huế để đứng nhìn từng loáng trăng đang vỡ theo nhịp khua động mái chèo của “o” lái đò mà hỏi vu vơ

“. . .Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?”

(Đây Thôn Vỹ Dạ—Hàn Mặc Tử)

Đừng lãng phí “đất đai” của Thư Viện nhiều như thế. Chúng ta chỉ đến để lắng nghe người dân đất Thân Kinh nói. Từ trong hòang thành ra ngoài dân dã, từ bậc trí thức đến đám bình dân, từ cậu thanh niên đến cô thiếu nữ, từ những học trò đến người lao động, từ em bé cho đến cụ già, dù là Ngự Bình, Nam Giao hay Vân Lâu, Vỹ Dạ, muôn nơi muôn chỗ, đâu đâu cũng vậy, mỗi khi thấy khoai mọi người đều thân thiết gọi là “CỤ KHOAI.” Đố bạn chỉ ra được một người Huế nào không gọi khoai bằng Cụ?

Chao ơi, được nâng lên hàng Cụ thì quả là bậc “nhân sinh thất thập cổ lai hy”* rồi, ngày xưa mỗi lần ra đình làng họp hành, tế lễ hẳn là phải được rước ngồi chiếu trên, lúc ở nhà thì chễm chệ vuốt râu cho con cháu lạy sống trong ngày mừng thượng thọ.

Khoai, quả là Hiền, Quý, Kính vậy thay!
________
* Thơ Đỗ Phủ

-Hereami-
********
(8-2008)
Reply With Quote
  #4  
Old 10-02-2009, 03:37 PM
Hereami
Bảo Quốc Công Thần
 
Ngày gia nhập: Apr 2007
Bài đăng: 2,073
Bài đã viết trong Blog: 75
Định sẵn Tạp Ghi—Hereami

Trang Nhật Ký Ghi Vội Của Hà

Ngày. . . tháng. . . năm 19. . .

Nếu trong đời người có một ngày đáng nhớ nhất, với tôi, ngày ấy xin được ghi vào cuối tháng Mười, 19..., ngày tôi rời bỏ Quê Hương!

Chưa một lần, đúng là chưa bao giờ tôi dám nghĩ rằng, có một ngày nào đó, tôi phải xa Quê Hương Việt Nam yêu dấu, nơi tôi đã được sanh ra và lớn lên với những ngày buồn thảm của đất nước vì chiến tranh, vì nghèo đói, vì hận thù dai dẳng triền miên; nhưng tôi yêu vô cùng chuỗi ngày buồn thảm đó. Đau lòng biết mấy khi chỉ trong những ngày buồn thảm đó, tôi mới được nghe ca dao qua tiếng ru hời của những bà Mẹ khốn khổ, một đời nhọc nhằn cơ cực, hết hy sinh cho chồng rồi lại cho con; chỉ trong những ngày buồn thảm đó, tôi mới cảm nhận được sự mênh mông vời vợi của bốn ngàn năm văn hiến; và cũng chính trong những ngày oan nghiệt đó, tôi đã hiểu được những trang sử chống ngoại xâm của Tổ Tiên oanh liệt biết là dường nào. Tôi xót xa nhưng vô cùng tự hào khi Tổ Tiên đã tiêu tốn hơn một ngàn năm chống sự xâm lăng của người Tàu; gần một trăm năm chống sự đô hộ của người Pháp, và hơn hai mươi năm đương đầu chặn bước chân bành trướng của Cộng Sản, cứu cho hành tinh này khỏi bị dầy xéo bởi một chủ nghĩa tàn độc và phi nhân.

Cha bác tôi hàng hàng lớp lớp, đã đứng hiên ngang từng phút từng giờ, nhìn thẳng vào kẻ thù trước mặt; không ngờ bị người bạn xô ngã từ phía sau lưng nên đành cắn răng nhìn Đất Nước rơi vào tay Cộng Sản. Đồng bào tôi đang phải chia nhau từng hơi thở thoi thóp của những ngày ảm đạm nhất trong lịch sử. Họ sống mà không dám nghĩ đến ngày mai vì ngày mai của họ thật là mịt mù và thật là đen tối trong thân phận của những kẻ đang bị lưu đày trên chính Quê Hương của mình. Tất cả những gì họ có “từ hôm qua đến hôm nay tới ngày mai” là do ý muốn của nhóm người cầm quyền tùy tiện “ban phát.” Những kẻ đương quyền cũng hiểu rất rõ rằng, bọn họ chỉ còn là tập hợp cuối cùng của một chủ nghĩa đang tàn lụi và chắc chắn phải bị hủy diệt, nên chẳng bao giờ chạnh lòng nghĩ đến quê hương! Ngày hôm qua đã xơ xác vì chiến tranh, nhưng ngày hôm nay đồng bào tôi thật sự rách nát tả tơi vì đang bị lòng hận thù và tham lam của những kẻ “tự cho là chiến thắng” ngày đêm xâu xé; ngày hôm qua đã kiệt sức vì bom đạn, nhưng ngày hôm nay đồng bào tôi thực sự ngã quỵ vì đang bị sự ngu muội, u mê của những kẻ “tự cho là tài ba” chà đạp thô bạo.

Những mẫu tự này làm sao ghi chép cho hết hàng hàng những tấm thân ngày đêm lê lết bên những đống rác hôi thối, kiếm tìm một cái gì đó có thể ăn để sống, rồi hát, rồi la, rồi khóc cười, rồi gào thét, rồi mê thiếp đi vì kiệt sức và rũ xuống cõi chết mà hai mắt vẫn còn trợn trừng nhìn thẳng lên trời cao. Những công thức này làm sao cắt nghĩa được vì đâu những trại giam khổng lồ kia vẫn có vô khối người đang bị ngày đêm giam cầm mà không thể biết mình phạm tội gì. Những luận thuyết này làm sao đem được nụ cười đến cho lớp lớp những em bé lên năm lên bảy mà chưa hề một lần biết đứng biết ngồi. Có những đất nước mà tổ tiên của họ đã ra đi tìm Tư Do với tất cả những sắp đặt đầy đủ tỉ mĩ và thanh thản lựa chọn ngày lên đường. Đồng bào tôi đã ra đi tìm Tư Do trong hối hả chớp nhoáng của cơ may vụt đến rồi vụt đi chỉ với vài “ga lông” nước lạnh bên một dúm đồ ăn. Biển cả mênh mông ơi, rừng thẳm mịt mùng ơi, núi dựng chập chùng ơi, có bao nhiêu những người Việt Nam khốn khổ của tôi đã phải nằm lại nơi đó?

Hãy hiểu cho tôi, không có chủ nghĩa, không có mô hình, không có công thức, cũng không có luận thuyết nào, mà chỉ có Tháng Tư Đen mới cắt nghĩa được hết mọi điều oan trái và u uất đổ chụp xuống Tổ Quốc tôi và Đồng Bào tôi; chỉ có Tháng Tư Đen mới xô đẩy được tôi, mới xô đẩy được những kiếp người khốn khổ đó lìa bỏ Quê Hương........

Tôi nghe thân tàu rung lên nhè nhẹ rồi vun vút lao đi, vun vút rời xa. Và bây giờ đang nửa đêm Việt Nam, bầu trời đang đen kịt. Vài vùng điện đêm lờ mờ kia không hứa hẹn đất nước đang còn sức sống. Qua ô cửa, chìm sâu trong đêm mù mịt đó là mẹ tôi, là anh em tôi, là bạn bè tôi, là đồng bào tôi, là Quê Hương Việt Nam đầy khổ nạn mà thương quá của tôi. Đưa tay vuốt những sợi tóc mai bất ngờ ướt thẫm mà tưởng như có tiếng hát nào nhẹ nhàng vút cao rồi đậu lại trong tôi,

“Tóc mai sợi vắn, sợi dài,
Xa xôi muôn dặm nhớ hoài Việt Nam. . .”


Tôi thầm thì mà ngay trong hơi thở nghe như cũng mằn mặn, “Tạm biệt Mẹ!”

Ngày. . . tháng. . . năm 19. . .

Theo một cách nói nào đó, có người bảo rằng cuộc sống của nhiều gia đình Việt Nam lưu vong trên đất nước này là một sự đọa đày của hai thế hệ, cha mẹ và con cái. Người ta lý giải cho điều đó bằng cách viện dẫn những cảnh xung đột về nhiều mặt, mà theo họ là rất thường xuyên, trong những gia đình tội nghiệp mà họ nhìn thấy được. Lớp người già luôn luôn muốn quá khứ được bảo tồn; họ bảo đó là cội nguồn cần phải giữ gìn và vun bồi. Thế hệ trẻ thì có phần thờ ơ. Nhiều cô cậu hỏi nhau bằng Anh ngữ, cội nguồn là gì? Nhiều cụ lại loay hoay giải thích cội nguồn bằng chữ Nho! Một ngôn ngữ khi nói cứ phải uốn môi, uốn lưỡi đến mỏi mồm; một ngôn ngữ khi viết cứ phải phất ngang, phất dọc đến rối mắt; làm sao chúng hợp nhau được khi chẳng ai tìm ra một cách nào đó cho chúng có thể hợp nhau.

Thật hạnh phúc, gia đình tôi không có cảnh xung đột ngộ nghĩnh đó. Ba tôi thường khuyên chị em tôi đừng lầm lẫn Cội Nguồn với Quá Khứ cho dù trong cội nguồn có bao hàm ít nhiều ý tứ của quá khứ. Những gì đã qua là của quá khứ nên quá khứ là chốn đi về của hoài niệm hay hồi tưởng; khi tìm lại quá khứ, đừng tự hành hạ mình bằng những xót xa nuối tiếc hay lưu luyến mê mẩn, để rồi quá khứ được đà cứ trì níu mình loanh quanh mãi nơi đó. Khác với quá khứ, cội nguồn là sinh khởi và lưu chuyển. Vì có lưu chuyển nên cội nguồn có sự tiếp nối linh hoạt, và chính vì thế, nó không nằm lại với quá khứ. Cội nguồn là mạch sống bất tận của giống nòi thì không thể bắt nó ngừng đọng ở bất kỳ một chốn nào đó trong quá khứ; ngừng đọng là đang bị quá khứ chôn vùi!

Mọi người có quyền nâng niu quá khứ của mình, có quyền giãi bày quá khứ cho người khác khi họ muốn nghe hay muốn biết, nhưng đừng mượn cội nguồn để bắt người khác sùng kính một quá khứ nào đó mà hình ảnh cá nhân mình, vô tình hay hữu ý, đã được cho chiếm một khoảng quá lớn trong cái quá khứ đó. Ai cũng biết ưỡn ẹo hở hang không đúng nơi là lố bịch, cung cách học đòi không phải là thái độ khôn ngoan cần có của thân phận lưu vong; nhưng cũng nên hiểu rằng, khăn đóng áo dài đâu phải là biểu tượng duy nhứt của cội nguồn. Sao không lấy Đoàn Kết và Thương Yêu làm biểu tượng cho cội nguồn; ai đang đoản kết và thương yêu nhau là đang vun bồi cội nguồn đó.

Câu chuyện ba tôi thường kể trong gia đình với tiếng cười sảng khoái, là nhân một lần ba đi lễ Giỗ Tổ Hùng Vương; hội trường không thiếu những bạn bè hay những người quen biết đã từng gặp nhau, nhưng hôm nay họ đang “bận!” Có những người đang ngồi gần lại nhau để khoe nhà mới mua; chỗ kia là một nhóm đang khoe xe mới đổi; cũng có ai đó đang khoe con, khoe cháu hay dâu, rể... Những người “khôn ngoan” biết cách bỏ nước ra đi từ những ngày đầu thì còn bận bịu nhiều hơn, bởi họ thấy mình đang có quá nhiều thứ cần phải “xì” ra kẻo để lâu chúng sinh u sinh bướu trong đầu! Chỉ có những anh xe cũ nhà thuê, thịt da đang còn ngai ngái mùi phèn, chẳng có gì để khoe và cũng chẳng có ai “rảnh” để nghe mình khoe, nên các anh này chăm chú nhìn lên bàn thờ suy nghĩ về ngày Giỗ Tổ. Ba vẫn thường nhắc nhở chị em tôi, “Các con cứ học hỏi những gì các con muốn, nhưng đừng đua đòi những gì các con thích. Chị em con sinh ở Việt Nam nhưng sẽ lớn khôn ở đất nước này, hãy biết công bằng để vun đắp sự khôn ngoan của mình...” Mẹ bảo ba là chiếc cầu vững chắc nối liền hai bờ đại dương để các con bước đi.

Tôi rời đất nước khi còn nhỏ nên không có nhiều hình ảnh Việt Nam trong lòng. Tôi chỉ nghĩ Việt Nam chắc cũng hiền lành, cũng giản dị, cũng yêu thương chị em tôi như Ba Mẹ. Đêm đêm trong giấc ngủ, tôi mơ thấy quê hương qua hình ảnh rất gần gũi và rất thân ái của Ba Mẹ tôi.

-Hereami-
(10-1998)
********
Reply With Quote
  #5  
Old 10-08-2009, 05:03 AM
Hereami
Bảo Quốc Công Thần
 
Ngày gia nhập: Apr 2007
Bài đăng: 2,073
Bài đã viết trong Blog: 75
Định sẵn Tạp Ghi—Hereami

Thoáng Nghĩ Về Đất Hà Nội Hôm Nay


Tôi chưa lần nào được đến Hà Nội, và mùa Thu Hà Nội tôi chỉ biết qua những bài viết của các nhà văn gồm cả tiền chiến và sau này; nhưng tôi yêu thật tự nhiên mùa Thu đó, và yêu cả vùng đất ngàn năm văn vật của Tổ Quốc. Có lẽ chăng, vì tôi đã có những ngày tháng thật dài loanh quanh với miền Cao Nguyên “nắng bụi mưa sình” chỉ có mùa khô và mùa mưa; mà mùa nào thuở đó không gian cũng đấy tiếng trực thăng chuyển quân đi hoặc tản thương về; và tiếng đạn pháo kích của “họ” hướng về phố thị mỗi ngày mỗi thêm chát chúa, thường đêm bé thơ đã chẳng được ngủ yên.

Bằng mớ hiểu biết từ trong sách vở, tôi nói chuyện với một vài người bạn đã đôi lần về thăm nhà và có đến đất Hà Thành. “Hà Nội hôm nay còn vậy không?” Những câu hỏi đại loại như thế cứ nối tiếp nhau mà đặt ra, và câu trả lời cũng thường là, “Vẫn còn. . . Vẫn còn. . . Vẫn thế.” À, thì ra những hàng cây ven đường Hà Nội còn nguyên đó và đang háo hức đợi chờ mùa Thu đến; những tán lá kia chẳng làm dịu đi là mấy cái nóng nực ẩm ướt hôm nay, mà chỉ nôn nao mong gió Thu về, sẽ lìa bỏ cành xưa cằn cỗi để cùng nhau tung tăng trên những con phố đầy gió mới. Không những “vẫn còn” mà Hà Nội hôm nay còn có nhiều cái mới lạ hơn. Ngày xưa phố thị Hà Nội chỉ là những ngôi nhà lợp ngói thấp lè tè với phía trước là vuông sân lát gạch Tàu đỏ ối, thì bây giờ đã có những tòa cao ốc lừng lững với dăng dăng ánh đèn lộng lẫy như thách đố sao trời hằng đêm. Ngày xưa đường xá Hà Nội chỉ có những cỗ xe tay hay xe thổ mộ, thì hôm nay là những chiếc xe gắn máy, xe hơi bóng loáng đủ kiểu, đủ dáng nhập từ các nước ngoài. Những cô gái Hà Nội thuở ấy chỉ say đắm với những chiếc áo tứ thân, khăn mỏ quạ, yếm vải sồi, quần nãi đen thì bây giờ là những quần bò, váy dài, váy ngắn, áo chun, áo chẽn, áo dây, mặc mà như đang cởi, đậy mà chẳng cần che thật xốn xang. Thôi vậy cũng chẳng sao, thế kỷ 21 rồi mà.

Nhưng tôi cảm thấy băn khoăn, vì có một thứ rất cần mà Hà Nội sẽ không có trong những ngày sắp tới vì nó đang cạn kiệt và rồi phải dứt tuyệt; đó là Khí.

Hà Nội cần có khí để được mãi mãi yên vui với đất lành, cây xanh, nước mát như ngàn năm qua Tạo Hóa đã rộng tay chúc phúc cho giống nòi. Vào thuở xa xưa ắy, họ là phái Bắc Dương Tử hung hăng thích bình thiên hạ, Tổ Tiên chúng ta là phái Nam Dương Tử hiền lành nhưng quyết chí tự cường. Nhưng rồi lúc ban sơ thế chưa vững, lực chưa mạnh, tiền nhân đã phải nhường bước, bỏ lại cho người hàng xóm thiếu nhân hậu miền đất màu mỡ bên bờ sông Dương Tử ấy, dắt dìu nhau theo dấu đàn chim Lạc xuôi Nam tìm chốn lập cư mới cho muôn đời con cháu mai sau. Hà Nội nên vóc nên hình sau những tháng ngày dài đăng đẳng từ những bước chân khai sơn phá thạch đầu tiên ấy. Và thật oái oăm, cũng chừng đó tháng ngày đăng đẳng, chưa bao giờ đất nước chúng ta ra ngoài “tầm ngắm” của người hàng xóm không che dấu nổi tính tham lam và ngạo mạn ấy, khi thì trâng tráo khiêu khích, lúc thì lố lăng xúi giục, nay thâm độc mua chuộc, mai trừng trộ răn đe, thôi thì đủ bài đủ bản của cái thói ngông nghênh thích “bình thiên hạ.” Nhưng đó là hành vi của người ngoài, dù sao họ cũng là người ngoài, chưa cần trách cứ ở đây; chỉ buồn nhiều, buồn vô cùng nhiều cho tư cách của những người trong nhà đang chia nhau cầm nắm vận mệnh Đất Nước.

Cớ sao phải mượn tay những đập thủy điện để ngăn sông chặn nước nhiều như thế? Nước mà bị ngăn chặn rồi giam hãm trong càc hồ chứa để trở thành nước tù thì còn đâu là sinh khí; không có khí, đó chỉ là một loại “nước chết” bởi bản tính của nước là động, nghĩa là phải luân lưu. Một dòng nước chảy và một vũng nước đọng có giá trị phục vụ môi sinh khác hẳn nhau. Cớ sao phải vo tròn bóp méo những kinh nghiệm đúc kết từ thực tế trong dân gian trải đời này qua đời khác đã làm thành những chỉ dẫn của Phong Thủy? Người biết thì không được nói, mà người nói thì chẳng cần biết; thật đáng hãi hùng biết bao nếu chịu suy nghĩ thấu đáo hơn về vai trò các hồ chứa nước của các con đập thủy điện trên đầu nguồn những dòng sông dẫn nước về Hà Nội. Trong hiển hiện rất chững chạc của thực tế, các hồ chứa nước này đang liên lỷ ngày đêm tạo ra một khối lượng nước tù rất khổng lồ. Có thể có người bảo rằng, “Không, tù đâu nào, hồ chỉ giữ lại một khối nước nào đó, trong một thời gian nào đó đủ để vận hành các ‘tuốc-bin’ thôi, rồi thì nước vẫn được xả cho chảy về xuôi đó mà.” Thì quả đúng là như vậy, vùng hạ lưu vẫn thấy nước ngày ngày chảy qua để ra biển. Nhưng “cái đang được coi là nước” đó có phài là nước của Mẹ đầu nguồn cho đi về biển hay không? Hẳn là không phải; nước chảy về từ hồ thủy điện thì khác với nước chảy về từ mạch núi, một đàng chảy ra từ nguồn tự nhiên và một đàng do sự sắp xếp của con người. Nước chảy ra từ núi nên đầu nguồn của nước là núi, do đó Phong thủy nói rằng Núi là Mẹ sinh ra nước thì có gì là vu vơ hay khó hiểu đâu?

Và cũng thật khó mà yên tâm với lập luận cho rằng các hồ thủy điện sẽ điều chỉnh lưu lượng nước trong dòng chảy, làm cho nước chảy chậm hơn, phù sa sẽ lắng đọng nhiều hơn, cơ may cho khí tụ sẽ cao hơn, do đó cơ may cho đất kết long mạch cũng cao hơn, vân vân và vân vân, nghĩa là cuối cùng, con người sẽ có nhiều cơ hội “cạnh tranh” với thiên nhiên trong. . . dịch vụ sản xuất địa linh! Rồi không chừng sẽ có hàng loạt các kẻ mộng du tranh nhau các vùng đất mà họ ngỡ là có “phong thủy. . . tính” rồi cho cải tạo, cho biến chế bằng cách cho lắp đặt các máy thăm dò, điều chỉnh tốc độ của dòng chảy, rồi đào hào đắp đập uốn nắn cho con nước chảy vòng vèo, chảy quằn quèo, chảy ngoằn ngoèo đủ kiểu để đất phát cho họ hay con cháu họ thành vương thành bá. Có thể nào chăng sẽ là như thế khi dòng nước họ đang có trong tay chỉ là “dòng nước chết” vì đã kiệt khí? Những ý nghĩ đầy hoang tưởng ấy thật khó mà tách khỏi những con người chỉ có cái đầu ở trên nhưng chất xám lại ở. . . rất dưới. Nhưng thôi, đó là chuyện xa lắc xa lơ; chuyện cận kề trước mắt thì rõ lắm rồi.

Cũng như trong con người, máu phải lưu thông nuôi sống cơ thể từng phút từng giây; nước chính là máu luân lưu nuôi đất. “Máu thì đỏ, nhưng không phải chất có màu đỏ đều là máu,” (Thầy Quảng Đức.) Cái mấu chốt của vấn đề vẫn là ở chỗ, “cái đang được coi là nước” có phải là nước không? Đó là tình cảnh trớ trêu hiện nay của đất Hà Nội và người dân sống nơi đó. Là vì những con đập đầu nguồn đã không những chắt gạn hết nước mà còn kềm giữ cả khí ở lại; những gì đang chảy về Hà Nội hàng ngày người ta cứ ngỡ là nước, nhưng trong mắt các nhà Phong Thủy, đó không phải là nước nữa, đó không còn là nước nữa mà chỉ là một chất dịch gì đó có hình của nước nhưng khí thì đang cạn kiệt và rồi sẽ tuyệt. Không phủ nhận rằng trong một chừng mực nào đó, hồ thủy điện có làm cho dòng chảy thay đổi tốc độ, phù sa có cơ may lắng bám nhiều hơn, nhưng nếu có, đó cũng chỉ là những lợi lạc kinh tế vật chất trong cách nhìn ngắn hạn. Về lâu về dài, nước mà tuyệt khí sẽ làm đất biến đổi ra sao, hãy suy ngẫm ý tứ của các Chân Sư Phong Thủy, “Đất Hà Nội cuốc sẽ gãy cuốc!” Thực tế đã có lời nhắc nhở; trong ngày lễ động thổ xây nhà Quôc hội mới ở Hà Nội, ngay nhát đầu tiên bổ xuống, cán cuốc gãy đôi. Môi trường đó chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến cư dân; mà đã có dấu hiệu báo động rồi đó, nước Hồ Tây bỗng dưng cạn thấy đáy. Lúc này thì người ta còn dựa vào hai chữ “bỗng dưng” để giải thích vòng quanh; rồi đến một ngày nào đó, người dân Hà Nội sẽ “nghe” được “nhịp sống” quanh mình cũng mỗi ngày mỗi cạn nhưng chắc hẳn không phải là “bỗng dưng” nữa!

Không ít sách vở nói rằng Hà Nội bây giờ hay Thăng Long ngày xưa là một vùng đất ngưỡng diện trong thế Dương lai Âm thụ với các dòng sông tụ hội và các rặng núi chầu phục. Hầu hết các sông miền Bắc chảy từ Tây Bắc về Đông Nam rồi ra biển. Riêng Sông Đà đang xuôi chiều đến Hòa Bình thì đổi dòng, chảy ngược về Việt Trì nhập cùng sông Hồng tăng thêm khí lực cho đất Hà Nội. Trong những ngày xa xưa, những con sông ấy chuyển đầy sinh khí, những rặng núi ấy mang dáng sinh long rủ nhau quần tụ quanh đất Hà Nội làm thành thế Long chầu Hổ phục của một vùng Địa Linh đã sản sinh cho đất nước bao trang anh hùng hào kiệt. Nhưng ngày nay thật tiếc thay, những con sông ấy đã bị kềm hãm thành những dòng chảy không sinh khí như những luồng nước thải, núi tiếp núi đã bị đào bới, đục khóet cho thay hình biến dạng thành như những nấm mồ vô chủ. Từng giờ từng phút, Hà Nội đang bị đẩy ra khỏi vòng tay ấp yêu hàng ngàn năm của lịch sử dân tộc. Nét vàng son quật cường giữ nước mà tiền nhân đã ghi đậm trong những chiến công chống Minh, Nguyên, Mông, Thanh đã bị bôi nhòe không ngượng ngùng. Trong muôn một, Hà Nội hôm nay không còn là hậu duệ của Thăng Long nữa vì Hà Nội không chỉ đã bị biến chất qua “thành tích” ngăn dòng chặn nước, đục núi khóet rừng làm cho đất Hà Nội đang kiệt khí, mà Hà Nội rồi đây sẽ bị biến thể thành quái hình dị dạng trong cái kế hoạch gọi là “mở rộng Thủ đô” khi Hà Tây, một tỉnh giáp ranh phía Tây Nam sẽ được sát nhập vào thành phố Hà Nội.

Có cái gì đó chẳng lành khi Hà Nội bị ép phải biến dạng một cách tội nghiệp như vậy. Nguyên lý căn bản của Phong Thủy là những chỗ mang khí xấu cần thu hẹp lại để giảm bớt xấu, những chỗ có khí tốt nên làm lớn ra để tăng thêm tốt. Đất Hà Nội đang kiệt khí là một điều quá ư xấu, nay lại “được” làm rộng ra thì e rằng ngày tuyệt khí chẳng phải tốn công chờ đợi lâu. Nếu đã biết đất Hà Nội có Long chầu Hổ phục thì sao giờ đây lại bắt Long phải vươn mình ra, sao bắt Hổ phải trườn mình tới ôm thêm đất đai? Rồng mà phải vươn mình như thế có khác chi rồng bò, Cọp mà phải trườn thân như thế thì chỉ là cọp lết. Rồng bò thì có hơn gì loài tắc kè chỉ biết đổi màu lúc đỏ, lúc xanh cho hợp với màu của cây của lá mà tắc kè đang nương thân; cọp lết thì không khác mấy thân lợn què ủi bừa ăn tạp sẵn sàng ngấu nghiến bất kể thứ gì lợn què có cơ ủi tới. Như vậy thì còn đâu là đất Thăng Long năm xưa và Hà Nội hôm nay với thế chầu thế phục của Long của Hổ?

Và tôi xin dừng lại để cùng chia sẻ những băn khoăn của nhiều người trong nước cũng như ngoài nước. “Hà Nội giữ nguyên như cũ là đủ rồi;” đủ cho phòng thủ, đủ cho vận chuyển, đủ cho cai quản, đủ cho phát triển, đủ cho điều hành và đủ cho cả những suy nghĩ, đủ cho cả những liên tưởng, đủ cho cả những giấc mơ và cho mùa Thu vẫn còn nguyên là mùa Thu Hà Nội. Vì “Hà Nội như cũ” là Hà Nội với 30 cây số Đông-Tây và 50 cây số Bắc-Nam, nằm êm ái trong vòng ôm của dòng Hồng Hà đầy sinh khí như Mẹ hiền ấp yêu con trẻ, cho con xinh con ngoan, con vươn lên đứng vững trước mọi tai ương hiểm họa. Giờ đây Mẹ bị giam cầm đến héo mòn tiều tụy mới được thả cho về biển cả, nên Mẹ vẫn lao đao đi trong thất thểu như kẻ mất hồn, đau thắt lòng nhưng còn sức lực nào đâu mà chăm đẵm con đang bị trói buộc vào với hàng xóm cho thành quái hình dị dạng, nhìn thật lạ lùng. Đường ngang lối dọc còn đó, nhưng mỗi bước đi là mỗi bước dẵm lên tan nát; cây xanh còn đó nhưng mỗi chiếc lá lìa cành hôm nay là giọt nước mắt cuối cùng cho mùa Thu Hà Nội, vì không còn Mẹ chăm nom nâng đỡ như những ngày xưa ấy thì làm sao con tránh cho khỏi ngã, khỏi nhào.

Thôi đừng nhắm mắt cuồng động chạy theo ý “trời” ở phương đó nữa, hãy quay lại đây, hãy mở mắt ra, hãy bình tâm lại và hãy cung kính nhận lấy Ý Trời đang hiển hiện sáng ngời ngay trước mặt, vì Ý Dân mới đích thực là Ý Trời mà, Người Xưa đã dậy như thế sao không chịu nhớ?
-Hereami-
(8-2008)

********
Reply With Quote
  #6  
Old 10-26-2009, 01:34 AM
Hereami
Bảo Quốc Công Thần
 
Ngày gia nhập: Apr 2007
Bài đăng: 2,073
Bài đã viết trong Blog: 75
Định sẵn Tạp Ghi—Hereami

Hereami xin giới thiệu truyện ngắn “Journey to America” của nhà văn nữ Sonia Levitin. Bà sinh năm 1934 tại Berlin, Đức, giữa lúc đất nước Bà đang chịu nhiều khốn khổ dưới sự cai trị của Hitler và Đức Quốc Xã. Cũng như nhiều người Do Thái khác lúc bấy giờ, gia đình Bà đã phải lìa bỏ quê hương lúc Bà lên bốn (1938). Truyện ghi lại những tình cảnh và tâm tư của một gia đình Do Thái tiêu biểu, đã phải tìm đường trốn chạy khỏi chính quê hương thân yêu của mình…

Phần nguyên bản bằng tiếng Anh, Hereami đăng tại trang Blog


để Quý Vị và các Bạn tiện tham khảo. Dưới đây là phần phỏng dịch Chương 1 có tiêu đề, “Good-Bye to Papa.”

Thành thật cám ơn Quý Ban Điều Hành Thư Viện Toàn Cầu, Quý Trưởng Phòng và Quý Bạn Bè Thân Hữu đã cho Hereami những điều kiện thuận lợi để làm việc và phục vụ.

Thân Kính,

Hereami
Reply With Quote
  #7  
Old 10-26-2009, 01:46 AM
Hereami
Bảo Quốc Công Thần
 
Ngày gia nhập: Apr 2007
Bài đăng: 2,073
Bài đã viết trong Blog: 75
Định sẵn Tạp Ghi—Hereami

Con Đường Tới Mỹ
Chương 1

Tạm Biệt Ba


Tôi chưa từng thấy mùa đông nào lê thê và rét mướt như mùa đông năm ấy. Trời lạnh buốt, sương mù chĩu nặng như mưa, chuyển thành mưa tuyết, và rồi tuyết rơi. Đường phố Berlin trắng xóa, vắng ngắt; một nỗi vắng lặng lạ lùng, dù trời mới vừa quá trưa một chút, ai nấy đã hối hả về nhà như trốn chạy những hiểm nguy của bóng đêm đang ập tới. Ngồi bên cửa sổ, chỗ quen thuộc ấm áp và thuận tiện của mình, tôi nhìn được mọi thứ, cả trong nhà lẫn ngoài nhà. Cuốn sách học để bên cạnh, những bài Toán còn nguyên chưa làm, trang giấy chỉ vừa viết xong đầu đề: “Tên: Lisa Platt; Ngày: 7-02-1938.”

”Con đang làm bài đấy à, Lisa?” Mẹ bước đến, vừa hỏi vừa ái ngại nhìn ra đường phố.

“Dạ vâng, Mẹ.”

Không ai nói thêm với ai lời nào, Mẹ và tôi cùng nhìn hai người lính dưới kia cứ đi đi lại lại như thể đang suy nghĩ để quyết định một điều gì đó.

“Nếu chuông cửa reo,” Mẹ bắt đầu câu nói thật khó khăn, “Đừng ngại, Lisa. Cứ lo làm bài đi con; mọi chuyện rồi sẽ êm thôi.”

Làm sao tôi có thể lo bài vở cho được? Làm sao mọi chuyện có thể lắng yên khi khuya nay Ba đi rồi. Còn chuyện gì nữa nếu chuông cửa reo vang và những người lính kia đòi gặp Ba? Rồi tôi nghe từ phòng bên, Ba Mẹ đang nói chuyện.
“Em đã sắp cho anh sáu cái khăn tay, Arthur à,” Tiếng Mẹ. “Em xếp lại và nhét trong đôi giầy đó.” Ngay từ sáng sớm, Mẹ đã loay hoay với hai cái va ly, cứ xếp vào rồi lại dỡ ra; không thể mang nhiều hơn được, phải làm ra vẻ như thể Ba dự tính sẽ trở về chứ.

Ba cười khúc khích. “Này, Margo, bộ em tưởng là ở Mỹ không bán khăn tay hay sao? Đừng lo những chuyện nhỏ nhặt như thế em à.”

Mẹ nói, “Em luôn luôn lo lắng đến những điều nhỏ nhặt cho người khác.”

“Anh hiểu… À, Ruth đâu em?”

“Con nó còn đang trong lớp vĩ cầm; anh không nhớ sao?”

“Anh không muốn con vắng nhà quá trễ như vậy.”

“Mới hơn bốn giờ mà anh.”

“Anh muốn nó phải về nhà!” Ba nói, giọng thật nghiêm nghị.

“Nhưng em không thể cầm giữ một đứa con gái đã 14 tuổi như là một đứa bé con!” Mẹ nói sẵng.

Rồi im lặng; tôi biết hai người đang ngồi gần lại nhau mà tiếc cho sự cãi vã không đáng, để rồi phải băn khoăn mãi kể từ đêm nay.

“Anh sẽ gặp cậu Benjamin tại nhà ga à?” Mẹ hỏi, giọng dịu dàng trở lại.

“Đúng vậy, em. Không còn lý do nào để cậu ta tới đây nữa.”

Annie từ đâu chạy ùa vào. “Con muốn gặp cậu Benjamin!”

“Không được đâu con, tối nay Ba đi mà.”

Trước đây hai năm, Ba đã có lần xa Mẹ và chị em tôi khi đi đón chị Ruth đang học nội trú tại Marienbad. Gia đình tôi dự trù lánh qua Brazil, khi mà Đức Quốc Xã đưa ra luật mới cấm trẻ em Do Thái theo học tại các trường công lập. Vậy là, Ba than, chuyện tồi tệ sắp ập tới rồi. Mẹ, em Annie và tôi đến Italy gặp lại Ba và chị Ruth; rồi chúng tôi cùng xuống tàu biển đi Brazil. Cái nóng Brazil quả là không sức nào chịu nổi. Tôi ngã bệnh gần như suốt những ngày tháng ở đó; Mẹ cũng không khá hơn; thật là khủng khiếp. Còn Ba chẳng kiếm ra việc làm, có ai cần đến áo khoác trong cái xứ nhiệt đới đó đâu mà bán. Gia đình tối đành quay về Berlin giữa lúc mọi chuyện như tuồng đang trở lại bình thường; nên Cậu đã cau có, cho là gia đình tôi vội vã quá, khùng đầu quá, chưa chi đã lật đật bỏ nơi chôn nhau cắt rốn mà đi. Nhưng Ba đã nhìn ra. . . như bây giờ đó, muốn ra đi là phải bí mật, và nơi Ba muốn đến chỉ còn là Mỹ mà thôi. Đã ai hình dung được nước Mỹ ra sao đâu. Tôi chỉ nghĩ là xa, xa lắm, và rồi tôi sẽ phải xa Ba biết là bao lâu.

Có tiếng chân Ba, tôi cố mỉm cười.

“Biết mà, biết là con ở đây mà, Lisa.” Ba ngồi xuống chỗ có lót nệm. “Ba biết ngay chỗ tìm ra con; mai mốt đi xa, ba vẫn nhớ cái chỗ ngồi riêng biệt này của con… Mà con chưa làm bài vở gì cả à… con đang làm gì đó?”

“Dạ, con mới vừa nhìn ra ngoài thôi Ba,” tôi nói.

Ba kéo tôi lại gần ông. Tôi nhắm mắt trong giây lát để nhớ mãi cái cảm giác lúc này.

“Con không được sao lãng chuyện học hành,” Ba nói thật nghiêm nghị; nhưng rồi lại cười ngay, đôi mắt đen chợt long lanh.

“Nên nhớ, con số ở đâu cũng là con số, ở Mỹ cũng thế thôi. Đừng bao giờ nghĩ rằng học ở đây rồi sẽ uổng công.”

“Con không thể tập trung được gì cả.”

“Có những lúc con phải làm ngơ mọi chuyện, chẳng thèm màng đến, Lisa à.”

“Như hai tên lính kia hả Ba? Sao cứ phải đi đi lại lại như thế mãi?” Tôi lộ vẻ bực bội. “Sao không đi phứt ngay đi?”

“Họ sẽ đi đấy mà,” Ba trả lời. “Coi kìa, có gì đâu mà con phải phiền hà.”

“Có thể đó là điều gia đình Muller nghĩ đến,” tôi hối tiếc ngay sau câu lỡ lời của mình.

“Con đã biết gì về họ?” Ba giật mình hỏi. “Con đã nghe hết mọi chuyện rồi phải không con?”

Rồi Ba thở dài, nhưng ánh mắt tươi tỉnh lại ngay. “Có khi Ba đã chẳng nhớ, con không còn là con bé tí tẹo nữa; khi nào vậy ta?” Ba trêu chọc tôi. “Chẳng lẽ mới chỉ vài ngày thôi. . . sau cái hôm Ba đi làm về gặp bà Leuflelbein ngay trước cửa nhà, ‘Ồ chào ông, rất tiếc, lại một công chúa nữa!’”

Tôi cười một mình. “Đó là hôm Mẹ sanh em Annie.”

“Đúng đó,” Ba tiếp. “Tới nay Ba vẫn nhớ bà Leuflelbein, tội nghiệp, ba ta hứa chắc với ba kỳ đó Mẹ sanh trai, nên bà ta hơi ngượng,” ba cười vang.

Ba luôn đùa cợt với bà Leuflelbein về chuyện Mẹ sanh toàn con gái. “Nếu tôi có toàn con gái,” Ba đùa, “thì bà dám đánh cá chúng toàn là gái thôi.” Nói vậy chứ đi đâu Ba cũng để hình chị em tôi trong ví và thường đem khoe với mọi người.

Bây giờ giọng Ba nghiêm trang trở lại, “Ba trông cậy nhiều vào con, con sẽ giúp đỡ Mẹ những ngày Ba đi vắng, Lisa à. Con thương em Annie nhiều; Ba biết chắc con sẽ làm tròn bổn phận. Và xin con đừng làm Mẹ âu lo với những chuyện như là… như là… về gia đình Muller.”

“Không đâu Ba. Con sẽ luôn vui vẻ.”

“Tốt lắm! Khi con cười trông con càng xinh hơn đó… ”

Annie chạy ùa vào. “Con cũng xinh hả Ba?”

“À… à, con hả, cái con hề bé tí này!” Ba vớt gọn nó lên tay, cù cho nó cười ré lên rồi đặt xốc lên vai như năm xưa Ba vẫn làm thế với tôi. Vừa lúc chị Ruth về tới, hai má đỏ au vì cái lạnh ngoài trời; Mẹ cũng vừa tới nhắc cha con tôi sắp đặt gọn lại rồi ăn chiều.

“Arthur à, thôi đừng đùa nữa nào,” Mẹ nói với một nụ cười thật kín đáo. “Quá hơn trẻ con. Đi rửa tay đi con, Annie. Mà này, Ruth à, làm nước mưa nhỉu đầy lên thảm rồi con. Còn Lisa, hỏi bà Clara xem nấu xong chưa con. . .”

“Đây, một nhà tổ chức, Mẹ các con đúng là như thế,” Ba đùa. “Nhìn Mẹ xem các con, quả là một bà tiên trong thần thoại, đẹp tuyệt…”

“Xuỵt, thôi đi. Bây giờ lo ăn tối đã.”

Bà Clara thì hết nấu nướng rồi lại chà rửa, lau chùi, cứ liền tay suốt ngày. Những khi bận bịu, tay bà cứ tíu tít với đủ mọi thứ. Chiều nay, bà đã làm bánh mận, món tráng miệng “ruột” của Ba.

“Ồ, Clara, bà quả là một thiên tài!” Ba nói như reo. “Làm thế nào bà đã lùng ra mận vào mùa đông thế này?”

“Dạ, có tiền thì thứ gì mà chẳng có, thưa ông,” Clara đáp lời Ba rồi vội vã kiếu ngay; tôi thoáng thấy những giọt nước mắt vừa đọng lại quanh mắt bà.

Chị em tôi coi bà Clara như mẹ thứ hai; bà đã có mặt trong gia đình này từ thuở chị Ruth hãy còn bé tí. Khi chúng tôi từ Brazil trở về, chính bà đã chờ tại sân ga. “Bà Platt à, tôi coi nhà Bà như chính gia đình tôi vậy,” bà luôn nói thế. Ngay cả lúc bọn Đức Quôc Xã đã ra lệnh cấm đoán những người Cơ Đốc không được làm cho người Do Thái, bà cũng chẳng chịu thôi việc.

“Tôi chẳng sợ bọn chúng, chẳng sợ cái mớ luật của chúng,” giọng bà chắc nịch đầy vẻ thách thức khinh thường.

“Nhưng tôi rất lo cho bà, bà Clara à,” Mẹ nói thật lòng. “Bà nên tìm nơi khác thì hay hơn.”

Tiếng bà Clara, “Chắc bà nghĩ là tôi cũng như bà Marie chứ gì, rồi cũng bỏ chạy như gà mắc nước ấy à?”

Mẹ thuê Marie làm công việc nhà, còn bà Clara trông em Annie và nấu nướng. Kể từ ngày Marie xin thôi, công chuyện nhà thành gấp đôi, chỉ một mình bà lo toan, ấy thế mà mọi thứ đều tươm tất.

“Bà Clara à, rồi đây biết chuyện gì sẽ đến với bà?” Mẹ thở dài âu lo. “Bà đã dám húc đầu vào bọn quỷ rồi!”

“Chẳng phải quỷ gì cả,” Clara cười vang,” mà là húc ngay Trùm Hitler, bà tin đi!”

Tôi cố quên đi chuyện Ba sẽ đi khuya nay, coi như buổi cơm chiều thường ngày; nhưng suốt bữa, tôi chỉ ngồi nghe và nhìn vu vơ như thể mình không hề có mặt trong bữa ăn.

“Ồ, Lisa, con đang mơ đấy à,” Mẹ ôn tồn. “Đến bánh con cũng chẳng động tay vào.”

“Dạ, chốc nữa con ăn, thưa Mẹ. Giờ con tới giúp bà Clara rửa đĩa đã.”

Cố xua đi những ý nghĩ về mấy bài toán chưa làm, tôi muốn ở bên bà Clara lúc này chỉ để nhìn bà đang rửa dọn mớ đĩa nằm trong cái thau bự xư đầy nước xà phòng kia. Việc thật bề bộn nhưng giọng bà vẫn dịu dàng, trong trẻo.

“A, Lischen, con tới giúp dì đấy à,” bà nói. “Dì đang mong có người chuyện trò đây. Nào, kể dì nghe đi, con có lớp khiêu vũ hôm nay phải không?”

“Không, thứ Ba với thứ Năm dì à. . . nhưng con không muốn nói đến trường lớp nữa.”

“Coi, con lại sắp khóc đấy à?” Bà nhìn thẳng vào tôi với chút ái ngại.

“Nếu Cậu Benjamin đừng bày vẽ,” tôi nói, “thì Ba đâu có đi làm gì.”

“Bậy nào,” Clara cắt ngang. “Ai bảo con thế?”

“Thì chính Cậu ta đã bàn, Cậu cùng Ba trốn qua Mỹ mà.”

“Ba con chẳng cần ai bàn, ai biểu cả. Người khôn ngoan mới làm như thế.”

“Chứ sao những người khác không đi?” Tôi vặn lại, vì ông bà, các cậu mợ, họ hàng tôi, tất cả vẫn ở lại Đức mà.

“Rosemarie nói với con, ba má nó bảo chẳng việc gì phải chao đảo cả,” tôi hậm hực. “Ba má nó còn nói, việc gì phải quá chú trọng đến Hitler, rồi tất cả sẽ qua, đừng ngờ nghệch làm chuyện bỏ trốn.”

Bà kêu lên, “Mọi chuyện ngay trước mũi mà cứ làm ngơ mới là khờ khạo hơn đấy con à!” Rồi bà nói tiếp, “Ba con khôn khéo hơn nhiều người khác, lại can đảm nữa. Con cứ thử nghĩ xem, không can đảm làm sao có thể bỏ lại tất cả mà đi, bỏ nhà bỏ cửa, bỏ cả công ăn việc làm, để rồi phải làm lại từ đầu nơi xứ lạ quê người? Con,” giọng bà thật nghiêm nghị, “Con phải hãnh diện về Ba con mới phải.”

“Con vẫn hãnh diện!” Tôi bật khóc. Bất giác tôi nghe lòng mình thật trống trải khi nghĩ đến lúc Ba đi. “Con nhớ Ba con lắm,” tôi thầm thì. “Và nếu chúng chận Ba lại ngay biên giới thì sao?”

“Này này. . .” bà Clara đấu dịu, “Dì biết con đang nghĩ đến trường hợp gia đình Muller, dì biết con đã nghe mọi chuyện. Nhưng này con, Lisa, gia đình Muller bị bắt vì chuyển lậu tiền ra nước ngoài.”

“Tiền của họ mà, không có lý. . .”

“Họ phạm luật rồi.”

Tôi vặn hỏi, “Luật đó là loại luật gì?”

Clara thở dài; bà lau tay vào tấm tạp dề rồi quay lại tôi.

“Làm sao dì có thể cắt nghĩa cho con được, cái thứ luật ấy chính dì cũng còn không hiểu nữa là. . . Con hỏi loại luật gì à? Gian ác, luật của chúng là thế đấy. Luật là phải bảo vệ dân, chứ có đâu luật lại bức hại dân; thật kinh tởm.”

Tôi biết bọn Đức Quốc Xã không ưa chúng tôi chỉ vì chúng tôi là người Do Thái. Nhưng sao lại thế, chúng tôi có tội gì? Một trong những thứ luật của họ là cấm người Do Thái mang tiền ra khỏi nước. Bọn công an chìm Gestapo cho đó là trường hợp phải áp dụng gắt gao luật mới của Hitler. Thế nên, bọn chúng đã khám xét gia đình Muller thật kỹ tại biên giới. Chúng dằng lấy đứa bé bà Muller đang ẵm trên tay, lục lọi cả trong khăn áo của nó. Chúng khám phá ra một mớ tiền giấy dấu dưới áo khoác, thế là cả gia đình ông Muller bị lôi cổ ra tòa; chẳng biết đứa bé ra sao nữa.

“Ba con không còn lựa chọn nào khác,” bà tiếp. “Ba con là người khôn ngoan lanh lợi. Rồi con cũng sẽ sớm lên đường thôi. Tin như thế đi con!” Hai mắt bà rực sáng, “Chà, có những thứ dì không thể bỏ lại để ra đi được!”

“Đi với gia đình con đi dì,” tôi vòng tay ôm lấy bà van nài. “Đi nha dì Clara, con năn nỉ mà.”

“Không được Lischen à. Mẹ dì cao tuổi quá rồi, bà cụ không thể đi đường xa như vậy được, lại chỉ có mình dì là con thôi... Kìa, đi đi con, Ba con muốn nói chuyện với con kìa, nhớ đừng làm bộ mặt dài thượt ra nghe chưa!”

Tôi vào phòng Ba Mẹ. Va ly của Ba đã được dựng bên cửa, áo khoác và cặp giấy tờ nằm trên ghế. Tôi ngắm Ba chải tóc, rồi vỗ nhè nhẹ lên gò má chút nước thơm dùng cạo râu, và cài khuy tay áo. Tôi luôn thích thú được ngắm Ba như vậy. Ngày tôi còn bé, Ba thường bệt lên má tôi chút bọt xà phòng cạo râu của ông rồi cười vang, “Ồ, xin lỗi con gái, ba không nhớ là con gái còn bé tí, râu đâu mà cạo.”

Đợi Mẹ và chị Ruth vào, Ba nói, “Bây giờ mình nói chuyện trước đã, rồi tặng quà sau, vậy nghe.”

Mẹ, chị Ruth và tôi cùng ngồi trên giường, Ba kéo ghế lại rồi nói, “Ruth à,” ông hơi nhíu mày, “Ba sắp yêu cầu con làm một nghĩa cử hy sinh đấy con à.”

Chị Ruth thở ra rất nhẹ rồi nhìn đăm đăm vào Ba, chờ đợi.

“Ba rất ái ngại khi nói điều này. . . là con nên ngưng lớp vĩ cầm của con một thời gian.”

“Ba à. . .” chị Ruth đưa tay bật nhẹ chiếc kẹp tóc trên trán.

“Ba biết làm vậy là buồn lòng con biết chừng nào, nhưng con à, con không nên ra đường một mình quá muộn hoài như thế,” ông tiếp, “Ba không muốn Mẹ con phải thắc thỏm lo âu vì con.”

“Dạ, con nghe,” chị Ruth nói rất nhỏ rồi liếc tôi như thầm bảo, “Còn em, em làm gì?”

Tôi chẳng còn gì nữa để phải vứt bỏ; lớp múa Ba Lê học với bà Zimmerman thì đã ngưng cả hơn nửa năm nay rồi. “Bà ta không thể tiếp tục dạy con được nữa,” Mẹ đã nói với tôi như vậy và tôi cũng chẳng hỏi vì sao.

Ba chồm tới, “Ba muốn gần lại cho dễ nghe, nào nghe cho rõ và nhớ kỹ này các con, Ba sẽ gửi tiền về cho gia đình; và chúng ta sẽ sum họp tại Mỹ càng sớm càng tốt.”

Chị Ruth nhìn sâu vào mắt Ba rồi ái ngại hỏi, “Bao giờ, Ba?”

“Ngay khi làm được,” Ba nói. “ Mà thôi đừng hỏi thêm nữa con. Ruth, Lisa này, Ba muốn các con hứa với Ba một điều rất quan trọng, hơn hẳn từ trước tới nay là, không nói với bất cứ ai cái kế hoạch này, dù là bạn bè thân thiết cũng vậy. Hứa với Ba đi các con.”

Chị Ruth và tôi cùng hứa, trong khi trống ngực tôi đập thùynh thụych như thể tôi đang cắt máu thề nguyền một điều gì đó trong buổi lễ rất thiêng liêng.

“Phải có thời gian,” Ba nói tiếp, “cho Ba ổn định cuộc sống bên Mỹ và sắp xếp mọi thứ. Khi có thể lên đường, các con cũng đừng nói cho ai biết là đi đâu cả; cứ làm như thể các con đi nghỉ hè ít lâu, qua Thụy Sĩ hay qua Pháp gì đó.”

Chị Ruth lên tiếng, “Nhưng làm thế nào mọi người tin được khi thấy mình chuyển đi?”

“Không chuyển gì cả con ạ,” Ba vừa nói vừa đưa tay lưu ý. “Mọi thứ đều bỏ lại đây.”

“Mọi thứ?” Tôi lặp lại.

“Đúng vậy,” giọng Ba, “chỉ mang theo quần áo và vài đồ dùng cá nhân thôi. Mà nhớ này, điều tối ư quan trọng là các con phải nghe lời Mẹ, nghe ngay tức thì, không thắc mắc gì cả. Cuộc sống của các con tùy thuộc vào điều đó.”

“Arthur à, anh làm các con hốt hoảng lên rồi,” giọng Mẹ chùng xuống.

Ba nói thật sắc giọng, “Thà làm thế bây giờ còn hơn phải trả giá sau này.” Đoạn Ba thò tay vào túi và mắt ông dịu lại ngay. Tôi biết Ba hay cho quà, cho hoài miễn là chúng tôi thích nhận. Chúng tôi cũng hiểu Ba không có đủ bình thản để mà gói buộc quà lại. “Nào, nhắm mắt lại,” Ba nói, “và xòe tay ra.”

Khi mở mắt, một chiếc nhẫn đã luồn vào ngón tay, màu đỏ tươi, sáng óng ánh như thể đang làm ấm hẳn bàn tay tôi. Tôi há hốc miệng mà không nói được lời nào trong khi chị Ruth kêu lên,

“Ôi chao, con cám ơn Ba, cám ơn Ba!”

Trên ngón tay chị cũng một chiếc nhẫn như tôi, nhưng mặt đá màu xanh tươi.

“Các con đều thích làm Ba rất vui,” Ba cười dòn tan. “Thưởng thức đi nào, toàn thứ thiệt đó.” Ba lần lượt đặt tay chị em tôi vào lòng bàn tay ông, “Mặt đá này của con là bích ngọc, xanh biếc, Ruth à; còn của Lisa là hồng ngọc, đỏ tươi. Nhưng cứ làm ra vẻ như là thủy tinh vậy mà; giữ kín trong nhà biết thôi nghen các con.”

Quay sang Mẹ, Ba nói, “Lúc cần em cứ bán lấy tiền, chỉ cần được giá. . .”

Tiếng chị Ruth, “Nghĩa là chúng con không giữ hoài?” Trông chị như sắp khóc, tay cứ mân mê lọn tóc quăn trước trán.
“Không, các con vẫn giữ nó chứ,” Ba đáp, “trừ phi Mẹ cần đến; dĩ nhiên lúc đó các con hãy đưa cả cho Mẹ. Từ khi lên đường đến lúc nhà mình gặp lại nhau, nhớ luôn luôn đeo trong tay, không sợ mất;” rồi Ba nhìn đồng hồ, “Thôi, đã đến lúc Ba phải đi.”

Đó là cái thời khắc tôi đã lo sợ cả ngày nay. Tôi nhìn chị Ruth bước đến hôn Ba dáng chừng đêm nay cũng như hằng đêm thôi, mà hỏi thầm, sao chị không có sự ray rứt não lòng đang âm thần dằn vặt như tôi. Hay là... hay là chị cũng đang gắng gượng che dấu tiếng khóc? Tôi hôn lên má ông, “Đừng đi, Ba ơi, đùng xa con!” Đặt tay lên đầu tôi, Ba kéo tôi gần lại, “Chào con, Lisa,” rồi ông ghé sát tai tôi thầm thì, “Lạy Trời phù hộ con tôi.”

Bên cạnh, chị Ruth đã ngủ tự bao giờ, hơi thở đã sâu và đều đều; tôi còn thao thức nằm lắng nghe những tiếng động trong nhà. Chợt có tiếng cửa khép lại... vậy là Ba đã đi.

Người viết: Sonia Levitin
Người dịch: -Hereami-
Reply With Quote
  #8  
Old 11-04-2009, 04:59 PM
Hereami
Bảo Quốc Công Thần
 
Ngày gia nhập: Apr 2007
Bài đăng: 2,073
Bài đã viết trong Blog: 75
Định sẵn Tạp Ghi—Hereami

Con Đường Tới Mỹ
Chương 2

Như Lời Đã Hứa

Những ngày dài mong ngóng tin Ba, trông Mẹ thật bình thản; nhưng rồi khi bức điện tín mang dòng chữ, “Đã đến nơi bình yên, mọi chuyện tốt đẹp” nằm trên tay, Mẹ không ngăn được những giọt nước mắt lăn dài trên hai gò má.

Từ ngày Ba đi khỏi, họ hàng đến thăm hằng đêm, vừa khuyên giải vừa đợi chờ tin tức. “Chồng con vắng nhà, thế nào chúng nó cũng sinh nghi,” Bà Nội bàn. “Con nên cho các cháu qua Anh trước đi Margo à, dẫu gì thì cũng an toàn cho chúng, khối người vẫn làm thế đấy.”
“Chưa bàn bạc với chồng con, con sẽ không làm gì cả, Nội ạ,” Mẹ luôn luôn cương quyết như vậy. “Mẹ con con phải có nhau.”
“Cứ đi đi con, để bé Annie lại cho Mẹ,” Nội dỗ dành. “Con không thấy nó còn bé quá hay sao mà bắt nó đi xa như vậy?”
Mẹ thưa, “Không được Nội ơi, con không thể xa con của con được.”
Bao giờ cũng vậy, câu chuyện của hai người chỉ đưa đến “những vấn đề,” rồi sau đó, cả bà Nội và Mẹ vừa thì thào vừa đảo mắt nhìn quanh như thể tường vách cũng có tai đang rình nghe. Còn phải đợi chờ thêm bao lâu nữa? Mọi người chẳng biết sẽ được tới lúc nào vẫn còn yên tâm đi lại trên con phố Berlin này? Rồi đây biết có ai không, bằng một cách nào đó, chấm dứt được những chuyện điên rồ này?

Tôi thầm ước ao được như chị Ruth, cứ luôn chìm đắm vào những trang sách hay những bài tập. Tôi cố làm ngơ không nghe gì cả nhưng nào có được, ngày qua ngày lại phải nghe nhiều hơn, biết nhiều hơn những điều mới mẻ quá.
“Cửa sổ quán hàng Isaac Cohn vừa bị đẫp bể toang hồi sáng nay. Ông ta đang tính chạy qua Tàu.”
“Bà Helen Krauss nói, bọn chúng vừa gặp chồng bà sáng sớm hôm nay, chúng ‘hỏi han’ đủ thứ, con hiểu bà nói chứ?”
“Từ khi bọn Đức Quốc Xã vẽ câu này lên tường, ‘Không được phép mua bán với người Do Thái,’ chẳng còn ai lui tới quán hàng của tôi nữa, một người đàn ông kể như thế. “Chẳng còn gì là của riêng cá nhân nữa cả, con hiểu không?”
Mẹ căn dặn chị em chúng tôi cứ thản nhiên, tảng lờ mọi chuyện chung quanh. Không một ai cho Annie biết tí gì về những việc trong nhà đã sắp đặt. Nó còn bé quá, còn thích nói líu lo lắm, chưa thể tin cậy được. Chúng tôi cũng chẳng hề cho nó biết Ba đã gửi thư nên con bé cứ đinh ninh rằng Ba sẽ trở về.

Vào khoảng cuối tháng ba, Ba viết về bảo Mẹ và chúng tôi phải rời Đức càng sớm càng hay. Quân đội Hitler đã đổ bộ vào Áo Quốc. Chúng tôi ngồi láo nháo quanh chiếc máy thâu thanh lắng nghe cái giọng điệu như sấm rền, “Hỡi các đồng chí Đức Quốc của ta, nước Áo là của chúng ta. Đây mới chỉ là bắt đầu thôi, rồi đây chúng ta sẽ đi đến khắp nơi, các đồng chí hãy nhớ lời ta đã hứa, nước Đức sẽ làm bá chủ thế giới!” Ngay trong thư, Ba cũng cẩn thận không để lộ tí gì, bởi lúc này không còn ai dám thắc mắc về những việc làm của bọn Gustapo nữa. Hễ muốn là chúng xông vào, dù là nhà ở hay quán hàng, lôi người đi mà chẳng cần giải thích. Chúng có quyền rà xét thư từ để tìm ra tên tuổi những ai có ý hướng “cừu địch” với việc làm của chúng. Ba viết rất thận trọng, “Anh nghĩ em nên khéo léo sắp xếp cho các con qua Thụy Sĩ nghỉ hè một thời gian ngắn. Gắng sắp đặt rồi cho anh biết những dự tính của em nhé, Margo.”

“Khi nào vậy Mẹ?” Tôi cứ hỏi hoài mà Mẹ thì luôn lắc đầu. “Cũng chưa chắc được con à, nhiều việc phải làm quá.”
“Con cho Rosemarie biết nhà mình sẽ đi nghỉ hè được không, Mẹ?”
Mẹ thoáng do dự nhưng rồi gật đầu. “Mẹ đề nghị là chỉ nên cho bạn bè biết là nhà mình đi nghỉ hè thôi nhé, nghỉ hè là sinh hoạt bình thường mà.”
Tôi không để Rosemarie biết chiếc nhẫn mới này, kẻo rồi tôi lại khai ra hết; giữa hai chúng tôi chưa hề dấu diếm nhau điều gì. Vào một buổi học, nhân lúc ngồi chờ cô giáo lớp Vũ Ba Lê, bà Meyers, tôi kể,
“Mình sắp đi nghỉ hè rồi Rosemarie à.”
“Tốt đấy,” con nhỏ vừa cười vừa nói, “mà ở đâu vậy?”
“Chắc là Thụy Sĩ. . .”
Vừa lúc Hana Hendel trờ tới với kiểu cười khó hiểu của cô ả, đầu lắc lắc làm đong đưa mấy lọn tóc quăn. “Các bạn biết gì chưa?” Cô ả thở hổn hển. “Các bạn hay tin Eleanor chưa?”
“Chưa,” tôi trả lời mà thấy đã quá mệt mỏi với những chuyện thèo lẻo dài lê thê của cô ả này.
“Chắc là không ai ngờ đâu,” cô ả tiếp, “Eleanor và gia đình đã đi rồi, an toàn. Các người có muốn biết vì sao tôi hay tin này không?” Cô ả nhìn Rosemarie và tôi như chờ chúng tôi nài nỉ để được nghe, nhưng cả hai đều làm mặt lạnh.
“Tôi biết bạn sẽ kể thứ gì rồi,” Rosemarie nói
“Thôi được, Lucy trong nhà mình có quen với bà người làm cho ba má Eleanor,” Hana háo hức nói thao thao, “Bà này cho Lucy biết gia đình Eleanor đi Mỹ rồi.”

Tôi nhìn xuống sàn nhà để Hana không đoán được những cảm nghĩ trong tôi khi nghe hai tiếng “nước Mỹ.”
“Tôi chẳng thiết tha đi Mỹ,” Hana tiếp tục. “Mấy người biết không, ở đó người ta nói tiếng Pháp không hà, mà có ai thích học tiếng Pháp không? Tôi thì chúa ghét.”
Chúng tôi chẳng buồn đính chính cho cô ả. Tôi đã quá lợm giọng với những chuyện thèo lẻo và những cái chúa ghét của cô ả, nào là chúa ghét tới trường, chúa ghét bà Meyers và những bài học vũ, và chừng như cô ả cũng chúa ghét luôn cả tôi. Có thể như vậy lắm vì Cô giáo Meyers cứ khen tôi là vũ sinh xuất sắc nhứt lớp, còn Hana thì chẳng cách nào chen được vào vị trí số hai. Cô ả có cái thói soi mói những cái khiếm khuyết của người khác rồi chỉ trích, phê bình. Nhớ ngày đầu tiên gặp nhau ở trường, cô ả cứ chú mục vào vết sẹo trên chân tôi và hỏi thật trơ trẽn, “Bị cái sẹo đó ở đâu vậy, bị tai nạn hả?”
“Bị nhiễm trùng,” tôi nói. “Bị hồi đang ở Brazil.” Tôi không cảm thấy chút hứng khởi nào khi nói về chuyện đó.
“Ghê quá!” Cô ả há hốc miệng. “Phải luôn luôn mang vớ dày và dài vào. Tôi chúa ghét vớ dài, bạn có ghét không?”
Vừa lúc Rosemarie tới, mỉm cười tự giới thiệu; con nhỏ nhắc tôi rằng gặp Hana quả là hết sức bực mình. Từ hôm đó chúng tôi trở thành đôi bạn thân. Tôi nói, “Nhà mình chắc sẽ đi trước khi học xong, Rosemarie này; hôm nay Mẹ mình sẽ đi lấy sổ thông hành (hộ chiếu). Mình muốn nói. . .”
“Đừng nói gì cả,” Rosemarie cướp lời và nắm lấy tay tôi. “Cho mình một tấm hình giữ làm kỷ niệm trong thời gian bạn đi Thụy Sĩ. Kìa, cô giáo đã tới, thôi xếp hàng đã. . .”

Vào lớp, khiêu vũ đã khiến tôi quên hết mọi thứ. Tôi cảm thấy thanh thản và bay bổng. Tôi yêu đôi giầy vũ Ba Lê đang mang trong chân biết chừng nào. Nhưng hôm nay là buổi học cuối cùng; cô giáo Meyers sắp phải đi. Cứ tuần tự kẻ trước người sau, các thầy cô cứ lần lượt ra đi mà chẳng ai có lấy nửa lời giải thích. Chúng tôi đã quen nín lặng, không hỏi han, vì có hỏi cũng chẳng bao giờ có được câu trả lời.
“Đừng hỏi Mẹ tại sao nghe con,” Mẹ nhắc lại hồi xế trưa nay khi cùng tôi đến văn phòng cấp phát sổ thông hành. “Đừng nói gì cả nghe con, trừ phi người ta hỏi đến.”
Chị Ruth quyết định ở nhà tập dượt vĩ cầm; bé Annie còn đang ngủ trưa. Tôi nài nỉ Mẹ cho tôi đi cùng.
“Mẹ vui lắm có con ở đây,” Mẹ thủ thỉ khi hai mẹ con đứng trước tòa nhà văn phòng to lớn. “Con sợ không?”
“Không, con không sợ đâu Mẹ.”
Tuy nói cứng nhưng tim tôi đang đập thình thịch khi hai mẹ con cùng bước vào cửa. Người đàn ông ngồi sau bàn giấy có khuôn mặt bành bạnh vuông vức, miệng thở phì phò; những ngón tay mập ú của ông ta đang loay hoay với mớ giấy tờ trên bàn. “Nào,” ông ta hỏi mà chẳng cần nhìn lên, “Bà cần gì?”
“Dạ tôi tới nhận sổ thông hành,” Mẹ đáp; và tôi ngạc nhiên quá đỗi sao giọng nói của bà lại êm ái và bình lặng đến vậy. “Đây là biên lai chúng tôi đã nộp đầy đủ các thứ thuế.”
“Vì sao bà muốn rời Đức?” ông ta vặn hỏi
“Dạ, tôi muốn đưa các con đi nghỉ hè một thời gian ngắn tại Thụy Sĩ. Mời ông xem mọi thứ giấy tờ đã sắp xếp thứ tự rồi đây.”

Tôi liếc nhanh vào tờ biên nhận đóng thuế Mẹ chìa về phía ông ta, trên đầu trang giấy là những chữ in đậm màu đỏ chót, “Jude, Do Thái.” Người đàn ông liếc qua tờ biên lai rối nhìn thẳng vào mặt Mẹ, “Giấy tờ của bà dứt khoát là chưa được,” ông ta thở mạnh và cố giải thích với khuôn mặt đỏ gay. “Tôi không thể đưa sổ thông hành cho bà được,” đoạn khoát tay rồi gọi lớn, “Người kế tiếp!”
“Nhưng tôi đã chuẩn bị mọi thứ rồi, thưa ông,” Mẹ kiên nhẫn nài nỉ. Bà nắm chặt tay tôi như nhắc chừng tôi cứ đứng yên.
“Trước đây bà đã được cấp sổ thông hành rồi mà,” tiếng ông ta. “Có chuyện gì?”
“Dạ đúng, tôi nhận cách đây hai năm,” Mẹ giải thích, “khi tôi từ Brazil về lại Đức.”
“Đó!” Hơi thở trong họng ông ta phì ra như một tiếng rít và hai con mắt như trương phồng lên. “Biết mà. . . Biết là có chuyện buôn bán sổ thông hành mà, và luật nghiêm trị. . .”
“Ồ, Karl ơi,” một giọng nói vang lên từ phía sau văn phòng làm tôi giật nẩy người lên vì không nghĩ là có người khác cũng đang có mặt. Một anh thanh niên cao ráo và trẻ trung bước tới.
“Sao anh cứ quan trọng hóa chuyện này làm gì vậy?” Anh ta lắc đầu rồi nhăn nhó hỏi. “Anh không hiểu là bà ta chỉ muốn đưa các con đi nghỉ hè một thời gian ngắn à? Không thể khiển trách người ta được—giờ là thời gian huy hoàng để đi nghỉ mát mà.”

Anh chàng nhìn tôi mỉm cười; tôi cố gắng mỉm cười đáp lễ.
“Fritz à, anh có biết quy định mới chưa,” tiếng phản đối của một người khác.
“Nhân viên văn phòng chúng ta đã thâu sổ thông hành cũ của bà ta,” người thanh niên chỉ vào tờ giấy nói hối hả. “Anh không thấy ghi chú đây sao? Thôi giải quyết đi, chẳng lẽ cứ ôm vụ này cả ngày hay sao; trễ giờ cà phê xế trưa bây giờ.”
“Anh chịu trách nhiệm đó nghe chưa,” ông ta nói với giọng dứt khoát. “Tôi không biết gì đâu,” đoạn lôi trong ngăn kéo dưới bàn làm việc một cuốn sổ mỏng dính màu xanh, đóng dấu vài chỗ rồi đưa cho Mẹ với giọng cộc lốc, “Mấy đứa nhỏ cùng đi theo sổ này.”
“Cám ơn,” Mẹ nói lớn. Tôi làm mặt lạnh như thể chẳng cần.
“Bà được phép mang theo 10 đồng (Mark) cho mỗi người,” người đàn ông căn dặn.
“Mười đồng (Mark) thôi à?” Mắt Mẹ hiện rõ nỗi bực dọc. “Tôi nghĩ cần thêm nữa.”
“Chỉ có mười đồng,” ông ta búng tay. “Luật lệ mới thay đổi, bà biết đó.”
“Chúc nghỉ hè vui vẻ,” người thanh niên nói với theo. Bước ra cửa tôi còn nghe tiếng anh ta. “Ồ, Karl, anh đa nghi quá,” và có tiếng trả lời, “Fritz à, chúng nó là dân Do Thái mà.”

Chị Ruth và Annie ngồi trên bậc thềm chờ hai Mẹ con tôi về, “Có một ông ngồi trong phòng khách!” Annie reo lên thật hả hê.
“Mẹ nhận rồi hả?” Chị Ruth thầm thì vội hỏi.
“Có rồi con. Nhưng ai vậy?”
“Ông Mendel,” tiếng chị Ruth. “Ở nhà đã ngại không biết có nên cho ông ta vào nhà không?”
“Ông ta nhất định chờ gặp Bà,” bà Clara nói nhỏ, “và Ruth nó nói Bà có biết ông ta, nên tôi nghĩ chẳng hề gì.”
“Đúng, tôi có biết ông ta,” Mẹ đáp. “Nhà tôi có giao dịch buôn bán với ông ta; nhưng ông ta cần gì vậy cà?”
Tôi theo Mẹ vào phòng khách. Với cuốn sách còn để nơi chỗ ngồi cạnh cửa sổ, bây giờ tôi tới như thể để đọc sách mà thôi. Màn mở hé, tôi ngồi xuống thật nhẹ nhàng, cuốn sách đang mở đặt trên đùi.
Ông Mendel xem chừng cũng chẳng lưu ý đến tôi, dù trước đây ông ta vẫn luôn vui vẻ mỗi khi Ba cho tôi cùng đến tiệm của ông. Công việc của ông ta là chọn kiểu áo khoác rồi Ba tạo hình. Tôi vẫn nhớ hàng đống vải bóng mượt đã được cắt ra đủ hình đặc biệt, những mảnh vải len và tơ bỏ rơi rớt. Ông ta vẫn cho tôi hàng bao những mảnh vải vụn đem về may quần áo cho búp bê. . . Nhưng rồi ông ta vừa mỉm cười với tôi làm tôi chợt có ý nghĩ là cái miệng nhỏ chút của ông này hình như đã bị gọt bớt, cho nên cặp môi hiếm khi động đậy. Tôi suýt cười to.

Lúc này trước mặt Mẹ, ông ta nói với giọng điệu khác hẳn. “Tôi đến đây vì số tiền chồng bà còn thiếu tôi.”
Mẹ bước thong thả đến phía ông ta, đoạn đứng cạnh chiếc ghế như tạo thêm sự vững chãi cho mình. “Chồng tôi,” giọng Mẹ chắc nịch, “không thiếu ông đồng nào cả!”
Hai người nhìn nhau một thoáng. Với cặp mắt ti hí, ông Mendel như đang cố đo lường sức mạnh của Mẹ. “Tôi biết rõ chồng tôi đã thanh toán mọi khoản tiền trước khi ông ta lên đường,” Mẹ giữ vững lập luận của mình.
“Không, ông ta chưa hề thanh toán chuyến giao hàng cuối cùng cho tôi,” Mendel nhấn mạnh; và rồi lôi ra từ túi áo khoác một mảnh giấy màu vàng. “Bà thấy không? Đây là đơn đặt hàng, bà xem lại cho rõ.”
“Đơn đặt hàng thì đúng rồi,” tiếng Mẹ, “nhưng rõ ràng là ông đã quên không đánh dấu đã được thanh toán. Chồng tôi luôn luôn thanh toán tất cả các khỏan tiền thiếu vào ngày đầu tháng. Trong suốt những năm làm ăn với ông,” giọng Mẹ dứt khoát, “chưa bao giờ ông phải đến nhà tôi đòi tiền, đúng vậy không ông?”
“Ồ, thưa bà Platt,” Mendel nhỏ nhẹ, “Không nghi ngại gì cả, tôi biết đây đúng là một thiếu sót; có thể là vì vui mừng với chuyến du lịch của mình, ông nhà có thể đã quên thanh toán. Những dự tính của ông nhà khá bất ngờ, phải không thưa bà? Chẳng phải là tôi cạn kiệt tiền bạc đâu. Sự thực thì tôi đang có những hợp đồng lớn cung cấp đồng phục cho chính phủ. Bà thấy đó, tôi rất có “thớ” với Đức Quốc Xã mà.
Chớp mắt thật nhanh, Mẹ nói nhỏ, “Vâng, tôi biết.”
“Ai mà chẳng biết chồng bà đã vắng mặt,” ông ta tiếp tục. “Quả là khó khăn và bực bội cho bà biết mấy nếu tôi phải đưa vấn đề này đến công an. Chỉ là chuyện nhỏ thôi mà, hai trăm đồng, có là bao. Tôi tin chắc chồng bà cũng mong mỏi bà thanh toán số tiền đó cho ông ta dù trong bất cứ hoàn cảnh nào.”
“Đợi đó.” Mẹ nói mà mặt tái đi, tôi hiểu Mẹ đang uất lên như thế nào trong dáng đi của bà.

Lúc Mẹ rời phòng khách. Mendel bước lại phía tôi, mỉm cười mà cặp môi mỏng dính vẫn như mím chặt; ông ta chìa tay ra nhưng tôi không hề bước tới. “Chào cháu, cháu khỏe chứ? Chú đoán là cháu nhớ ba lắm. Ba cháu và chú vẫn là bạn thân. À cháu sắp đi thăm ba chưa?”
Cổ họng tôi khô rát đến nỗi tôi không nói được lời nào. Chẳng lẽ ông ta không nhìn thấy trên nét mặt của tôi đã hiện rõ sự khinh ghét ông ta đến mức nào sao? Tôi cương quyết trong lòng là từ nay không thèm nhận những bao vải vụn màu sắc sặc sỡ của ông này nữa.
“Tiền đây, ông Mendel,” giọng Mẹ lạnh lùng. Bà nhìn ông ta đang đếm tiền. “Ông cho tôi xin cái đơn đặt hàng để làm biên nhận.”
“Hoan hỷ,” Mendel mỉm cười. “Tôi chỉ muốn mọi chuyện ổn thỏa thôi. Ai cũng biết cung cách làm ăn của tôi mà.”
“Đã rõ,” Mẹ tiễn khách rồi đóng sập cửa lại.
Mẹ gieo mình xuống ghế, tiếng Mẹ trong hơi thở mệt nhọc, “Gọi bà Clara cho Mẹ.”
Mẹ nói khi bà ta bước đến, “Này bà Clara, từ nay trở đi không cho bất cứ ai vào nhà khi tôi đi vắng bà nhé.”
“Chuyện gì thế, thưa bà?” Clara vừa hỏi vừa xoa hai tay vào nhau.
“Ông ta bảo nhà tôi còn thiếu tiền mua hàng. . . tôi đã phải thanh toán, không thì ông ta dám đi thưa công an lắm.”
Bà Clara lắc đầu, “Ông ta bảo. . . là bạn của ông bà! Thật đáng trách, tôi đáng trách quá!”
“Chắc bà không ngờ được đâu,” Mẹ thở dài. “Giờ là lúc để biết ai thực sự là con người. Thôi, lo ăn tối đi nào. Tôi như muốn hụt hơi rồi.”
Mẹ dằn chiếc khăn tay lên môi trong lúc vừa ho vừa lẩm bẩm, “Tiết trời lạnh lẽo làm tôi mệt quá; chắc phải đến thăm bác sĩ Michels thôi. . . Nhiều việc quá, nhưng ít ra là cũng đã có sổ thông hành; đó mới là điều chính yếu.”
“À,” bà Clara như chợt nhớ, “có thư của ông. Thư đến lúc bà vừa ra khỏi nhà.”

Mặt Mẹ tươi tỉnh lại ngay; Annie la toáng lên, “Đọc đi! Đọc coi Ba nói con cái gì! Đọc đi!” rồi leo ngay lên đùi Mẹ; chị Ruth và tôi đứng sát lại cùng nhìn nét chữ Ba viết trong lúc Mẹ đọc thư

“Em và các con thân yêu,

Anh luôn nghĩ về em và các con, hy vọng em đã sắp đặt chuyện qua Thụy Sĩ nghỉ hè. Annie ơi, con phải ngoan và luôn luôn ở cạnh Mẹ trên đường đi nghe con. Anh cũng kiếm được một căn nhà thuê có nhiều phòng mà bà chủ cũng nói tiếng Đức. Bà ta có tấm lòng đôn hậu cứ gợi cho anh nhớ đến bà Clara của nhà mình, nhưng dĩ nhiên, tài nấu nướng thì không thể sánh với Ckara được. . .”


Cả Mẹ và chúng tôi cùng nhìn, bà Clara mỉm cười hiểu ý.

“Đêm đêm ba tới trường học tiếng Anh. Các con gái của Ba chắc là phải bật cười khi thấy Ba ngồi trong lớp như một cậu bé học trò! Người bạn rất thân của Ba hiện làm nghề bán ca vát (necktie), và cũng làm thêm buổi sáng, quét dọn và lau chùi trong một tòa văn phòng rộng lớn. Xế trưa, người này đến khu quần áo đứng bán ca vát và chuyện trò cùng vài người buôn bán nơi đó. Ông ta mong rằng một ngày kia sẽ kinh doanh ngành áo khoác tại đây.

Rất thương nhớ,
Ba”


“Vậy là sao, Ba muốn nói gì?” Tôi thì thào. “Người bạn rất thân?”
Mẹ lắc đầu nhè nhẹ nhìn bà Clara.
“Nào, Annie,” Bà Clara gọi. “Giúp dì lấy bánh ra khỏi khuôn đi nào.”

Khi cửa nhà bếp đã khép lại sau lưng hai người, Mẹ giải thích, “Hết sức thận trọng khi nói năng trước mặt Annie nghe Lisa. Ba các con ngụ ý là công việc của Ba là bán ca vát và quét dọn. Ba rất thận trọng; nếu người ta biết Ba các con đang làm ở Mỹ, có thể họ sẽ biết là Ba không có ý định trở về, và rồi như thế sẽ rắc rối cho mẹ con mình. Này, cũng đừng nói cho bà Nội biết Ba các con đang làm nghề gì, các con biết tính bà Nội rồi, bà sẽ nghĩ sao khi Ba các con là. . .”
Chị Ruth mở tròn mắt, “Ba là một công nhân quét dọn.”
“Đúng vậy, con,” giọng Mẹ sắc lạnh, “và có lẽ là một công nhân dọn dẹp chăm chỉ nhứt họ chưa từng có.”
Trong im lặng, tôi đang cố tưởng tượng xem bằng cách nào đó, rồi Ba sẽ kinh doanh ngành may và bán áo khoác tại Mỹ như Ba đã từng làm ở đây. Tôi nghe nói ở Mỹ ai cũng giàu có. Tôi không thể hình dung được là Ba tôi, lúc nào áo sơ mi cũng trắng muốt và không một nếp gợn nhăn với giầy bóng lưỡng, giờ lại khoác trên mình bộ đồ của một công nhân quét dọn rác rưởi. Ngậm ngùi quá, Ba ơi! Ba đã cam chịu mà vượt qua tất cả chỉ vì vợ con, trong tình thương yêu và lòng mong mỏi có ngày sum họp.

Tác giả: Sonia Levitin
Người dịch: -Hereami-
(10-2008)
Reply With Quote
  #9  
Old 11-08-2009, 09:46 PM
Hereami
Bảo Quốc Công Thần
 
Ngày gia nhập: Apr 2007
Bài đăng: 2,073
Bài đã viết trong Blog: 75
Định sẵn Tạp Ghi—Hereami

Con Đường Tới Mỹ
Chương 3

Cũng Thể Hy Sinh


Tôi cho Rosemarie chụp vài tấm ảnh sau buổi học cuối, chỉ còn hai hôm nữa gia đình tôi lên đường rồi. Rosemarie hài lòng, “Ảnh đẹp thật, Lisa à.”
“Tàn nhang không hà,” tôi chống chế.
“Có tàn nhang mới hay,” Rosemarie nói nghiêm trang. “Thật đó, nó chỉ thêm ‘nét’ cho gương mặt thôi. Tóc bạn chỗ này thật đẹp, thấy chưa nào,” con nhỏ vừa nói vừa nhìn sát tôi, “chắc có đỏ thêm chút ít.”
Tôi cười vang, “Nhớ cái hồi mình chà chanh lên tóc không? Rồi lại dấm nữa? Sao mà giống mùi salad bỏ thùng rác quá.”
“Nhớ chứ. Nhớ cuốn sách tụi mình đọc không? Sách viết gì héng? ‘Tóc nàng như ánh lên,’ phải không?”
“Dưới ánh nắng, tóc nàng óng ánh, chấp chóa những đốm sáng lóe hồng như lửa pháo,” tôi nhẩm lại đoạn văn trong cuốn sách mà hai đứa tôi đã cùng mê mải đọc trong phòng của Rosemarie cho đến khi bị bắt gặp, rồi bà chị của con nhỏ lấy cả sách luôn.
“À, nhớ cái buổi xế trưa tụi mình trượt băng không, xâu chuỗi của bạn bị đứt, văng tung tóe trên mặt băng đó?” “Rồi nhớ cái hôm tụi mình đưa Annie ra công viên không, con bé leo tuốt lên cây mà tụi mình chẳng biết làm sao đưa nó xuống được?” Chúng tôi ở bên nhau suốt cả buổi, gợi nhớ lại đủ thứ, và tôi chắc là Rosemarie cũng ngầm đoán biết, tôi rời nơi đây là không quay về nữa.
Con nhỏ khẩn khoản, “Nhớ viết thư cho mình nghen, Lisa.” Tôi vừa hứa thì con nhỏ đã tháo vội chiếc vòng đeo tay bằng bạc có hình cỏ ba lá thật đẹp mắt, với tên Rosemarie khắc trên đó. “Giữ lấy cái vòng này,” tiếng con nhỏ, “để nhớ mình hoài nghen.”
Tôi ngần ngừ, “Có tên bạn khắc vào rồi. . . bạn thích nó lắm mà.”
“Chính vì vậy mình mới muốn bạn đeo nó,” Rosemarie nhấn mạnh.
“Nhưng còn Mẹ bạn thì sao, Rosemarie?”
“Xong rồi,” Rosemarie nói chắc nịch. “Giữ nó cho mình vui; mà bạn vẫn có thể đưa lại cho mình nếu bạn muốn vậy. . .ngày tụi mình gặp lại. . .”
Tôi chưa hề dấu diếm nhỏ này điều gì nên hơi do dự, tôi lắp bắp, “Này, Rosemarie. . .bạn cũng có ý định đi nghỉ hè chứ?”
“Mình không nghĩ vậy,” con nhỏ lắc đầu, “Ba mình không muốn bỏ rơi bệnh nhân, bạn biết rồi đó.”

Biết bao người đang cần sự chăm sóc của bác sĩ Michels, ba của Rosemarie. Ông cũng là bác sĩ gia đình tôi. Lúc này hơn lúc nào hết, phòng mạch của ông luôn đông nghẹt bệnh nhân sau khi có lệnh buộc người Do Thái chỉ được đến khám bệnh với bác sĩ ngưới Do Thái. Và bác sĩ Michels ở lại, đối diện với mọi hiểm nguy sẵn sàng xảy ra chỉ vì thiên chức chăm lo cho người đau ốm. Ý nghĩ tôi chao đảo và rối mù với một cảm giác nằng nặng trong lồng ngực. Tôi còn chưa hiều hết những gì dì Clara đã nói về Ba là một người đầy quả cảm khi phải bỏ quê hương mà đi; thì với bác sĩ Michels, sự can trường lại chính là ở lại. Thật lạ lùng, thật khó hiểu, Ba của Rosemarie và Ba tôi, mỗi người một hoàn cảnh, đã hành động hoàn toàn trái ngược nhau nhưng hai người đều đúng cả.
“Mọi chuyện rồi sẽ qua đi,” Rosemarie mỉm cười vẫy tay chào tôi. “Rồi bạn sẽ được trở về sớm hơn là bạn nghĩ.” Con nhỏ hôn vội lên má tôi. “Đi bình yên nghen, Lisa.”

Xế trưa hôm sau gia đình tôi chào tử giã họ hàng đã đến từng người nhưng đông đủ cả, nào cậu, chú, cô, dì, anh chị em, rồi ông bà. “Biết là chộn rộn lắm mà, nên phải để cho một mình như vậy mới sắp đặt được,” ai nấy đều chúc tụng, mừng vui cứ như thể gia đình tôi thực sự chỉ đi du lịch mà thôi.
Dì Tante Helga còn trẻ và rất xinh, giữ chặt lấy tôi nói trong nụ cười héo hắt, “Đừng quên tiếng mẹ đẻ nghe cháu cưng của dì. Một ngày nào đó, dì sẽ qua đó thăm chơi, ái chà chà, quả là giây phút huy hoàng đấy chứ. Cháu sẽ dậy dì nói tiếng Anh, phải chưa nào? Rồi sẽ đi xem phong cảnh. . . nhưng luôn luôn nhớ tiếng Đức của mình nghe, tiếng Đức giúp cháu mau hiểu được các tiếng khác đó mà.”
Trong số các dì, tôi thương dì Tante Helga hơn hết; có lẽ vì dì không có con nên dì cháu dễ gần gũi nhau. Và cũng chẳng hiểu vì lý do gì, trong tất cả những đứa cháu trai cũng như gái của dì, dì luôn luôn rủ tôi cùng đi với dì đến nơi này nơi kia, khi thì phòng múa Ba-Lê của Trẻ em, khi thì khu trình diễn múa rối. Rồi Giáng Sinh đến, dì cũng lại rủ tôi đến những khu chợ sầm uất, dì cháu cùng nhau ngắm nghía những cảnh sắc trang hoàng, sau đó cùng nhau chọn quà cho cả đại gia đình.
Tôi hôn lên má dì và thầm thì, “Con sẽ nhớ dì lắm, dì Tante Helga à.”
“Ồ, chẳng nên cháu à,” tiếng dì. “Chẳng cần bận tâm, cháu sẽ rất bận rộn xếp đặt những điều chưa quen và gom góp những ý nghĩ mới,” rồi dì tiếp trong tiếng cười, “giống như một con sóc nhặt nhạnh những hạt giẻ cho một mùa Đông vậy đó.”
Gia đình tôi chào tạm biệt từng người một; họ hàng ai nấy đều vội vã kiếu từ như thể không để nước mắt kịp trào ra trên khóe mắt. Dẫu là thế cũng vẫn còn bà Nội đang khóc thật não lòng. Bà níu lấy tay Mẹ mà hai hàng nước mắt chảy đầm đìa trên khuôn mặt thật tội tình của Bà. “Margo ơi, các cháu của Bà ơi, biết có còn gặp lại nhau lần nữa trên cõi đời này không. . . ?”
“Nội à, con sẽ gửi thư cho Nội,” Mẹ nhắc đi nhắc lại. “Con hứa sẽ gửi thư thăm Nội mà.”

Rồi cuối cùng những chiếc va ly cũng đóng gói xong và dựng bên cửa, sẵn sàng cho buổi sáng mai. Giờ chỉ còn lại mỗi mẹ con tôi thôi. Nhiều thứ quá tôi không hề muốn bỏ lại, nào là trang phục múa Ba-Lê, sách vở, tập lưu ảnh của trường. Tôi nài nỉ, “Con không thể mang thêm một va ly nữa sao hả Mẹ?”
“Không con à,” tiếng Mẹ. “Mình chỉ mang theo những thứ thật cần thiết cho một chuyến nghỉ hè ngắn thôi con.” “Mỗi các con mặc một áo len và mang theo một áo khoác,” Mẹ dặn dò thêm. “Phải dành chỗ trống trong va ly nghe con.”
“Đi nghỉ hè con mang theo đàn violin được chứ,” chị Ruth hỏi.
Mẹ lặng thinh một lúc rồi gật đầu, “Được đấy, Ruth à, mang theo đàn, được đấy.”
“Thưa bà Platt, còn các đồ dùng bằng bạc thì sao?” Bà Clara lên tiếng với một bộ đồ bạc trên tay. “Bà không thể chèn thêm vài món này trong mớ quân áo sao?”
“Hẳn nhiên là không rồi,” tiếng Mẹ. “Chúng sẽ lục soát mọi thứ hành lý ngay tại biên giới,” rồi Mẹ cười khúc khích. “Có ai lại mang đồ bạc đi nghỉ Hè không?”
“Nhưng. . . còn những thứ này đây,” bà Clara kêu lên, “Sách vở, tranh ảnh, đồ vải. . .”
“Dọn về nhà bà bất cứ cái gì, bà Clara à.” Mẹ bảo. “Sau khi chúng tôi đã đi, cứ đem cả về nhà mà dùng bà à.”
“Không được, thưa bà!”
“Tôi muốn vậy,” Mẹ nói. “Bọn Đức Quốc Xã sẽ dọn sạch sẽ, bà biết chứ.”
“Tôi không dùng được, bà ạ,” Clara xoa hai tay vào nhau. “Tôi sẽ đem về nhà và giữ hộ bà những thứ nào tôi mang được.”
“Thôi mình xuống lầu nói chuyện đi bà Clara,” Mẹ bảo. “Lisa, Ruth này, đi ngủ đi các con, sáng mai mình sẽ đi rất sớm đó.”
“Cố thoát khỏi Đức đi bà,” tôi thoáng nghe Mẹ nói với bà Clara.
“Không thể được, bà Platt à, Mẹ tôi. . .” tiếng bà Clara
“Thì đem bà cụ cùng đi, nên rời chỗ này càng sớm càng tốt, qua Anh hay Pháp gì cũng được, chiến tranh sẽ ập tới đây cho coi.”

Cánh cửa đã khép, tôi không còn nghe gì thêm. Tôi bước quanh phòng, ngắm nhìn mọi thứ rồi sáng mai, mình sẽ phải bỏ lại đây, trong lòng vẫn không tin sẽ có chiến tranh. Chiến tranh hãy còn ở đâu xa lắc xa lơ với những dân tộc lạ lẫm nào đó. Tôi có đọc ít nhiều về chiến tranh, về những người mang đầy thương tích, về những người đàn bà và những đứa trẻ tìm nơi lẩn trốn và về cả sự chết chóc. Tôi cũng nghe nói về những người đàn bà đã xé cả những tấm trải giường để băng bó vết thương, hoặc có những người phải đi lục tìm than đốt hay thức ăn, và rồi đã phải ăn cả những con thú nuôi thân thiết bên mình để chống chọi với những cơn đói khủng khiếp. Mauschen! Miệng tôi bỗng khô lại như vừa vập vào một nỗi kinh hãi khủng khiếp. Con mèo xinh xắn của tôi, rồi đây nó sẽ ra sao? Còn ai nhớ cho nó ăn và đêm đêm gọi nó vào nhà? Ai sẽ giữ gìn nó trước cơn đói khủng khiếp của con người?
Tôi chạy vội vào nhà bếp. “Dì Clara! Dì Clara ơi!” Tôi gọi to. “Xin dì hãy đem Mauschen về nhà dì nghen. Nó sẽ ‘khóc’ khi nhà con đi hết chẳng còn ai. Xin đừng cho kẻ lạ bắt nó đi nghe dì, tội nghiệp. Họ có thể sẽ. . .đôi lúc vì chiến tranh. . .” Tôi không dám nói ra và cũng không dám nghĩ đến điều ghê gớm đó. Con Mauschen bé nhỏ của tôi chỉ là một chú mèo chút bẻo màu nâu hôm đầu tiên tôi gặp.
“Lischen à, bình tĩnh đi con, hiển nhiên là dì sẽ trông coi nó mà,” bước lại choàng tay ôm lấy tôi, bà Clara trấn an. “Dì sẽ chẳng để cho chúng đụng tới nó đâu.”

Tôi đâm bổ ra ngõ sau đến chỗ Mauschen nằm ngủ trong cái rổ bé xí. Tôi đặt tên cho nó như thế vì lúc đó trông nó hết sức giống một con chuột tẻo teo, thế mà bây giờ đã mượt mà, xinh xẻo là thế. Tôi bồng nó lên ôm sát vào lòng, Mauschen khẽ kêu lên một tiếng “meow” còn đầy ngái ngủ.
Bà Clara đón lấy nó trong tay tôi. “Chú mèo thật xinh,” bà thầm thì, “tuyệt quá; dì hứa sẽ luôn luôn chăm sóc nó.”
“Nhớ đem cả cái ‘nôi’ nghen dì, nó quen rồi,” tôi dặn thêm.
“Dì nhớ,” bà Clara hôn nhẹ lên má tôi. “Giờ đi ngủ đi con, đừng lo gì nữa cả. Ngủ ngon nghe con, Lischen,”
“Chào dì, Clara.” Tôi quay về phòng vừa lúc nhìn thấy một cây xúc xích dài còn nguyên trong giấy bọc nằm trên kệ. “Cho con cái này nghe dì,” tôi hỏi.
“Xúc xích à?” Bà Clara hơi ngơ ngác. “Con vẫn chẳng thích xúc xích mà.”
“Giờ thì con thích.”
“Được mà, lấy đi con,” bà nói nhưng đầu lắc nhè nhẹ trong chút bối rối; rồi giọng bà chùng hẳn xuống như một lời thì thào văng vẳng, “Ờ, dì hiểu rồi, lấy đem theo đi con gái."

Bước vào phòng tôi khẽ nhét cây xúc xích xuống đáy va ly, dấu không cho chị Ruth biết kẻo rồi chị lại cười vang và chế nhạo tôi là một thứ ngỗng đực. “Một cây xúc xích chẳng thể cứu người ta khỏi chết đói đâu em cưng,” có thể chị sẽ giễu tôi như vậy, nhưng thây kệ, có nó dù sao tôi vẫn thấy yên tâm hơn.
Tôi đặt lưng xuống giường, một cảm giác rã rời chạy nhanh trong từng thớ thịt. Suốt ngày nay cứ lụi hụi đóng gói với lại chọn lựa đồ đạc; rồi thì lau chùi bụi bặm mọi thứ, nào sách, nào giầy trượt băng, đồ chơi, rồi bộ sưu tập búp bê, mân mê cầm từng con một lên tay. Chị Ruth không hiểu vì sao tôi cứ phải lau chùi những thứ đó, dẫu gì thì cũng phải bỏ lại thôi; và tôi cũng không thể giải thích được, chỉ biết là tôi muốn mọi thứ phải sạch sẽ, gọn gàng.
Chị Ruth vẫn còn đang lục lọi lung tung trong mớ đồ đạc của mình. “Chị xong chưa?” Tôi ngáp dài. “Đi ngủ chứ.”
“Gần xong,” chị lầm bầm trong miệng mà cứ khom người trên hộp đàn vỉ cầm.
Tôi ngồi bật dậy mới hay rằng chị đang đút lén cái gì đó trong lớp vải lót hộp đàn. Tôi la lên, “Chị đang làm gì đó?”
“Quên đi,” Ruth trả lời.
Trời, chị đang rị mọ dấu tiền; tôi nói như hét, “Ruth, đừng làm vậy!”
“Chả ai thấy đâu,” chị Ruth vừa nói vừa tiếp tục. “Em có nghe Mẹ nói không, mỗi người chỉ được mang theo có mười đồng Mark thôi. Ai dám chắc chừng đó là đủ sống cho đến khi tới Mỹ?”
“Như vậy là lén lút, là buôn lậu,” tôi nói trong hào hển. “Bộ chị không hay biết chuyện gì đã xảy ra cho gia đình ông Millers à?”
“Câm miệng,” Ruth quyết liệt. “Im ngay, em chẳng phải thắc mắc gì hết về chuyện này; đây là tiền của chị, tiền mừng Sinh nhựt của chị.”
Tôi nhìn chị đang miết phẳng những đồng bạc vào mặt đáy hộp đàn, lấy ống keo dán nặn một chút vào chỗ lớp vải bung lên, rồi ép thật mạnh vào đáy hộp.
“Này, nhìn coi,” chị nói. “Thấy gì đâu.”
Tôi bước lại năn nỉ, “Đừng làm vậy, Ruth, không ổn đâu.”
“Đừng ngốc nghếch,” chị đáp thẳng thừng. “Phải tìm cách tự cứu mình chứ. Chị đã dự trù ngay từ đầu rồi.”
“Em mách Mẹ,” tôi hăm.
“Thách đó!” Ruth bước lại chỗ tôi, nắm chặt nắm tay. “Thách đó!” Rồi đổi giọng, chị lại dỗ ngọt. “Em cứ nghĩ xem, Mẹ sẽ vui biết mấy khi qua tới Switzerland, Mẹ có thêm được những đồng tiền này. Mẹ cần nó để mua đồ ăn thức uống. Em có thể hình dung được không, mình sẽ giống thứ gì khi bị đói khát? Ý chị muốn nói là khi chúng ta chẳng có một thứ gì để ăn; nghĩ đi em. . . con bé Annie sẽ khóc lả người đi vì đói. . . Mẹ lo nhiều lắm đó em. Ba đã chẳng từng dặn chị em mình phải gánh lấy trách nhiệm hay sao?”
“Chị nhìn xem này,” tôi chỉ vào một đốm ươn ướt trên lớp vải.
“Ồ, sáng mai sẽ khô,” chị Ruth nói đầy tự tin. “Em sẽ yên tâm với những gì chị làm. Rồi em sẽ thấy, này nhìn lại coi, như mới nguyên; thấy gì đâu nào.”
Tôi lại ngáp. Chẳng tài nào cãi lại chị Ruth đâu, và tôi cảm thấy mệt mỏi quá chừng. “Thôi được,” tôi thở dài. “Giờ đi ngủ chứ.”

Tôi cần phải ngủ một chút; nhưng thình lình tôi lại ngồi bật dậy. Dưới ngạch cửa vẫn còn một vệt sáng mờ mờ, và có tiếng đập mạnh rồi thì tiếng khóc rấm rứt nho nhỏ. Tôi trườn khỏi giường và nhón chân rón rén bước dọc hành lang đến phòng bé Annie.
Con bé còn đang đứng trước một thùng bìa cứng bự xư với vài con búp bê trên tay. Tôi nghe một tiếng nấc, rồi con bé khóc, rồi lại lầm bầm, “Mình chẳng bỏ rơi các bạn đâu. Mình sẽ đem theo hết.”
“Annie, em đang làm cái trò gì thế?” Tôi thầm thì với nó. “Chị bảo em đi ngủ đi.”
Annie ngước nhìn tôi, “Em đang xếp đồ.”
“Sao, Mẹ đóng thùng cho em rồi mà. Em không thể mang theo hết mớ búp bê này đâu.”
“Em không bỏ lại đứa nào hết,” Annie vừa nói vừa ngúc ngắc đầu vẻ bướng bỉnh.
“Này em, nghe chị nói này. Ngoan đi em, nghe chị một phút thôi,” tôi quỳ xuống một bên cho Annie bám lấy tôi. Mặt nó đỏ phừng và ướt đẫm, những lọn tóc quăn cũn cỡn rối nùi. Tôi hôn lên má nó và dỗ dành, “Đừng khóc nữa, bé con, đừng khóc. Ngồi lên đây với chị.” Tôi kéo nó đứng lên và đặt ngồi bên cạnh giường với tôi. “Nào, kể chị nghe, chuyện gi?”
“Em không thích nói,” Annie lầm bầm. “Em không bỏ rơi bất cứ Susan nào cả.”
Con bé gọi tất cả búp bê nó có là Susan; chúng tôi có chòng ghẹo thế nào đi nữa thì nó vẫn cứ cương quyết giữ lấy cái tên nó ưa.
“Chúng đâu có bị bỏ rơi,” tôi thầm thì. “Khi mình về lại nhà thì chúng lại gặp nhau mà. . .”
“Hứ, chị biết rồi mà, mình không về lại đây đâu!” Giọng con bé đầy vẻ oán trách.
“Annie!”
“Em nghe hết rồi. Nhà mình không bao giờ về lại đây đâu. . . mình qua Mỹ mà.”
“Xuỵt!” Tôi ngăn nó lại. “Không được nói vậy, không nói với bất cứ ai như vậy nghe chưa. Ai bảo em nghe những chuyện đó. Em hiểu chưa?”
Tôi nắm chặt lấy tay nó; con bé lại khóc.
“Im nào,” tôi cố dỗ dành. “Im, nếu không Mẹ nghe hết bây giờ. Nhìn đây, nghe chị nói này, chuyện này hệ trọng vô cùng.” Đôi mắt đen láy của nó mở to đầy lo lắng.
“Nếu có ai hỏi em nhà mình đi đâu, em phải nói là đi nghỉ hè tại Thụy Sĩ, nghe chưa. Nào, nói lại cho chị nghe coi.”
“Thụy Sĩ,” con bé thì thào.
“Để nghỉ hè,” tôi nói thêm trong khi tay vẫn nâng cằm con bé.
“Để nghỉ hè,” Annie nhắc lại; rồi gắng thêm một cách yếu ớt, “. . . cho em mang theo hết búp bê nha.”
“Không được, không còn chỗ chứa.”
Môi con bé lại run lên nhè nhẹ.
“Đừng khóc! . . .” Tôi nhắc chừng con bé, “. . .mà Mẹ nói em chỉ được mang theo hai đứa thôi. . . vậy thôi.” Tôi hít vào thật sâu để lấy thêm kiên nhẫn. “Giờ em chọn đi, đứa nào.”
Hai chị em lôi hết búp bê ra khỏi thùng, xếp lên giường.
“Rồi, đứa nào trước?” Tôi hỏi Annie mà thừa biết con bé sẽ chọn con nào rồi.
“Con tí teo này,” Annie vừa nói vừa áp con búp bê mặc cái áo len đã sờn rách vào ngực. “Nó cần có mẹ nhứt đó, nó không muốn ở một mình.”
“Rồi, em lấy đi; con tiếp theo.”
Annie cứ đi tới đi lui, cắn môi suy nghĩ. Nó mân mê từng con búp bê, xoa lên từng mảnh vải áo; cuối cùng con bé thở dài. “Em không lựa được. . . chắc em phải đem hết.”
Tôi lắc đầu nhè nhẹ, nghĩ lại điều duy nhứt còn làm được mà tôi đã nghĩ đến ngay từ lúc đầu. “Em thích ‘Cô Dâu,’ phải không nào?” Tôi hỏi. Hai mắt con bé mở lớn, tròn xoe, miệng há hẳn ra, “ ‘Cô Dâu’ của chị, đẹp nhứt thế giới đó!”

Con búp bê đó là quà sinh nhựt vừa qua dì Helga đã cho tôi. “Mười hai tuổi rồi, đã lớn rồi đó, không còn là tuổi chơi đùa với búp bê nữa đâu,” dì thủ thỉ, “nhưng con gái cần có một con búp bê thật đặc biệt sau cùng để mang theo cùng với tuổi lớn khôn.” Con búp bê đẹp tuyệt, cao khoảng tám inche với áo đầm trắng, mạng che mặt có ren thêu tay. “Cô nàng” còn đeo xâu chuỗi ngọc bé tí trên cổ và chân mang giầy cao gót trắng tinh. Tôi nhắm mắt trong giây lát hình dung lại “Cô Dâu” bé xíu mà tôi đã cẩn thận xếp vào thùng mới hồi xế trưa nay.
Thât chậm rãi, tôi nhắc lại với bé Annie, “Nếu em hứa không nói tí gì về hai chữ ‘nước Mỹ’ với bất cứ ai, chị cho em con búp bê đó.”
Annie hồi hộp, “Em giữ luôn hả?”
“Đúng!”
“Em hứa! Em hứa mà!” Con bé vừa reo vừa nhẩy cẫng lên.
“Nếu em không giữ lời hứa,” tôi nghiêm giọng, “chị sẽ lấy lại, và em đừng hòng rờ tay vào nó nữa.”
“Em không nói đâu,” Annie thì thào mà hai mắt sáng lên.
“Bây giời đi ngủ đã. Sáng sớm mai. . . à mà không, lấy ngay bây giờ cho em. . .”
Cầm lấy con búp bê tôi vừa mang lại, con bé đặt ngay lên giường cạnh chỗ nó nằm, lùa nhè nhẹ cho bộ áo đầm thêu ren của búp bê nằm im dưới lớp mền; con bé đưa ngón tay cái lên môi rồi nhìn tôi nhoẻn miệng cười, một nụ cười sung sướng rất thần tiên.

Sáng hôm sau, trời còn rất sớm, gia đình tôi đã sẵn sàng lên đường, Annie im lặng ngồi trên ghế sofa chờ Mẹ thay quần áo cho, một tay cầm con Tí Teo và tay kia ôm lấy "Cô Dâu."
“Lisa à,” tiếng Mẹ gọi. “Annie nó lấy ‘Cô Dâu’ của con, con biết không? Con chưa đóng gói nó à?”
"Con cho Annie đó, Mẹ ạ,” tôi nói mà tránh ánh mắt của bà. “Con lớn rồi, đâu còn tuổi chơi búp bê nữa, Mẹ há!”

Tác giả: Sonia Levitin
Người dịch: -Hereami-
Reply With Quote
  #10  
Old 11-15-2009, 09:39 PM
Hereami
Bảo Quốc Công Thần
 
Ngày gia nhập: Apr 2007
Bài đăng: 2,073
Bài đã viết trong Blog: 75
Định sẵn Tạp Ghi—Hereami

Con Đường Tới Mỹ
Chương 4


Ngăn Trở Cuối Cùng

Ngôi nhà tôi đã sống suốt những năm dài trong đời; giờ nhìn lại đây chỉ còn thấp thoáng mảnh sân nhỏ tôi từng chơi đùa với “lũ” búp bê, kia là khung cổng sắt thấp, và kia nữa là cửa sổ cầu thang dẫn lên phòng ngủ có chiếc màn ren dì Clara may cho; và đám hoa bạch lạp dọc theo lối đi tự tay tôi trồng năm ngoái cũng còn đứng đó.

Trời mới vừa mờ sáng, xóm giềng còn đang ngủ yên và những mái nhà còn nằm im lìm lẩn khuất trong bóng đêm, mặc chiếc tạp dề trên người, dì Clara đưa gia đình tôi ra xe taxi đang chờ sẵn. “Tạm biệt,” dì nói lớn, như thể phòng xa có ai đó đã thức giấc cũng đều nghe, “chúc gia đình nghỉ hè vui vẻ; vài tuần nữa gặp lại nghen.” Dì cho tay vào túi lấy cho mỗi người một hộp bánh tròn nhỏ, “Đây là quà cho cả nhà nhấm nháp trên xe lửa.”
Tôi vòng tay ôm lấy bà, “Cám ơn dì Clara.” Tôi muốn nói thật nhiều nhưng rồi chữ nghĩa như khô nghẽn lại, chỉ còn những tiếng “Tạm biệt dì.”
“Đừng khóc, Lischen,” dì nhắc tôi mà hai mắt đã ươn ướt.
“Này con, Lisa ơi,” tiếng Mẹ. “Đỡ Annie lên xe đi con, nhanh lên nào, một giờ nữa là xe lửa khởi hành rồi đó.”

Taxi tăng tốc độ, vòng xuống phố trong tiếng huýt sáo khe khẽ của người tài xế. Tôi chưa hề thấy phố phường vào lúc tảng sáng bao giờ. Những con đường nằm im lìm trong ánh sáng mờ mờ của một ngày mới sắp bắt đầu, thưa thớt vài người qua lại. Xe đang ngang qua khu công viên lớn ngày nào tôi vẫn chơi đùa cùng bạn bè, hoặc tha thẩn trên những con đường dẫn vào Sở Thú. Chiếc bục dành cho dàn nhạc trình diễn, giờ hoang vắng quá, chỉ còn những nét ủ rũ đang lao chao trong tẻ ngắt. Rồi đây đám trẻ con biết có còn được vào nô đùa để những bà mẹ được rảnh rang ngồi trên sân thượng, vừa nhấm nháp cà phê với bánh ngọt, vừa nhìn theo các con mình; và có còn nữa không, các cô bảo mẫu trong áo khoác trắng đẩy xe em bé dọc theo lối đi hai bên có tàn cây che mát? Tôi thấy cổ mình nghèn nghẹn khi thầm mong sao cho nơi đây, dù thật lâu sau ngày gia đinh tôi đã rời xa, hàng tuần vào những chiều chủ nhật vẫn còn ban nhạc tới trình tấu những bản luân vũ theo thể loại Vienne, vẫn còn đám con trai đá banh trên cỏ và cũng vẫn còn những đứa bé nài nỉ cho ngồi lên những con ngựa chạy quay vòng. Và những gia đình như gia đình tôi hôm nay, vẫn còn được cùng bạn bè quây quần quanh những chiếc bàn, cười đùa trò chuyện.

Những tưởng chẳng bao giờ khác lạ vì đổi thay. . . nhưng rồi mọi chuyện đã thay đổi, chầm chậm, từ từ, như bóng mây che lấy mặt trời, để chỉ còn một cảm giác xa xôi rờn rợn không thể lý giải. Bắt đầu là hình ảnh những tên lính lầm lì, lạnh lùng trong những bộ đồng phục có những dải viền trên tay áo và giầy đen cao cổ. Đám trẻ con chỉ dám đứng xa xa trố mắt nhìn và thầm thì, nhưng rồi chẳng được bao lâu, ngay những đứa bé như Annie cũng biết nên tránh mặt những tên lính đó.
Hàng ngày trên đường tới trường, Ruth và tôi đã phải chứng kiến cảnh tượng những tên lính này, tay trong tay hàng hàng lũ lũ đi nghênh ngang trên phố, vừa cười đùa vừa hát inh ỏi. Tệ nhất là những đứa dù còn tuổi học sinh mà cũng đã áo sơ mi nâu, cài nơ đen và mang quốc huy hình chữ vạn ngược, từng toán năm sáu đứa với nhau, dăng hàng ngang đi tràn lan trên những con phố đông người như thể phố phường là nhà riêng của chúng. Chúng hát những bài hát mới rất lạ lùng, mà một trong số đó với những lời khủng khiếp, tôi chẳng thể tin là tai mình đã nghe thật rõ ràng như thế:
“Khi nào máu bọn Do Thái phun ra trên đầu mũi dao của chúng ta,
Mọi chuyện sẽ tốt đẹp hơn ngày trước gấp hai lần! . .”
Trên vài góc phố, những tên lính khác vừa lắc liên hồi những thùng quyên tiền, vừa cùng gào lên một điệu, “Ủng hộ, ủng hộ, hãy ủng hộ Đức Quốc Xã!” Mỗi lần như thế, chị Ruth và tôi cố giữ vẻ mặt lạnh lùng bước đi mặc cho những tiếng rổn rẻng của những đồng tiền cứ khua vang chói tai như muốn xô đẩy tôi đâm đầu bỏ chạy.

Có một buổi xế trưa nào đó, đang đi mua sắm, ba Mẹ con tôi đã bị chặn lại bất thần; chẳng ai có thể đi thêm được bước nào nữa khi đường phố đã bị chăng dây với hàng hàng lớp lớp người đã tề tựu.
“Có diễn hành, các con ạ,” Mẹ nói, mặt xạm lại. “Ồ, phải chi! . . Mình phải đứng đây cho đến lúc duyệt binh xong.” Nắm chặt lấy tay Annie, Mẹ nghiêm giọng, “Không đi đâu hết nghen Annie, không khóc nghe chưa!”
Tất cả những gì tôi có thể nhìn thấy trong đám đông ấy, là những chóp nón sắt và những bước đi nhịp nhàng trong những đôi giầy đen cao cổ. Trống dộng lên như sấm rền, còi hú và kèn đồng vang vang chát chúa; màu cờ Đức thân yêu không còn nữa, giờ chỉ còn những lá cờ Đức Quốc Xã đỏ tươi với hình chữ thập móc đen xì đang bay phần phật. Đột nhiên, đám đông gào lên cuồng nhiệt, “Hitler muôn năm! Hitler muôn năm!” Cả thành phố dường như đang rung chuyển theo những tiếng hô vang dội, làm hai chân tôi run lên cầm cập tưởng chừng không còn đỡ nổi tấm thân này nữa. Ba mẹ con tôi đứng bất động, chết lặng, không cất lên được một tiếng nào giữa sự ồn ĩ của đám đông cho tới khi kết thúc. Chúng tôi về nhà, quay cuồng trong ý nghĩ, tất cả như vậy là đã hết, chẳng còn một chút gì của ngày xưa nữa.

Xe bất ngờ thắng gấp rồi dừng hẳn làm Annie xuýt rơi khỏi ghế. Mẹ cau mày, “Gì vậy, bác tài?”
“Không chạy được rồi,” người tài xế lầm bầm. “Đang chuẩn bị mít tinh và diễn hành.”
“Mới mờ sáng đã diễn hành sao?” Mẹ kêu lên.
“Bà thấy bảng kia chứ? Mười giờ mới khai mạc, nhưng họ đóng đường bây giờ để lập khán đài.”
Nhìn qua cửa xe, tôi thấy lính tráng đang khám xét khu vực hành lễ; vài người đang treo lá cờ Đức Quốc Xã thật lớn sau khán đài. “Đẹp quá!” Annie nhoài người cười rúc rích làm tôi muốn véo cho nó một cái.
“Đích thân lãnh tụ Hitler sẽ nói chuyện hôm nay,” người tài xế giải thích trong niềm hãnh diện. “Bà không có mặt hôm nay thật uổng.”
“Vâng, đúng vậy,” Mẹ nhỏ nhẹ, trong lúc tôi quắc mắt với Annie và hất đầu về phía con búp bê Nàng Dâu đe dọa.
Một tên vệ binh với súng ngắn bên hông bước lại. “Không qua đây được,” giọng hắn cộc lốc. “Mọi xe cộ đều cấm lưu thông đến khi diễn hành xong.”
Người tài xế vừa ngáp vừa gãi đầu, “Chắc là vòng qua đường khác.”
“Không. . . cũng chặn luôn; muốn vòng thì chỗ kia kìa,” tên vệ binh chỉ trỏ. “Đi đâu?”
“Trạm xe lửa.”
“Phải đi thêm sáu blốc phố nữa rồi quẹo trái. . .”
Mẹ cúi nhìn đồng hồ rồi lắc đầu nhè nhẹ. Bà cầm lấy chiếc ví tay, bất thần xuống xe và đi lại phía tên vệ binh.
“Tôi biết mình quá thiệt thòi không có mặt trong buổi diễn hành hôm nay,” giọng Mẹ vui vẻ thật tự nhiên. “Thật là uổng, các cháu chúng nó thích xem lắm,” bà thoáng mỉm cười.
“Nếu bà chờ được,” tên vệ binh nói, “tôi sẽ sắp thêm ghế cho bà và các cháu. Bà nghĩ xem, vinh dự biết mấy cho các cháu khi được nhìn lãnh tụ tận mắt,” hắn nói trong ánh mắt sáng ngời.
“Ông tốt bụng quá,” Mẹ đáp. “Nhưng thật đáng tiếc, họ hàng đang đợi chúng tôi tại nhà ga Thụy Sỹ, mà hôm nay lại chỉ có một chuyến tàu duy nhứt. Tôi tin là sự thèm muốn xem buổi lễ của các cháu cũng sẽ nguôi. Tôi đã giải thích để các cháu hiểu là, dĩ nhiên những rào cản này chưa thể tháo bỏ không phải chỉ vì một gia đình mình đâu.”
Tên vệ binh liếc nhanh, “Tôi chắc rồi đây còn buổi diễn hành tương tợ thế này cho các cháu xem, mong chúng sẽ thấy hứng thú với chuyến du lịch này.” Hắn lại liếc vào trong xe. Annie áp mặt vào gương cửa, vẫy tay cười thích thú.
Mẹ đưa tay ra với một tờ giấy bạc gấp gọn và kẹp sát giữa hai ngón tay.
“Chắc chắn là bà đi được rồi,” hắn thẫn thờ.
“Ông quyết định thật tuyệt,” Mẹ đáp
“Không có chi,” hắn vừa nói vừa nhét ngay tờ bạc vào túi. “Tôi không đành lòng làm bà trễ tàu, dù biết các cháu sẽ tiếc buổi lễ hôm nay biết là chừng nào—Tôi cũng có hai đứa con.”
“Đồng chí đáng yêu quá,” người tài xế nói vang khi chiếc rào cản được kéo qua một bên cho xe tiếp tục về hướng nhà ga.

Gia đình tôi lên tàu vừa lúc những tiếng phì phì huýt huýt vang lên khi máy khởi động, rồi con tàu chuyển bánh. Mẹ nhờ một công nhân trên tàu xoay ghế ngồi quây tròn lại để chúng tôi có thể nhìn thấy nhau; rồi bà ngồi tựa hẳn vào lưng ghế, mắt nhắm lại. Nhìn khuôn mặt trắng bợt của Mẹ, tôi chợt phân vân nghĩ ngợi, chẳng biết đêm qua Mẹ có chợp mắt được chút nào không. Bất thần Mẹ ngồi nhổm lên, húng hắng ho và chỉ tay về vòi nước uống phía cuối toa. Chị Ruth vội bưng đến cho Mẹ ly nước và nói, “Mẹ đã chẳng đến bác sỹ Michels khám bệnh mà.”
Mẹ trả lời trong tiếng thở dài, “Đúng vậy con à, nhiều việc dồn dập quá. Nhưng không sao đâu con, Mẹ cần nghỉ một lúc thôi. Con kể truyện cho em nó nghe đi.”
“Lại đây với các chị,” Ruth bảo Annie và chị bắt đầu với truyện “ruột” của chị, Cinderella.
Mẹ lại nhổm người lên và chồm về phía chúng tôi, thầm thì, “Nghe này các con, Mẹ quên chưa dặn, đến biên giới có thể chúng sẽ hạch hỏi mình có đem theo thứ gì có giá trị không; nếu chúng bảo các con không được mang nhẫn này ra khỏi nước, các con phải tháo ra nộp cho chúng, các con hiểu lời Mẹ chứ?”
Chị Ruth và tôi cùng gật đầu, nhưng tôi thực sự không hiểu gì cả. Tôi cúi nhìn chiếc nhẫn với mặt đá xinh xắn trên tay đang nhấp nháy cợt đùa những tia nắng chiếu xuyên qua cửa tàu.

Quả là một buổi sáng lạ lùng và lê thê. Tôi mang theo sách nhưng không tài nào tập trung để mà xem, bên tai chỉ toàn tiếng ốn ào của máy tàu và tiếng bánh sắt nghiến trên đường rầy. Vài cậu bé ngồi trên hàng rào đưa tay vẫy loạn xạ khi tàu chạy vụt qua nhưng tôi đứng im chẳng hề vẫy lại. Chị Ruth đến bên tôi và cùng nhìn qua cửa sổ toa tàu.
“Mình chẳng bao giờ trở lại nữa,” chị thì thầm.
“Có thể một ngày nào đó,” tôi đáp nhưng trong dòng suy nghĩ của tôi, những tiếng “không bao giờ,” “không bao giờ” cứ vang vang nhịp nhàng cùng tiếng rít đều đều của bánh sắt. Con tàu chạy dọc theo sông Rhine—Frankfurt, nơi đây gia đình tôi đã có lần đến nghỉ mùa Đông; và Heidelberg với những lâu đài, thành quách xưa cũ xây bằng những phiến đá lớn. . . biết bao nhiêu là những nơi chốn thân yêu.
Cuối cùng, tàu tròng trành rồi từ từ dừng lại với nhốn nháo những tiếng càu nhàu, “Sao lại ngừng ở đây?” Một giọng đàn bà vang lên đầy cáu kỉnh, “Trạm này đâu có trong danh sách.”
“Trạm cuối trước khi tới biên giới,” một kiểm soát viên vừa la lớn vừa chạy vụt qua toa chúng tôi.
Vài phút sau, một người đàn ông mặc đồng phục bước lên tàu. Tôi nhận ra dải băng đen trên tay áo người này và đôi ủng cao cổ cũng đen.
“Ai Do Thái xuống tàu!” Người này la lớn, “ Do Thái xuống tàu để khám xét.”
Tôi nhìn sững vào mắt Mẹ mả không nói được lời nào.
“Phiền chưa,” ai đó cằn nhằn. “Vậy là trễ cả đám rồi.”
“Dân Do Thái bước xuống!” Người lính Đức Quốc Xã lại hét lên, “Xuống!” Hắn nhìn quanh toa.
“Thôi xuống đi các con,” Mẹ thấp giọng.

Hai bàn tay tôi ướt rịn mồ hôi, mặt đỏ phừng và như không còn bước nổi. Tôi lắc đầu không hiểu gì hết. Tôi muốn thét lên thật to nhưng rồi chết nghẹn trong tiếng thì thào, “Con không xuống.”
“Phải xuống!” Mẹ nắm lấy tay tôi, “Con phải tuân lệnh họ, Lisa à. Đi con, đừng sợ.”
“Mang theo tất cả hành lý,” viên sĩ quan Đức Quôc Xã nói to khi nhìn thấy gia đình tôi đứng lên.
“Mang theo áo khoác, Lisa. Ruth, cầm đàn của con theo,” Mẹ dặn.
Chị Ruth luồn tay dưới gầm chỗ ngồi lấy cây vĩ cầm; tôi cảm nhận được là Mẹ kéo tôi bước dọc theo hành lang tàu.
“Lisa, ngoan đi con,” Mẹ thì thào.
Tôi thờ thẫn bước theo Mẹ trong khi mọi cái đầu đều quay về phía chúng tôi. Trên tàu chỉ có duy nhứt gia đình tôi phải xuống để khám xét. Hành lang như dài thêm sau từng bước chân tôi đang gắng gượng lết tới, mắt cố ngước lên. Nhưng tất cả cứ nhìn chòng chọc vào chúng tôi , mọi con mắt đều đổ dồn vào gia đình tôi. Tôi muốn thét vào mặt từng người, “Sao nhìn như vậy? Chúng tôi có gì khác với các người đâu!” Tôi thấy lờ mờ như Annie đi vụt qua tôi, ngoái đầu mỉm cười, và tôi chợt nghĩ đến gia đình Millers.

Tất cả va ly đều xếp ở cuối toa. Mẹ bắt đầu lục tìm. Bà bảo chị Ruth và tôi mang va ly của hai đứa. . . chợt có người đàn ông tóc đã hoa râm bước lại.
“Cho phép tôi được giúp bà,” ông ta nói thật nhỏ nhẹ, rồi hai tay xách lên hai chiếc va ly.
“Cám ơn ông,” giọng Mẹ như thì thầm.
“Không thể tin nổi,” giọng ông ta như lầm bầm cùng với hơi thở.
Mẹ nhìn ông ta và lắc đầu nhè nhẹ trong khi tên Đức Quốc Xã bước vụt qua chúng tôi réo gọi, “Mau lên! Mau lên!” Chúng tôi được dẫn vào một lều nhỏ quây ván với những ghế dài làm bằng những mảnh gỗ vụn ghép lại đặt dọc theo vách nhà; một tên Đức quốc Xã khác ngồi bên một quầy rộng như đang chờ chúng tôi.
“Mở va ly ra,” hắn ra lệnh.
Bằng hai tay, hắn lục lọi hết mọi thứ quấn áo của tôi, cả quần lót, đồ ngủ cũng bị giũ tung. Hắn luồn tay cả vào trong giầy, rồi sục xuống đáy va ly, lôi cả cây xúc xích ra ngoài, hai môi mím chặt. “Này, không biết thực phẩm này bị cấm hay sao?” hắn hét lớn.
“Chỉ là. . .” Mẹ ngừng lại húng hắng ho nhẹ, “cháu nó thích thôi mà.”
Tôi nghe tiếng cây xúc xích bị ném tọt vào thùng rác sau quầy làm việc. Mớ quần áo của tôi giờ bị dồn lại va ly. Khi cả bốn chiếc va ly đã được đóng lại, tên lính Đức Quốc Xã quay nhìn Mẹ, “Có nữ trang gì không?”
“Chỉ có vài thứ này,” Mẹ chỉ vào đồng hồ, vòng và nhẫn đeo trên tay.
Hắn cố mỉm cười thân thiện, “Nói thật đi để khỏi bị trừng phạt; bà có chắc là không mang theo thứ nữ trang nào khác không?”
“Dạ, chỉ có những thứ theo quy định,” Mẹ nhấn mạnh
“Được,” hắn lạnh lùng nói. “Vào đây, bà Krantz đâu, khám xét người này.”

Người đàn bà tên Krantz có khuôn mặt tròn vành vạnh, tóc bện lại quanh đầu, mặc đồng phục xanh đen. “Cởi giầy và áo ngoài ra,” bà ta nói với Mẹ trong khi chúng tôi ngồi lại căn phòng nhỏ xíu và lạnh ngắt; cả chị Ruth, tôi và con bé Annie cùng chăm chú theo dõi người đàn bà hăm hở khám xét giầy, túi quần áo, rà tay trên lớp vải áo của Mẹ. Đoạn bà ta nói tiếp, “Lấy hết các thứ trong ví bỏ lên bàn.”
Tôi thấy rởn người khi chợt nghĩ, người đàn bà này dám mò mẫm trên người tôi, luồn cả tay rà trên da thịt tôi như khám xét một tên tội phạm.
“Bây giờ đến lượt đám trẻ,” giọng bà ta có vẻ kém phần hăm hở, “chỉ cần cởi giầy và áo ngòai thôi.”
Cũng lại luồn tay vào trong giầy, rà trên từng nếp gấp quần áo của tôi, rồi bà ta nhìn chiếc nhẫn tôi đeo trên tay, không nói gì thêm trong khi mở cửa gọi với ra ngoài. “Không có gì cả.”
Chúng tôi bước ra khỏi căn lều, dưới ánh nắng, một tên lính Đức Quốc Xã lại leo lên tàu. Hắn đưa tay ngăn chúng tôi lại rồi quỳ xuống bên cạnh bé Annie.
“Búp bê của cháu đẹp quá,” hắn nói. “Cho chú coi chút.”
Annie nhìn sững vào mặt hắn và ôm chặt con búp bê vào ngực.
Mẹ bảo, “Đưa búp bê cho chú đi con, Annie.”
Annie làm theo lời Mẹ; con bé cắn chặt môi khi tên lính này lục lọi khắp lớp ren viền và vải áo trên con búp bê.
“Xong rồi,” hắn nói và nhanh nhẹn xoay người đánh hai gót giầy vào nhau. “Mời. . . À, khoan đã, xuýt nữa quên cái này. . . gì đây?” Hắn vừa nói vừa chỉ vào hộp đờn của chị Ruth.
“Cây đờn của cháu,” Ruth nói nhỏ xíu như tiếng thầm thì.
“Lệnh cấm đem nhạc cụ ra khỏi nước,” hắn dõng dạc.
“Nhưng, tôi chỉ. . . tôi cần phải thực tập hàng ngày.”
“Nhạc cụ tuyệt đối bị cấm!”
“Thôi bỏ đi con, Ruth,” Mẹ thấp giọng thúc giục. “Bỏ đi con.”

Gia đình tôi trở lại tàu, chị Ruth bước đi, đầu cúi xuống. Tôi thoáng quay lại, tên lính ban nãy đã lấy cây vĩ cầm ra khỏi hộp và đang miết ngón tay trên lớp gỗ bóng mượt. Chị Ruth vẫn trong tư thế như chẳng còn gì tha thiết. . . Trên suốt đoạn đưởng tới thành phố Zurich, Ruth không nói một lời nào.

Tác giả: Sonia Levitin
Người dịch: -Hereami-
Reply With Quote
Trả lời

Bookmarks

Những tiện dụng
Trình bày

Nội quy dành cho việc đăng bài
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off



Giờ tính theo giờ quốc tế GMT - Greenwich Mean Time -7. Bây giờ là 07:36 PM.



Top

Thanks to NLP-er you can enjoy automatic translations