|
#1
|
|||
|
|||
|
VIỆT-NAM VĂN HIẾN NĂM THỨ 4870 (TÂY LỊCH NĂM 1991 ) BẠCH THƯ VIỄN ẢNH NƯỚC VIỆT-NAM VÀ KHÁT VỌNG NGƯỜI DÂN VIỆT LỜI MỞ ĐẦU Bản Bạch-Thư này được viết với công tâm và chân tình của những người dân Việt. Nó công bố những sự thật về hiện tình nước Việt-Nam, về những viễn ảnh của đất nước và về những giải pháp cho đất nước trong giai đoạn hiện tại. Nó cũng nói lên những khát vọng của người dân, đồng thời thể hiện mối quan tâm và sự hiểu biết của người dân bình thường học hỏi được từ những kinh nghiệm của đời sống thực tế, từ những vinh nhục, thành bại của tiền nhân trong suốt dòng lịch sử. Xin trân trọng gởi tới: . Toàn thể đồng bào Việt-Nam, các nhà lãnh đạo trong và ngoài nước, · Chính quyền và nhân dân các nước yêu chuộng tự do nhân bản. Một bản Bạch-thư do người dân viết và công bố có thể là một sự khác thường nhưng không phải là một điều nghịch lý. Từ ngàn xưa người Đông phương đã có quan niệm "Dân vi quý" dân vốn là gốc rễ của quốc gia. Dân như dòng nước, chế độ như con thuyền ngự trị trên nước. Nước nâng thuyền và không phải tự nhiên nước làm đắm thuyền; dân thường tôn trọng chính quyền và những người lãnh đạo quốc gia, nhưng dân không phải là nô bộc của chế độ. Từ ngàn xưa trong nếp sống văn hiến của dân tộc Việt cũng đã lưu truyền quan niệm tôn trọng dân ý: "Ý dân là ý trời". Nhưng ý dân có thường được tôn trọng hay không? và ngược lại sự thể hiện ý có chính đáng và phù hợp với quyền lợi tối hậu của cả dân tộc hay không? Đó là câu hỏi cần phải được đặt ra cho các nhà lãnh đạo, cho những nhà văn hóa giáo dục và cho toàn dân. Dân ý liên hệ vô cùng đến sự hưng vong của đất nước, vì nó được kết thành bởi Dân tâm, Dân trí và Dân khí - những yếu tố sinh tồn chủ yếu của dân tộc. Theo lẽ thường, Dân tâm có thuần hậu thì dân tộc mới có hòa bình an lạc, Dân trí có sáng suốt thì quốc gia mới tiến bộ văn minh, Dân khí có quật cường thì giống nòi mới hưng thịnh bền vững. Ngược lại nếu Dân tâm điên đảo, Dân trí u mê, Dân khí rụt rè sợ sệt thì dân tộc phải suy vong. Nội dung bản Bạch-thư gồm có 5 phần: – Phần I : Thực trạng đất nước. – Phần II : Những bài học lịch sử. – Phần III : Viễn ảnh của đất nước. – Phần IV : Khát vọng người dân Việt. – Phần V : Giải pháp đề nghị. Bản Bạch-thư này xin giữ tính khách quan, vô tư, đồng thời thể hiện sự thẳng thắn, trung thực và tinh thần thuận thảo bao dung nhưng bất khuất của người bình dân trong truyền thống Việt. Trân trọng, -------------------------------------------------------------------------------- I. THỰC TRẠNG ĐẤT NƯỚC. Thế giới vừa bước vào thập niên 90 với những biểu hiện sáng ngời của tinh thần Tự-do Dân-chủ, với sự tan rã của khối Cộng-sản Đông-Âu và Liên-Sô, với những thành tích kỷ thuật vượt bực để chuẩn bị bước sang thế kỷ 21. Trước bậc thềm của kỷ thuật cao độ và của nền văn minh mới, Viêt-Nam đã được nhìn thấy như thế nào? - MỘT ĐẤT NƯỚC TAN NÁT: Sau thế chiến thứ hai, Việt-Nam đã bỏ lỡ một cơ hội hiếm hoi giành lại tự do và tự chủ, để lại bị xô đẩy vào cuộc chiến tranh ý thức hệ cốt nhục tương tàn kéo dài suốt 30 năm. Đây chính là sự sai lầm lớn nhất thế kỷ. Trong vinh quang vội vã của một nền độc lập chưa có tự chủ, người dân Việt đã phải trả giá cho lỗi lầm lãnh đạo của thập niên 40 ấy bằng sinh mạng, bằng oan khiên, uất hận, bằng tù đầy, xiềng xích, bằng sự nghèo đói, lầm than, thất học...Đất nước bị cầy nát bởi bom đạn. Môi sinh bị tàn phá bởi thuốc khai quang. Nguồn tài nguyên thiên nhiên bị phá hoại trầm trọng. Nguồn nhân lực bị lãng phí oan uổng. không những thế, cả dân tộc còn phải trả giá bằng sự khánh kiệt niềm tin ở lãnh đạo, ở sự mất mát những giá trị tinh thần truyền thống và sự hoài nghi hoặc chối bỏ lương tri con người. Kết quả, một đất nước tan nát đã gây nên sự phá sản toàn bộ xã hội và con người, sự sai lầm về lãnh đạo đã chặn đứng đà tiến hóa của dân tộc ít nhất nửa thế kỷ. - MỘT DÂN TỘC CHIA LÌA: Chiến tranh, tàn phá, nghèo đói, chậm tiến, người bóc lột người, người hành hạ người... hiển nhiên là những thảm họa đau thương nhất của dân tộc; cho nên trong thời chiến người dân Việt cả hai miền Nam Bắc đều mong mỏi đất nước sớm thanh bình và đều nuôi một niềm hy vọng rằng sau khi chiến tranh chấm dứt và một nền hòa bình được vãn hồi, cả nước sẽ xóa nhòa được những dị biệt, sẽ hàn gắn được tình người, sẽ chung sức tái thiết quốc gia, phát triển kinh tế, văn học, kỷ thuật... để trước hết có cơm no áo ấm và một đời sống yên vui trong tình tự dân tộc; sau, có thể đuổi kịp đà tiến hóa của thế giới. Chiến tranh đã chấm đứt vào tháng tư năm 1975 sau khi Bắc-Việt hoàn tất cuộc giải phóng miền Nam bằng võ lực. Nền Đệ Nhị Cộng-Hòa sụp đổ. Quân đội miền Nam buông súng. Cuộc chiến 30 năm đã chấm dứt nhưng tiếc thay nền hòa bình mong đợi đã không bao giờ được vãn hồi; vì ngay khi tiếng súng chấm dứt thì cả nước biến thành một trại giam khổng lồ; một nền thống trị khắc nghiệt tàn bạo được thiết lập bởi kẻ chiến thắng. Huyền thoại “giải phóng” đã tan tành trong sự đau xót, tủi nhục, uất ức, khốn quẫn của người dân cả hai miền Nam Bắc. Làn sóng người vuợt biển vượt biên tìm tự do chưa từng thấy đã xẩy ra ngoài sức bao dung của các nước có truyền thống nhân đạo trên thế giới. Những con số thống kê với hàng trăm ngàn người chết đuối hoặc bị hải tặc sát hại trên biển Đông chưa đủ để nói lên nỗi đau thương thống khổ của những người mất nước, cũng không đủ để làm nản lòng những người trong nước còn đang hướng về những bến bờ tự do vô định. Một dân tộc đã bị chia lìa giữa hai chiến tuyến suốt 30 năm, ngày nay lại bị xé vụn ra từng mảnh trong bàn tay cứu vớt của thế giới bao dung. - MỘT XÃ HỘI NGHÈO ĐÓI, LẠC HẬU: "Cái nhục của sự nghèo đói lạc hậu cũng không thua kém cái nhục của sự mất nứơc"; sự thật này đã được nói lên bởi chính người dân trong nước. Cả nước nghèo đói tả tơi mặc dầu những thành tích lao động vượt chỉ tiêu luôn luôn được tuyên dương, mặc dầu một số mặt hàng như gạo, dầu thô đã được ghi thêm vào trong danh sách hàng xuất khẩu... Những điều chỉnh vĩ mô về cơ cấu đầu tư và kinh tế luôn luôn được nói đến nhưng tình hình kinh tế càng ngày càng suy sụp. Nạn lạm phát không thể kiềm chế. Những vụ vỡ nợ tín dụng tràn lan. Xu hướng thương mại hóa xâm nhập vào cả các cơ quan văn hóa, y tế, giáo dục, nội chính, ngoại giao... Bất công xã hội gia tăng. Thầy giáo bỏ trường vì túng thiếu, học sinh bỏ trường vì nghèo đói. Trong bản sắp hạng quốc tế, Việt-Nam là một trong năm nước nghèo đói nhất thế giới. Nhìn xa hơn nữa, sự nghèo đói lầm than cơ cực chẳng phải chỉ là một cơn bịnh thời tiết; giới y học cho rằng tình trạng thiếu dinh dưỡng và sợ sệt lo lắng triền miên đang làm suy thoái nòi giống trầm trọng. Phẫn uất chán chường về những ảo ảnh của một thiên đường không có đủ cơm gạo, của một thế giới thiếu thành thật và thiếu tình người, giới trí thức trong nước nổi dậy đòi hỏi sự ngay thẳng của nhà cầm quyền. Ngay cả các tầng lớp cán bộ trung kiên cũng biểu lộ sự bất mãn cùng cực, các thành phần kháng chiến cũ ra mặt chống đối. Với đời sống kinh tế suy sụp, những tệ nạn xã hội như cướp bóc, mãi dâm, gian dâm, ma túy, tham nhũng, hối lộ, người hành hạ người... càng ngày càng gia tăng trầm trọng. Thêm vào đó đời sống tinh thần cả nước đang lún sâu trong vũng bùn: lòng người ly tán, chán nản, hoài nghi, thiếu thật thà, tham lam, ganh ghét, đố kỵ; tầm hiểu biết của người dân bị thu hẹp; phản ứng của dân chúng từ sợ hãi, rụt rè, biến thành thờ ơ, phản kháng tiêu cực. Trong tình trạng suy sụp chung của các nước Xã-hội Chủ-nghĩa anh em, nhà nước lúng túng không tìm ra lối thoát; mọi kế hoạch, sách lược chỉ nhằm mục đích duy trì chế độ. - MỘT DI SẢN KHÔNG CÓ KẾ THỪA: * Ở trong nước, hơn 60 triệu người dân đang sống nghèo đói tả tơi trên mảnh gia sản được gọi là tiền rừng bạc bể. Nửa thế kỷ gian lao, những người mang trách nhiệm trước lịch sử vẫn chưa tìm ra đâu là nền tảng vững chắc để xây dựng nước nhà. Hãy tự hỏi người dân Việt còn có thể vững tin ở quê hương gấm vóc, ở truyền thống ưu tú, ở nền văn hiến lâu đời, ở hơn bốn ngàn năm lịch sử đầy thử thách và đầy dấu vết nhân bản của dân tộc mình hay không? - Sự phá sản toàn bộ xã hội và con người như đã nêu trên là bằng chứng rõ rệt nhất của sự mất niềm tin và mất kế thừa. * Nhìn ra hải ngoại, từ những mất mát về vật chất lẫn tinh thần khi bỏ nước ra đi, sự hội nhập văn hóa Tây phương và đời sống sung túc ở các nước tự do có thể chứng minh cho sự thăng tiến con người hoặc biện minh cho những suy thoái tâm lý hay không? - Trong những xã hội mà cơ hội phát triển lợi tức được tôn trọng và khuyến khích, phần lớn người Việt ở hải ngoại đã bước vào đời sống hoặc với sự đam mê làm giàu, tôn sùng những giá trị vật chất; hoặc với sự khuất phục của con người trong guồng máy khai thác trục lợi của kinh tế tư bản.Thế hệ cha mẹ và con cái dần dần cách biệt do sự hội nhập quá nhanh chóng của lớp trẻ đang lớn lên trong những nền văn hóa Tây phương xa lạ. Những thảm cảnh gia đình cùng với những vết thương xã hội bắt đầu xuất hiện. Mặc dầu giới trẻ đã đạt được nhiều thành tựu, nhưng sự khủng hoảng niềm tin, mất định hướng, mất đối tượng xây dựng, mất truyền thống văn hóa và mất sự kế thừa là thực trạng đầy ưu tư của người dân Việt ở hải ngoại. ***** NGƯỜI DÂN VIỆT NGHĨ GÌ TRƯỚC THỰC TRẠNG ĐẤT NƯỚC? Trong thực trạng của một đất nước tan nát, một dân tộc chia lìa, một xã hội suy đồi, một di sản ngàn năm không được thừa kế; người hải ngoại nhìn về đất nước chỉ thấy một trời u ám cách biệt; người trong nước nhìn về tương lai chỉ thấy sự nghèo đói hẩm hiu. Đất nước Việt-Nam, dù trải qua 30 năm chiến tranh tàn phá vẫn không đến nỗi thiếu thốn tài nguyên, nghèo nàn nhân lực. Người Việt-Nam dù trăm ngàn thử thách dập vùi, vẫn chưa mất khả năng sáng tạo và phát triển. Sự suy sụp toàn diện xã hội và con người tất phải có nguyên nhân. Nhìn lại thực trạng thê thảm của nước nhà trong lúc thế giới đang dũng mãnh bước vào kỷ nguyên văn minh mới, những ai là người có lòng với quê hương dân tộc không khỏi đau lòng! Thời gian cùng nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhân năng, nhân lực và cả nhân tâm đang bị lãng phí một cách trầm trọng và oan uổng. Hàng triệu khối óc ở trong nước đang bị tê liệt trong nguồn máy lao động rỉ sét và quá lỗi thời; hàng trăm ngàn chuyên viên, sinh viên kỹ thuật ở hải ngoại – một con số du học sinh chưa từng thấy trên thế giới – được trang bị những kiến thức cấp tiến không tìm được đối tượng phục vụ đích thực. Nếu thẳng thắn nhìn vào những nguyên nhân đã gây nên thực trạng suy sụp của đất nước hôm nay, có những sự thật hiển nhiên không thể không nói đến: - Đó là những sự thật về một nền văn hóa mất gốc. Nó đã mất gốc ngay từ những biến cố đầu thế kỷ, khi cơn cuồng phong của nền văn hóa duy lý và tinh thần duy vật Tây-phương đã đánh bật và cuốn phăng đi những lũy tre già kiên nhẫn nhất thể hiện cho tinh thần văn hiến ngàn đời của dân tộc Việt-Nam. - Đó là những sự thật về những nền giáo dục ngu dân, hủy diệt tình người, hủy diệt tính quật cường cần thiết của con người, làm cho dân tâm ly tán, dân trí u mê và làm cho con người chỉ còn biết một sự khôn ngoan duy nhất và biết khuất phục cường quyền và thế lực kẻ mạnh để được yên thân phục vụ cho tư lợi. - Đó là những sự thật về một chính sách kinh tế lạc hậu, một đường lối quản trị thấp kém. Những điều đó nói lên một cách rõ rệt sự hẹp hòi u tối của những quan niệm quản trị đã trở thành định kiến, gò bó trong công thức tư duy, không được sự soi sáng của trí tuệ con người. - Đó là sự thật về những quan niệm chính trị cố chấp lỗi thời và sự lãng phí của những chế độ độc tài chuyên chính. Từ xưa đến nay, các chế độ độc tài trong lịch sử chưa từng làm nên những sự nghiệp hữu ích cho dân tộc và nhân loại, Với những thăng tiến của tư tưởng loài người và sự mở mang dân trí, chính trị phải được quan niệm khác hơn là những tham vọng chuyên chính hoặc những thủ đoạn nắm chính quyền; một nền Dân chủ phải được nhìn nhận khác hơn là sự nhìn nhận người dân được quyền làm chủ cái vai cầy của mình, cho dù cái vai cầy ấy có được coi là phương tiện sản xuất chân chính. II. NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ. Trứơc hiện trạng suy vi của đất nước, sự lắng tâm suy nghiệm những bài học lịch sử để học hỏi những kinh nghiệm của tiền nhân là điều tối ư cần thiết. Trải qua những cơn thăng trầm của đất nước với những kinh nghiệm tích lũy từ ngàn đời, người dân Việt ngày nay có thể vững tin ở những giá trị truyền thống của dân tộc mình. Chữ Việt có ý nghĩa bình dị nhất là vượt. Người dân Việt đã hơn bốn ngàn năm chân cứng đá mềm, vượt núi rừng, vượt gian lao, từ Động-Đình Ngũ-Lĩnh tiến về miền đồng bằng sông Hồng sông Cửu lập quốc. Đất nước Việt chẳng phải chỉ trải qua đôi ba cơn bể dâu nghiêng ngửa; trên bước đường sinh tồn và tiến hóa, tiền nhân đã vượt qua biết bao nhiêu thử thách để bảo tồn quốc gia dân tộc mà những chứng tích cụ thể của một nền văn hiến lâu đời cộng thêm với ý chí tự chủ bất khuất của người dân bình thường đã chứng tỏ nó phải là đất nẩy mầm của một nền nhân bản đích thật. 1- NHỮNG ĐIỂM SON CỦA DÂN TỘC. — Trong sự suy nghiệm về những giá trị truyền thống, trước hết phải nhắc nhở tới tinh thần tự chủ ngàn đời với truyền thống quật cường bất khuất của dân tộc ta. Tinh thần ấy đã được thể hiện đầy ý nghĩa từ thời họ Hồng-Bàng mở nước với cái vươn vai của cậu bé làng Phù-Đổng nhổ tre thay roi sắt đánh đuổi giặc ngoại xâm. Tinh thần ấy đã được biểu lộ vô cùng oanh liệt vào thời Bắc thuộc với các cuộc khởi nghĩa của hai Bà Trưng, Bà Triệu mở đầu cho các cuộc quật khởi của các bậc nghĩa sĩ anh hùng và của toàn dân trong suốt dòng lịch sử. Tinh thần ấy đã được lưu truyền cho hậu thế bằng ba bản Tuyên-cáo Tự-chủ lừng danh: Bản tuyên cáo thứ nhất là bốn câu thơ khích lệ tinh thần quân sĩ của lão tướng Lý Thường-Kiệt đời nhà Lý; thứ hai là bản thiên cổ hùng văn "Bình Ngô Đại Cáo" của Nguyễn-Trãi đời hậu Lê; thứ ba là bài văn nôm khích lệ tướng sĩ trước khi xuất trận đại phá quân Thanh của vua Quang-Trung vào mùa xuân năm Kỷ dậu 1789. — Tiếp đến phải nói đến ý thức hợp quần kết thành sức mạnh đồng tâm của dân tộc Việt. Ý thức ấy hiển nhiên đã chận đứng được đoàn quân bách chiến bách thắng của Nguyên chủ Hốt-Tất-Liệt trong thời nhà Trần chống quân Mông-Cổ. Hội nghị Diên-Hồng giữa vua cùng dân thể hiện trọn vẹn tinh thần đồng tâm hiệp lực của dân tộc trước nguy cơ quốc phá dân nô. Sức mạnh của sự "Đồng tâm hiệp lực" ấy chứng tỏ sự thăng hoa của trí tuệ con người; nó khác với sức mạnh sắt máu được tạo thành dưới mô thức "Đoàn kết nhất trí ", ở đấy cái trí khôn của hàng triệu con người bị san bằng dưới cái trí ngu của kẻ lộng quyền bạo ngược. — Thứ ba, trong cơn bể dâu của dân tộc ngày nay, cần phải nhắc lại tinh thần cuộc khởi nghĩa Lam-Sơn: "Lấy chí nhân thay cường bạo, đem đại nghĩa thắng hung tàn". Sau mười năm gian lao thử thách, tình người và nghĩa cả đã kết hợp được toàn dân và giải cứu được đất nước. — Lại rất cần phải nói tới tinh thần văn-hiến của dân tộc ta. "Bốn ngàn năm văn hiến" là niềm reo vui vinh quang nhất của dân tộc. Người dân Việt từ ngàn xưa vốn quen ngồi trên mình trâu hơn lưng chiến mã, nhưng trước bạo lực áp bức, biết quật cường để bảo vệ lẽ sống tự chủ. Ý niệm văn-hiến thể hiện ở tinh thần tự chủ: không cam tâm làm nô lệ kẻ khác nhưng cũng không đang tâm bắt kẻ khác làm nô lệ cho chính mình. Ý niệm văn hiến còn thể hiện ở ý thức bao dung, ở sự tỏa sáng của nhân tính và trí tuệ con người trong những qui ước sống chung của xã hội. — Những điểm son của dân tộc còn phải được nêu lên ở truyền thống dân chủ "Phép vua thua lệ làng" với nếp sống trọng đức tôn hiền, ở tinh thần bình đẳng trách nhiệm và tình yêu thương ruột thịt "bọc mẹ trăm con". Những giá trị truyền thống đương nhiên không phải chỉ có ngần ấy, nhưng ngần ấy đã đủ để nói lên cái bản sắc thủy chung của một dân tộc tự chủ bất khuất, dân tộc "vốn xưng văn hiến đã lâu" 2- NHỮNG BÀI HỌC ĐAU THƯƠNG TRONG LỊCH SỬ. – Bài học vỡ lòng chính là bài học Cổ-Loa, bài học về một nền độc lập trong vỏ ốc của vua Thục An-Dương-Vương. Thành Cổ-Loa là kiến trúc vĩ đại của dòng Việt được xây dựng đồng thời với Vạn-Lý Trường-Thành ở phương Bắc. Nhờ sự trợ giúp của thần Kim-Quy ở giẫy Hồng-Lĩnh, nó đã vươn cao lên ngạo nghễ như một thách thức trước những mưu đồ xâm lăng của dị tộc. Vua Thục An-Dương-Vương đã xây dựng nền độc lập trong vỏ ốc của mình trên những ưu thế vật chất của lũy cao thành chắc, của vủ khí vay mượn và bằng kế hoạch thần phục đế quốc nhà Tần, dâng người hiền cho ngoại tộc. Thế nhưng thành Cổ-Loa dù vô cùng kiên cố, cũng vẫn phải tan tành trước những âm mưu và sức công phá của họ Triệu. Nó phải sụp đổ vì nó chỉ là một khối vật chất vô tri. Không những thế nó còn là cái cớ cho nàng Mỵ-Châu chung thủy vô tình phản quốc hại nhà, dứt áo lông ngỗng, tức là dứt bỏ cái biểu tượng cao quý của văn hóa dân tộc mình, trải trên đường bôn tẩu để dẫn đường cho kẻ thù theo sau lưng truy diệt. – Bài học kế tiếp, bài học đau thương nhất, ngàn năm không thể quên là bài học mất tự-chủ: một ngàn năm làm thân trâu ngựa cho giặc thù phương Bắc; một trăm năm rên siết dưới ách đô hộ tham tàn của thực dân phương Tây; gần đây nhất là mấy chục năm dân tộc bị mất tự chủ văn hóa trước sức bành trướng của ý-thức hệ duy vật. Không kể những thảm họa đau thương nhục nhã mà người dân lành phải gánh chịu, cái hiểm họa chung cho dân tộc, cái di hại cho muôn đời chính là thảm trạng mất văn hóa. Một đất nước mất chủ quyền kinh tế có thể được cứu vãn bằng những kế hoạch sáng suốt của nhà cầm quyền và sự cần cù nhẫn nại của người dân; một quốc gia mất chủ quyền chính trị có thể phục hồi bằng một cuộc đồng tâm quật khởi; nhưng một dân tộc đã mất tự chủ văn hóa thì không một giá trị truyền thống nào, không một sức mạnh quật khởi nào có thể tồn tại; chỉ còn có bạo lực và sự dối trá ngự trị mà thôi. Đó chính là nguy cơ diệt vong của dân tộc. – Bài học đau thương không kém là bài học mất tình nghĩa đồng bào: bài học Sông Gianh với hơn một thế kỷ huynh đệ tương tàn. Giở lại trang lịch sử đau thương ô nhục đó, người ta không tìm thấy dấu vết của tính hiếu chiến và mối hận thù nào ở người dân Việt hiền hòa, mà chỉ thấy ở kẻ lãnh đạo thiễn cận những tham lam, cố chấp, bạo ngược, độc tài... – Người ta cũng không thể quên những bài học Trần-Thiễm-Bình, Lê-Chiêu-Thống, mang thân qụy lụy ngoại bang để mong cũng cố địa vị và quyền lực; bài học Hồ-Quý-Ly lộng quyền để lụy đến muôn dân. Trong lúc quốc gia suy vi, lòng người ly tán, nếu như có kẻ hiền tài đứng lên lãnh đạo, thu được nhân tâm về một mối thì hẳn là điều muôn vàn may mắn vẻ vang cho dân tộc; nhưng nếu chỉ có quyền lực bị thu về một mối, thì chắc chắn đó chỉ là điều đại bất hạnh, chỉ là một mối đại họa cho dân tộc mà thôi. – Bài học gần đây nhất là bài học mất niềm tin: sự khủng hoảng niềm tin bắt đầu khi có sự va chạm với văn minh Tây phương. Bản điều trần của ông Nguyễn Trường-Tộ đời vua Tự-Đức nhà Nguyễn đã như một trái bom làm choàng tỉnh những người đang say ngủ, nhưng đồng thời cũng làm lung lay sự tin tưởng vào những giá trị văn hóa nhân bản đã có từ ngàn xưa. Sự khủng hoãng niềm tin ấy được cảnh giác kể từ cụ Phan-Bội-Châu, người đã khởi xướng phong trào Đông-du, và cũng là người đã ý thức cái giá trị đích thật của văn hóa dân tộc: “Trong túi mình có bảo châu mà lại đi ngữa tay xin người từng hạt gạo, đó chẳng phải là điều hết sức kỳ quái hay sao?”. Sự khủng hoảng niềm tin ấy trở nên trầm trọng hơn nữa khi những chủ nghĩa văn hóa ngoại lai được du nhập vào Việt-Nam, xé nát dân tộc thành từng mảnh vụn, hủy diệt những giá trị nhân bản, biến con người thành những con thú hoang say máu sẵn sàng tàn sát đồng loại không chút nương tình. – Từ cơn khủng hoảng niềm tin ấy, bài học thực tế là sự phá sản toàn bộ xã hội và con người: Đã có một thời người dân Việt, trước các áp lực của các nền văn hóa ngoại tộc, từng hiên ngang đứng lên đâu lưng với nhau, muôn người như một, đồng loạt chĩa những mũi dáo sắc bén ra bên ngoài để bảo vệ những giá trị thiêng liêng, bảo vệ lẽ sống tự chủ hòa bình của dân tộc. Không may lại cũng đã có một thời, khi lẽ sống của người dân bị tước đoạt và những giá trị truyền thống không còn được nói đến nữa, cùng một lúc những áp lực bên ngoài trở nên mạnh mẽ hơn; những mũi dáo sáng quắc đã quay vào nhau. Người ta nghe thấy tiếng cãi vã thay cũ đổi mới. Người ta nghe thấy tiếng thét đứt ruột của kẻ lâm nạn. Người ta nghe thấy tiếng reo mừng của kẻ chiến thắng. Người ta nghe thấy tiếng bước chân vội vã của kẻ tháo chạy. Người ta nghe thấy tiếng vặn mình đau đớn của một xã hội Việt-Nam sụp đổ! Những điều trông thấy, kể từ khi cuộc chiến Đông Dương bùng nổ, là một xã hội Việt-Nam ly tán, hận thù, độc ác, bất công, tham lam, sa đọa, thiếu thật thà, thiếu bao dung, thiếu tình người và thiếu nghĩa làm người. Còn gì để mà dấu giếm nữa khi những bất công và những tệ nạn xã hội đã càng ngày càng phơi bầy theo cái nghèo đói và lòng tham lam của con người. Còn để che đậy nữa, khi lòng căm thù được đưa vào việc giáo dục ở học đường từ thuở ấu thơ. Ở trong một xã hội đầy rẫy những giành giật, bất công, con người không thể phát triển được tính bao dung, thương yêu, tha thứ; trái lại càng ngày càng trở nên hẹp hòi, ích kỷ, cố chấp, ganh ghét, bới móc, oán hận... Trong một xã hội rã rời bị đè nặng bởi bóng đen của sự khủng bố, dân trí càng ngày càng trở nên u mê thụ động; người dân cũng không thể bảo tồn được tính quật cường, tự chủ và tinh thần liên đới, trách nhiệm để vươn lên trong lẽ sống văn minh của trí tuệ loài người. Khi lẽ sáng của trí tuệ mất đi thì chỉ còn có dối trá và bạo lực ngự trị. ***** Qua sự suy nghiệm những bài học lịch sử trên đây, bây giờ trở về với chữ "Việt" ở những dòng đầu: trở về với ý thức vượt thắng của truyền thống Việt. Câu hỏi cho thế hệ chúng ta là những người đang gánh vác trọng trách lãnh đạo có đủ can đảm vượt qua những chông gai thử thách, những cố chấp tham vọng, những bóng tối của hận thù, những ma lực của ý thức hệ và những lôi cuốn của các nền văn minh ngoài con người để xây dựng lại một nếp sống an lạc, một nền chính trị quân bình hòa hợp trong lẽ sống tự chủ cho toàn dân tộc hay không? III. VIỄN ẢNH CỦA ĐẤT NƯỚC. – Không ai tiên đoán được một cách chính xác những gì sẽ xẩy ra ở một tương lai quá xa; nhưng căn cứ vào những hiện tượng đang xẩy ra người ta có thể tiên liệu không sai lạc lắm những gì đã gần tới. – Từ những viễn ảnh của đất nước, có những giải pháp đã được đề nghị hoặc đã được áp dụng. Những giải pháp ấy có thể đưa đến một đáp án cho những vấn đề của đất nước hay không? – Những biến chuyển về tâm lý và nhận thức của người dân có ảnh hưởng gì đến việc đi tìm một giải pháp cho đất nước? A-NHỮNG VIỄN ẢNH CỦA VIỆT-NAM. Vào năm 1975 ở Việt-Nam có lẽ không ai nghĩ rằng các nước Xã-hội Chủ-nghĩa Đông-Âu sẽ sụp đổ, hoặc ít nhất không ai tin rằng nó có thể sụp đổ một cách nhanh chóng đến như thế. Cho đến năm 1989 sau khi các dân tộc Đông-Âu tự lực đứng lên đòi quyền sống và bức tường Bá-Linh bị đập nát để mở đường cho các nước Xã-hội Chủ-nghĩa hòa nhập vào nếp sống dân chủ và nền kinh tế thị trường Tây phương, thì các chính biến dây chuyền đã xẩy ra ở các nước Xã-hội Chủ-nghĩa Á châu. Ở Mông Cổ, sau 70 năm cô lập với thế giới bên ngoài, Mông Cổ đã từ bỏ chế độ độc tài đảng trị, tổ chức bầu cử tự do để mở đầu việc xây dựng dân chủ. Ở Cao-Ly, hai miền Nam Bắc Hàn đang tìm những căn bản hợp lý để thống nhất. Ở Trung-Hoa, hàng triệu sinh viên học sinh tại hầu hết các thành phố lớn đã nổi dậy tranh đấu cho quyền sống tự do dân chủ. Vụ đàn áp đẫm máu ở Thiên-An môn Bắc-Kinh làm xúc động lương tâm toàn thế giới có thể nói là những hành động sắt máu cuối mùa của tư tưởng bạo lực, đồng thời là dấu hiệu mở đầu những viễn ảnh mới cho một miền Đông-Nam-Á hồi sinh. Ngày nay người ta tin rằng những diễn biến tương tự những gì đã xẩy ra ở Đông-Âu sẽ xẩy ra trong nay mai ở Việt-Nam và toàn miền Đông-Dương. Sự tin tưởng này có thể không quá sớm, tuy nhiên viễn ảnh ấy sẽ trở nên tốt hay xấu còn tùy thuộc ở ý chí của toàn dân và ở sự sáng suốt của nhà cầm quyền đương thời. Một mặt khác, trong tình thế suy sụp hiện tại về kinh tế, chính trị và tư tưởng, Nhà nước Xã-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam đang tìm sự trợ giúp hoặc ít nhất tìm cách giải tỏa những mối mâu thuẫn đối với các cường quốc có liên hệ nhiều nhất với vận mệnh đất nước là Hoa-kỳ, Liên-sô và Trung-quốc. Viễn ảnh của Việt-Nam do đó cũng tùy thuộc vào tình hình chính trị và thái độ, chính sách của các nước này. 1- Viễn ảnh Việt-Nam do tình hình đột biến ở Liên-Sô: Khi công bố chính sách “Đổi mới”, Liên-sô hiển nhiên đã từ bỏ đường lối cách mạng bạo lực, khước từ địa vị lãnh đạo khối Cộng-sản Quốc-tế để dồn nổ lực vào việc củng cố nội bộ đang càng ngày càng trở nên khó khăn phức tạp. Trong cơn khủng hoảng mãnh liệt về đường lối chủ nghĩa phát xuất từ thành trì lãnh đạo, không những khối Cộng-sản Đông-âu xụp đổ và các nước Xã-hội Chủ-nghĩa khắp nơi trên thế giới bị sa xút nặng nề, mà nội tình Liên-bang Sô-Viết cũng không thoát khỏi cơn sóng gió: các mâu thuẫn nội tại bùng nổ; nhiều nước Cộng-hòa trong Liên-bang Sô-viết lần lượt đứng lên tuyên bố độc lập. Cuộc chính biến tháng 8 năm 1991 đã chấm dứt cơn ác mộng của hơn 70 năm Cách-mạng Nga-Sô. Giờ đây Nga phải xin viện trợ khẩn cấp từ các nước phát triển về kinh tế để củng cố nền dân chủ đến muộn. Từ những diễn biến của tình hình nước Nga, người ta có thể kết luận rằng Karl-Marx đã chết thật rồi và chủ nghĩa Cộng-sản đã khô héo từ gốc rể. Sự tan rã của những cành lá còn sót lại chỉ còn là vấn đề thời gian. 2- Viễn ảnh Việt-Nam do tình hình bất trắc ở Trung quốc Sau khi khối Đông-Âu và Liên-Sô tan rã, ở Á-châu và trên thế giới chỉ còn lại hai quốc gia thực sự tiêu biểu cho thành trì của chủ nghĩa Cộng-sản là Trung quốc và Việt-Nam. Vì những lý do sống còn, hai nước đã phải tìm lại những mối liên hệ hỗ tương. Tuy nhiên viễn ảnh mà người ta có thể trông thấy là sự sụp đổ có thể xẩy ra bất ngờ của chế độ cầm quyền ở Trung quốc. Do đó hy vọng vào khoản viện trợ có điều kiện của Trung quốc cho Việt-Nam để kéo dài cơn hấp hối kinh tế là một dự tính thiếu căn bản. Lập lại liên hệ hỗ tương quân sự với Trung-Hoa là điều hoàn toàn vô ích. Sau vụ Thiên-An Môn, nhân dân Trung-Hoa đã đo lường được mức độ thiện chí và phương thức hành động của những lãnh tụ già ở Bắc-Kinh. Vì thế, biến cố Thiên-An Môn chỉ có thể nói là diễn biến cuối cùng của giai đoạn mở đầu trong cuộc chiến đấu của nhân dân Trung quốc, nếu không muốn nói là biến cố mở đầu của một giai đoạn kết thúc. Tính cách phi nhân của cuộc đàn áp đẫm máu ở Thiên-An Môn đang bị đả kích nặng nề bởi chính những nhân vật trong nhóm cầm quyền Trung-Hoa. Sóng gió đang xẩy ra ngay trong nội tình lãnh đạo. Trường hợp chế độ hiện tại ở Trung quốc sụp đổ, người ta tin rằng Việt-Nam sẽ có cơ hội thật sự đổi mới. 3- Viễn ảnh Việt-Nam với chính sách của Hoa-Kỳ: Dưới mắt các nhà lãnh đạo Việt-Nam hiện nay, Hoa-Kỳ vốn là đế quốc tư bản phản động đã bị đánh đuổi khỏi Việt-Nam một cách nhục nhã vào năm 1975. Nhưng Hoa-Kỳ nắm trong tay hầu hết những quyền năng phát triển về kinh tế kỹ thuật trên thế giới. Chỉ riêng việc ban hành lệnh cấm vận như một biện pháp trừng trị đối với các vụ vi phạm nhân quyền trầm trọng ở các nước kém phát triển đủ làm lung lay các chế độ đang tại vị. Việc lập được các bang giao với Hoa-Kỳ có vẻ là một viễn ảnh rất sáng sủa, vì Hoa-Kỳ ngoài khả năng kinh tế và kỹ thuật, dường như không có tham vọng đế quốc và không bị ràng buộc vào một kết ước chính trị nào có tính cách bất lợi cho Việt-Nam. Tuy nhiên, sách lược của Hoa-Kỳ không phải chỉ là mở túi chi viện cho các nước kém mở mang; Hoa-Kỳ biết xử dụng những ưu thế của mình vào những mục tiêu lâu dài và ngắn hạn. Trong chính sách có vẻ mã thượng của một dân tộc giàu mạnh mang niềm kiêu hãnh chưa từng biết thua trận, những mục tiêu trước mắt không có gí khác hơn là bắt những kẻ làm nhục mình phải quỳ gối. Tóm lại, đối với Việt-Nam ngày nay, việc thiết lập bang giao với Hoa-Kỳ là món hàng cực quý, có thể phải mua bằng giá cắt cổ. 4- Viễn ảnh Việt-Nam do cuộc tranh đấu dân chủ ở trong và ngoài nước: Thời điểm hiện tại là một cơ hội ngàn năm để cho dân tộc Việt-Nam khôi phục lại nền tự chủ đã vắng bóng từ hơn một thế kỷ. Đây là lúc mà những biến chuyển về tâm lý, về quan niệm ở trong và ngoài nước đã đến gần nhau hơn và đã trở nên thuận tiện hon cho một cuộc đổi mới thực sự. Đây cũng là lúc trình độ dân trí đã đủ chín chắn để có thể tự lực xây dựng một đất nước tự chủ, một xã hội tự do công bằng trong tình người và nghĩa làm người. Đất nước cần sự thay đổi và không thể không có sự thay đổi. Tuy nhiên một cuộc đổi mới nếu không phải là những thay đổi thực sự, đúng với khát vọng của toàn dân thì sẽ trở nên vô cùng tai hại, vì nó sẽ vĩnh viễn mang đất nước xuống vực thẳm và đưa toàn dân tộc đến hoàn cảnh bị lường gạt thách thức. Ngược lại, nếu người Việt-Nam biết đồng tâm quật khởi cứu nguy đất nước, hải ngoại và quốc nội là một, thành tâm giải quyết mọi vấn đề, tự lực xóa bỏ định kiến và phá bỏ những thành trì trở ngại để dựng lại niềm tin, thì từ đó người ta có thể dựng lại một đất nước mới trên những hoang tàn đổ vở cũ, mà không cần phải cầu cứu khẩn nài một siêu cường nào giúp đở. Một nền chính trị tự chủ, một xã hội nghèo nàn nhưng ổn định và một dân tộc biết đồng tâm vượt gian lao là những yếu tố mạnh mẽ nhất thu hút sự đầu tư phát triển của tất cả các nước tư bản giầu mạnh trên thế giới. B-NHỮNG GIẢI PHẢP ĐÃ ĐƯỢC NÓI TỚI. Những viễn ảnh của đất nước có thể tùy thuộc vào những biến chuyển trên thế giới, nhưng những giải pháp cho Việt-Nam là vấn đề của người Việt-Nam. Do đó có rất nhiều giải pháp đã được nói tới, ở trong nước cũng như hải ngoại, bao gồm từ những biện pháp mạnh cho đến những giải pháp ôn hòa, từ những giải pháp chính trị đến những vận động kinh tế, ngoại giao. 1- Các giải pháp mạnh: Ở một nước mà chính quyền không được xây dựng trên những căn bản dân chủ, những biện pháp mạnh luôn luôn được đề cập. Một cuộc tổng khởi nghĩa, tổng nổi dậy của các lực lượng vỏ trang và nhân dân để xóa bỏ chế độ độc tài là giải pháp được cổ võ mạnh mẽ bởi các khuynh hướng chống đối chế độ một cách quyết liệt. Ngược lại, sử dụng những phương tiện của chế độ và bạo lực cách mạng để bảo vệ an ninh chính trị, bảo vệ chế độ một cách triệt để là biện pháp của nhà cầm quyền đương thời ở Việt-Nam. 2- Các giải pháp ôn hòa: Các giải pháp ôn hòa nẩy nở từ quan niệm "Cởi mở" và "Đổi mới". Trong khi nhà nước chỉ sẳn sàng đổi mới Tư duy kinh tế để có thể lợi dụng sự trợ giúp và lôi kéo sự đầu tư của khối kinh tế tư bản, thì dân chúng muốn mượn đà cởi mỏ để đổi mới chế độ; xóa bỏ cơ cấu chính trị độc đảng để xây dựng các cơ chế dân chủ. Một nền chính trị đa dảng, đa nguyên là giải pháp được đề nghị bởi nhiều nhân sĩ có tiếng tăm trong và ngoài nước. 3- Các giải pháp kinh tế: Giải pháp của nhà nước Xã-hội Chủ-nghĩa là đổi mới kinh tế, bổ xung hệ thống pháp luật kinh tế, chuyển từ kinh tế tập trung sang kinh tế thị trường để thu hút sự đầu tư của nước ngoài và để khắc phục các vấn đề chính trị. Giải pháp do một số khuynh hướng không chấp nhận chế độ chủ trương là mượn sức mạnh của kinh tế tư bản, dùng kinh tế để chuyễn hóa chinh trị nhằm thay đổi chế độ chính trị trong nước. 4- Các giải pháp chính trị: Giải pháp được một số nhân sĩ mệnh danh là thành phần thứ ba cổ võ là thành lập một chế độ trung lập, không liên kết, được quốc tế công nhận. Giải pháp được đa số trí thức trong và ngoài nước kêu gọi là bãi bỏ chế độ độc quyền độc đảng, tổ chức bầu cử tự do để tiến đến một nền dân chủ thực sự. 5- Các giải pháp ngoại giao: Khuynh hướng ngoại giao chủ trương dùng ngoại giao để chuyển hóa tình hình chính trị trong nước; vận động một giải pháp quốc tế, trên căn bản hiệp định Genève năm 1954 và hiệp định Paris năm 1973 để đưa ra một cách giải quyết hợp lý và hợp pháp cho vấn đề Việt-Nam. Trong khi đó, Nhà nước Xã-hội Chủ-nghĩa cũng tiến hành những giải pháp ngoại giao nhằm kết thân với các nước Tây phương để giải tỏa những áp lực kinh tế và chính trị. C-NHẬN ĐỊNH VỀ NHỮNG BIẾN CHUYỂN TÂM LÝ VÀ QUAN NIỆM Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC. Tìm ra một giải pháp vẹn toàn cho đất nước trong những điều kiện chính trị hiện tại và trong tình trạng ly tán của lòng người là một điều gần như không thể có được: — Những biện pháp bạo động dường như không phải là giải pháp thực tế trong tình thế hiện tại và không có gì chắc chắn nó sẽ đưa đến một viễn ảnh tốt đẹp cho đất nước. — Những giải pháp ôn hòa khó đạt được những căn bản vững chắc để có thể đáp ứng những khát vọng thực sự của người dân. — Hy vọng vào sự trợ giúp của các siêu cường để giải tỏa hoặc chuyển hóa những vấn đề kinh tế và chính trị có thể chỉ là những ảo tưởng nguy hại, làm cho đất nước càng ngày càng bị thao túng bởi các thế lực siêu cường. — Trông cậy vào thế lực quốc tế để tìm một giải pháp ngoại giao chỉ là sự mong đợi quá nhiều ở người ngoại cuộc. — Cuối cùng sự kêu gọi "hòa hợp hòa giải" dân tộc lại không phải là điều thiết thực vì giữa nhân dân Việt-Nam vốn không có mối bất hòa nào cả. Người dân đều nhìn thấy như nhau thực trạng của một đất nước tan nát rã rời. Người dân đều hiểu rõ như nhau những nguyên nhân đã đưa dân tộc tới tình trạng bi thảm. Kêu gọi mọi người "hòa hợp hòa giải" mà không thẳng thắn pha vỡ những yếu tố đã đưa dân tộc tới thảm họa suy vong, đã kềm hãm người dân trong vòng nô lệ, thì không thể có ý nghĩa gì khác ngoài sự lừa gạt. Xét như vậy thì dường như tất cả các giải pháp đã được nói tới đều không mấy thỏa đáng. Tuy nhiên nhận xét về những biến chuyển đồng bộ về tâm lý và quan niệm đang xẩy ra ở trong và ngoài nước, người ta tin rằng một giải pháp cho Việt-Nam đang có cơ hội khai thông. Trước hết, từ tâm lý bi quan rất phổ quát của thập niên 70, ngày nay người ta tin tưởng một cách chắc chắn rằng các nước Cộng-sản trên thế giới đương nhiên sẽ phải sụp đổ, tất cả chỉ còn là vấn đề thời gian. Từ tâm lý chủ quan ấy, nhận thức đã thay đổi ngược hẳn lại với lúc trước. Những biến chuyển nhận thức và chính trị cũng trở nên rõ rệt theo những biến chuyển của tình hình thế giới. Trước hết, khi nhu cầu đổi mới trở thành chính sách của nhà nước, chế độ đã nhận thấy sự cần thiết phải đổi mới mọi cơ cấu kinh tế theo nền kinh tế thị trường Tây phương, nới rộng tự do đi lại để Việt kiều hải ngoại về thăm đất nước tìm cơ hội kinh doanh. Cùng lúc đó, về phía chống đối chế độ, người ta nhận thấy biện pháp võ lực dường như đã không còn thích hợp nữa; những giải pháp ngoại giao và kinh tế được nói tới. Giai đoạn kế tiếp, giải pháp vận động ngoại giao được nhận thấy không còn thích hợp nữa khi những biến chuyển trên bàn cờ quốc tế đã đưa tới tình trạng các siêu cường có thái độ thờ ơ trước những tranh chấp cục bộ, không còn coi Đông-Dương là điểm nóng cần phải nổ lực giải quyết. Khi những giải pháp chính trị đã được nói tới, thái độ của người Việt hải ngoại cũng không còn tính cách tiêu cực, người ta sẳn sàng nghe và đối thoại với chế độ. Quan niệm "Giải trừ Cộng-sản" từ phía chống đối chế độ được chuyển vào những ý niệm then chốt là giải trừ bạo lực và dối trá. Trong khi ấy, tiếng nói người dân trong nước càng ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn với sự đòi hỏi chế độ phải từ bỏ cách mạng bạo lực và độc quyền chính trị. Các thành phần nhân sĩ có thế lực trong nước lên tiếng yêu cầu sửa đổi hiến pháp, thành lập các cơ cấu dân chủ. Những quan niệm về dân chủ được bình luận một cách rộng rãi, những kế hoạch đổi mới chính trị được đề nghị một cách công khai. Đồng thời ở hải ngoại cũng đưa ra những quan điểm về xây dựng dân chủ, về chính sách kinh tế hậu Cộng-sản... Những biến chuyển nhận thức nêu trên cho thấy chưa bao giờ quan điểm của người dân trong nước và hải ngoại gần nhau đến thế. Đây là một dấu hiệu đáng lạc quan khi người dân Việt cả trong và ngoài nước đang cùng nhìn về một viễn ảnh mới. ***** Viễn ảnh của một nước Việt-Nam thật sự đổi mới đúng với khát vọng của toàn dân là chuyện không thể xảy ra trong một sớm một chiều, nhưng cũng không phải là chuyện không thể làm được. Người dân đang khao khát dân chủ, tự do và một đời sống ấm no trong tình tự dân tộc. Nhìn sang Trung-quốc, vụ Thiên-An Môn bùng nổ không phải vì chế độ không muốn cải thiện nền kinh tế để cho dân chúng được ấm no hơn, mà chỉ khát vọng chân chính về một nền tự do dân chủ của nhân dân Trung-quốc bị miệt thị do sự thiếu sáng suốt của kẻ lãnh đạo. Như vậy, ngoài những mục tiêu xã hội và kinh tế, những đổi mới về chính trị là điều tối ư cần thiết. Nhưng trong viễn ảnh của một cuộc đổi mới, không hẳn chỉ cần có những hình thức dân chủ, một chế độ đa đảng đa nguyên được giải thích theo cách này hay cách khác, là đạt được mục tiêu dân chủ, là thỏa mãn được những khát vọng của nhân dân và giải quyết được mọi vấn đề phức tạp của đất nước. Chế độ dân chủ và các cơ cấu dân chủ như hiến pháp, quốc hội, phổ thông đầu phiếu, chế độ đa đảng...trên thế giới đã cho ta thấy nó cũng không phải là cây đủa thần vạn năng có thể giải quyết tất cả mọi vấn đề của xã hội loài người. Hiến pháp chỉ là một bản khế ước giửa các phần tử trong một quốc gia. Một khế ước sẽ không có giá trị hơn một tờ giấy lộn bao nhiêu nếu các thành phần liên hệ đang rắp tâm lừa dối lường gạt lẫn nhau. Điều cần xác tín là phải dứt bỏ mọi ảo tưởng. Trời không giúp ta, đất không giúp ta, chủ nghĩa Xã-hội, chủ nghĩa Tư-bản không giúp ta, cả Chuyên-chính Vô-sản lẫn Dân chủ Đa nguyên cũng không giúp ta, các cường quốc anh em, từ anh em Xã-hội Chủ-nghĩa đến anh em Dân-chủ Tự-do cũng không giúp ta nếu chính ta không tự giúp ta. Chỉ có sức mạnh của toàn dân, sự sáng suốt của toàn dân, nổ lực bền bỉ của toàn dân mới đủ sức đưa đất nước ra khỏi tình trạng phân hóa, rã rời, nghèo đói suy đồi, lạc hậu... IV. KHÁT VỌNG NGƯỜI DÂN VIỆT. Vấn đề đang được nói đến nhiều nhất ở Việt-Nam ngày nay là việc đổi mới chính trị để xây dựng dân chủ, hay để tiến đến một nền dân chủ thật sự. Đây chính là bước tiến có tính cách quyết định trong sự nghiệp làm hồi sinh đất nước của người Việt-Nam. Dân chủ là gì? Người dân bình thường nghỉ rằng nếu đã có sự định nghĩa dân chủ theo kiểu mẫu này thì tất sẽ phải có sự giải thích theo khuôn khổ kia. Người dân bình thường hiểu rằng chữ "Dân chủ" có một ý nghĩa rất bình dị là người dân được quyền làm chủ; "Tinh thần dân chủ" được thể hiện ở sự xử dụng cái nhiều, nhưng cũng trân trọng cái ít để có sự kế thừa tiếp nối; và "Chế độ dân chủ" được nhận thấy ở sự kiện rất tự nhiên là người dân, ngoài quyền làm chủ phương tiện sinh sống của mình, còn có quyền công khai làm chủ những ý nghỉ của mình, tức là có thể nói lên hoặc viết ra những ý nghỉ của mình một cách công khai, ngay cả những ý kiến phê bình chỉ trích chế độ để góp phần xây dựng quốc gia chung mà không sợ bị ai khủng bố, bắt bớ, giam cầm, tra vấn. Hiểu biết về tinh thần dân chủ và chế độ dân chủ như thế thì quá thô sơ thiếu sót; nhưng nếu không được như thế thì chế độ dù có được gọi là dân chủ theo khuôn thước này hay kiểu mẩu kia, cũng chỉ là dân chủ hình thức, dân chủ giả hiệu, hoặc là chế độ chủ dân đã được nói ngược đi cho dễ nghe mà thôi. Trong sự nghiệp làm hồi sinh đất nước, câu hỏi sinh tử cần được nêu lên là: "Người dân muốn gì? Người dân đang mơ ước gì?". Cùng một câu hỏi như thế, ở những xã hội bình thường người ta hỏi dân chúng một cách vui vẻ lễ độ rằng: "Các bạn muốn những gì phải được chính phủ thực hiện? Các bạn có những mơ ước gì không?" và ở trong trại tập trung các cai tù hỏi nhau một cách khẩn trương rằng: "Chúng nó muốn gì? Chúng nó đang âm mưu gì?". Cho dù đang ở trong nhà tù hay đang sống trong một xã hội văn minh, những khát vọng tột cùng của người dân cũng không khác xa nhau mấy. Những khát vọng đó là những phát biểu tự nhiên của bản năng sinh tồn và của trí tuệ con người, liên hệ đến các phạm vi rộng hẹp khác nhau của đời sống: – Ở phạm vi cá nhân, khát vọng đó là một cuộc sống no ấm, an vui, có ý nghĩa; – Ở phạm vi ngoài cá nhân, niềm khao khát đó là một xã hội đáng sống; – Ở tầm mức dân tộc và nhân loại, niềm mơ ước đó là một quốc gia tự chủ và phát triển, sánh vai cùng các nước anh em trên thế giới. 1- THẾ NÀO LÀ MỘT CUỘC SỐNG ẤM NO, AN VUI VÀ CÓ Ý NGHĨA? Phương tiện sống, Quyền sống, Lẽ sống là ba ý niệm căn bản của đời sống cá nhân. Một cuộc sống ấm no, an vui và có ý nghĩa chỉ có thể có được nếu Phương tiện sống được đầy đủ, nếu Quyền sống người dân được bảo đảm và nếu lẽ sống con người được tôn trọng. – Phương tiện sống được đầy đủ: Nước ta tuy chưa phải là một nước giàu có và phát triển, nhưng cũng không phải không có những ưu đải của thiên nhiên: Ba miền đồng bằng sông Hồng, sông Mã, sông Cửu; rừng núi trùng trùng điệp điệp từ Bắc xuống Nam cung ứng nguồn tài nguyên thiên nhiên; một giải duyên hải dài gần 4 ngàn cây số với vùng thềm lục địa chưa khai thác. Trước chiến tranh Đông-Dương, Việt-Nam là nước xuất cảng lúa gạo đứng hàng thứ ba ở Á-châu. Ngày nay dân số có gia tăng gấp bội, nhưng với những phương tiện kỹ thuật tiến bộ hơn, với sức bền bỉ biết hòa mình để khắc phục con người, chắc chắn dân chúng Việt-Nam không thể lâm vào tình trạng đói kém. Với truyền thống nông nghiệp, đa số dân chúng Việt-Nam sống về nghề làm ruộng và tiểu công nghệ. Người dân tin rằng bao giờ ruộng đất trả lại cho nông dân thì đồng sẽ xanh, lúa sẽ tốt và ước vọng về một đời sống ấm no chắc chắn sẽ thành tựu được ít nhất trên những bước căn bản. Người dân tin rằng bao giờ người lao động - dù lao động trí thức hay lao động chân tay - được hưởng những thành quả lao động của chính mình một cách xứng đáng và hợp lý, thì mọi người sẽ ra sức làm việc, năng xuất sẽ tăng, xã hội sẽ ổn định trù phú, mang lại đời sống ấm no cho tất cả mọi người. * Người dân được làm chủ phương tiện sinh sống của mình là điều kiện căn bản để xây dựng đời sống an lạc cho toàn dân. – Quyền sống người dân được bảo đảm: Một đời sống ấm no là điều kiện cần để con người được an vui, nhưng niềm an vui thực sự chỉ có thể nẩy nở nếu quyền sống của người dân được bảo đảm. - Hãy đập tan những nhà tù trại giam ô nhục để mở đầu cho sự nghiệp làm hồi sinh đất nước, vì đó không phải là sản phẩm của trí tuệ loài người. - Hãy quét sạch những tư tưởng bạo hành khủng bố để làm tươi sáng lại một bầu trời đất nước đã quá ngộp thở vì khói của bom đạn và chất độc của thuốc khai quang. * Sự khôi phục và bảo đảm quyền làm người là điều kiện thiết yếu để gây dựng niềm an vui của mỗi cá nhân trong tình tự dân tộc. – Lẽ sống con người được tôn trọng: Con người đội trời đạp đất vốn có sẵn cái lẽ sống tự chủ bất khuất nẩy nở trong tâm thức bao dung bình đẳng. Con người không sinh ra để làm nô lệ. Con người không sinh ra trong bản chất căm thù. Con người sinh ra có quyền hưởng không khí trong lành của tự do, hòa đồng, bác ái. Con người sống sạch thác trong, không ai có quyền bắt nó phải sống kiếp trâu cầy ngựa cưỡi. Con người cầu tiến biết vươn lên trong ánh sáng của trí tuệ, biết chan hòa trong tâm thức yêu thương; không ai có quyền bắt kẻ viết văn phải bẻ cong ngòi bút viết đen thành trắng, bắt người cô thế phải uốn lưỡi nói trắng thành đen. * Sự tôn trọng lẽ sống con người là biểu lộ tinh thần nhân bản trong nếp sống loài người. 2- THẾ NÀO LÀ MỘT XÃ HỘI ĐÁNG SỐNG? Từ những tương quan giữa Người và Người, Người với thiên nhiên, Người với khoa học kỹ thuật, khát vọng của người dân về một xã hội đáng sống là những mơ ước rất tự nhiên. – Trong tương quan giữa Người và Người: * Người dân muốn thấy một xã hội công bằng, không còn áp bức khủng bố; không còn dối trá lọc lừa; không còn cảnh người bóc lột người, người phải làm nô lệ cho người. * Người dân muốn có một xã hội văn minh, trong đó con người được quý trọng, con người có đầy đủ quyền làm người bao gồm cả dân quyền và nhân quyền. * Người dân muốn xây dựng một xã hội chan hòa tình dân tộc, đằm thắm nghĩa đồng bào, một xã hội mà nếp sống thể hiện những nét đặc thù cao quý của văn hóa Đông phương: một xã hội mà người không bóc lột người, người không hành hạ người, người được làm người. – Trong tương quan Người với thiên nhiên: * Người dân mong muốn một xã hội mà người biết sống hòa hợp với thiên nhiên: đất nuôi ta, ta nuôi đất; người biết thích ứng với thiên nhiên; bảo vệ môi sinh và bồi đắp thiên nhiên. * Người biết xử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lý, không nô lệ cho phương tiện, không lạm dụng vật chất, đồng thời không bị kẻ khác xử dụng năng lực vật chất để khống chế. – Trong tương quan Người với khoa-học kỹ-thuật: * Người biết sống thích ứng với thiên lý, tức là biết mở rộng kiến thức, học hỏi và áp dụng khoa học kỷ thuật để làm phong phú đời sống. * Nhưng người không cúi đầu sùng bái nền văn minh kỹ thuật, không làm nô lệ cho phương tiện kỹ thuật, cũng không lạm dụng những phát minh kỹ thuật. * Sau hết, người không xử dụng khoa học kỹ thuật để khống chế người. 3- THẾ NÀO LÀ MỘT QUỐC GIA TỰ CHỦ VÀ PHÁT TRIỂN? Trong tương quan thế giới, ở thế kỷ vượt tiến của nền văn minh kỹ thuật cao độ, loài người vẫn còn nguyên vẹn những ám ảnh của những dân tộc bị trị đối diện với những đế quốc chinh phục, của nhược tiểu đối diện với siêu cường. Trong ánh sáng của nền văn minh vật chất hiện đại, bản năng sinh tồn của thời xa xưa vẫn còn xuất hiện trong tiếng reo mừng chiến thắng trên đống xương khô của đồng bào và đồng loại. – Thoát khỏi cảnh tang thương nhục nhã của một thời nô lệ, xa dần những ám ảnh tàn phá của chiến tranh, người dân cảm thấy không còn cần thiết những chiến tích lẫy lừng, mà chỉ mong muốn được dựng cao ngọn cờ tự chủ trên quê hương đất nước như đại nghĩa dân tộc, như dấu vết văn hiến ngàn năm của giống nòi. Ý niệm quốc gia tự chủ sẽ xóa tan những ám ảnh về siêu cường và nhược tiểu, về dân tộc bị trị và đế quốc xâm lăng. – Người dân không mong muốn một nền văn minh thuần vật chất biến con người thành nô lệ cho kỹ thuật và thành nạn nhân của nhu cầu. Khát vọng về một quốc gia phát triển là khát vọng về một nền văn minh trọn vẹn, hòa hợp sự tiến bộ kỹ thuật hiện đại với những giá trị bất biến của nền văn minh tinh thần đã có từ ngàn xưa. ***** Một quốc gia tự chủ và phát triển sẽ có thể an nhiên sánh vai cùng tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt lớn nhỏ, mạnh yếu trên căn bản bình đẳng, tương kính, tương trợ để cùng nhau bước vào kỷ nguyên văn hiến mới của nhân loại. Nhưng niềm khát vọng cao nhất của người dân về một quốc gia tự chủ và một dân tộc tiến bộ chỉ có thể thực hiện được nếu những ước vọng bình thường hơn được thực hiện. Nếu như sẽ có một giải pháp trọn vẹn cho đất nước thì giải pháp ấy tất không thể không nói đến những khát vọng bình thường và tha thiết của người dân. V. GIẢI PHÁP ĐỀ NGHỊ: PHÁ CHƯỚNG NGẠI, DỰNG LẠI NIỀM TIN, HỢP TÁC TOÀN DÂN ĐỂ LÀM HỒI SINH ĐẤT NƯỚC. Từ thực trạng một đất nước tan nát, một dân tộc chia lìa hơn nửa thế kỷ, Việt-Nam ngày nay là một trong những nước nghèo đói và chậm tiến nhất trên thế giới. Không những xã hội Việt-Nam đầy rẫy những áp bức, bất công, tranh giành, đồi trụy, dân tộc Việt-Nam còn bị phân hóa rã rời thành từng mảnh vụn khiến lòng người càng ngày càng ly tán. Trong giai đoạn lịch sử cận đại, mọi sinh hoạt chính trị đều không có sự bao dung hợp tác, khiến cho dân tộc mất đi những ngẫu lực tiến hóa cần thiết. Định kiến và ý thức hệ che kín tầm mắt. Nghi kỵ, hận thù bóp nghẹt tiếng nói của lương tri. Không những thế, những vết hằn sâu của bạo lực khủng bố đã làm cho người dân trở nên sợ sệt hèn yếu, không dám đứng dậy đòi hỏi quyền làm người trong một thế giới văn minh và quyền làm dân trong một quốc gia tự chủ. Trong nếp sống văn hóa, những giá trị ngàn đời của dân tộc không còn được quý trọng, khiến cho tinh thần vọng ngoại trở thành căn bệnh trầm kha. Tình trạng phá sản toàn bộ đó đòi hỏi phải có một giải pháp toàn bộ vì mọi giải pháp nửa vời trước sau đều sẽ chỉ đưa đến bế tắc. Thế nào là một giải pháp toàn bộ? Một giải pháp được gọi là toàn bộ cần đưa đến việc giải quyết từ căn bản toàn bộ những vấn đề then chốt: - Phá huỷ được toàn bộ những chướng ngại cho việc hợp tác; - Vận dụng được toàn bộ sự hợp tác của toàn dân; - Đáp ứng được toàn bộ những khát vọng căn bản của người dân. Dù muốn hay không, một giải pháp toàn bộ cho đất nước cũng cần phải quy được nhân tâm về một mối, dù có phải vì thế mà phá hủy đi những chướng ngại đắt giá nhất. Dù muốn hay không, một kế hoạch toàn bộ làm hồi sinh đất nước cũng cần phải kết hợp được toàn dân, vì chỉ có sức mạnh của toàn dân, sự sáng suốt của toàn dân, nỗ lực bền bỉ của toàn dân mới đủ sức đưa đất nước ra khỏi tình trạng phân hóa, rã rời, nghèo đói, suy đồi và tủi nhục. Với những lý do nêu trên, giải pháp sau đây được đề nghị với ba kế hoạch liên tục: 1- Phá chướng ngại để dựng lại niềm tin; 2- Đặt một căn bản cho cuộc hợp tác toàn dân; 3- Hợp tác toàn dân để xây dựng lại đất nước. 1- PHÁ CHƯỚNG NGẠI ĐỂ DỰNG LẠI NIỀM TIN: Để có được sự đồng tâm hiệp lực nơi toàn dân, điều cần phải làm được là gây dựng lại niềm tin đã mất trong lòng người. Cần phải khẳng định rằng niềm tin không thể có được nếu con người còn đối xử với nhau bằng thủ đoạn lọc lừa, bằng hận thù khủng bố. Niềm tin chỉ thực sự trở lại khi những chướng ngại về tư tưởng, về chính trị... đã được phá hủy. Niềm tin chỉ thực sự hồi sinh khi mọi người cùng thức tỉnh trong tinh thần bình đẳng, tự chủ, bất khuất. Vậy điều cần thiết là phải công khai phá hủy những chướng ngại để dựng lại niềm tin nơi toàn dân. Nhưng đâu là những chướng ngại cần phá hủy? Những chướng ngại có thể rất nhiều, thí dụ như danh xưng, hình thức, nhân sự; tuy nhiên những điều đó chưa phải là những trở ngại quan trọng. Kế hoạch “Phá chướng ngại” chỉ đề nghị phá hủy toàn bộ những chướng ngại căn bản: - Hủy bỏ mọi chủ nghĩa dựa trên bạo lực và dối trá; - Hủy bỏ mọi chủ nghĩa khai thác hận thù giữa các thành phần trong xã hội; - Giải tán tất cả các đảng phái chủ trương bạo lực và giành độc quyền lãnh đạo quốc gia cho một cá nhân, một đoàn thể, một đảng phái, một giai cấp hoặc một thành phần nào trong xã hội; - Loại bỏ mọi chủ thuyết văn hóa phi nhân hủy diệt tình người để đặt lại những căn bản cần thiết cho việc xây dựng lại xã hội và con người. - Phá bỏ các trại tập trung, thả tất cả tù chính trị, các nhà văn, các tu sĩ đang bị giam cầm vì lý do bất đồng tư tưởng, phản kháng văn hóa... 2- ĐẶT MỘT CĂN BẢN CHO CUỘC HỢP TÁC TOÀN DÂN: Trước khi có thể tiến hành công cuộc dựng lại đất nước, dựng lại một xã hội công bằng, nhân ái, tự do... bằng sức mạnh của toàn dân, điều tối cần là phải thiết lập được một căn bản vững chắc cho cuộc hợp tác toàn dân. Căn bản ấy không thể được lập bằng sự chia chác những đặc lợi, trái lại nó cần phải được lập bằng sự xóa bỏ những dấu vết đã có sẵn, để từ đấy xóa bỏ hận thù, chia rẽ, nghi kỵ, làm cho mọi người có thể xích lại gần nhau hơn trong tình dân tộc, nghĩa đồng bào. Trong những năm vừa qua, hai khối Tự-do và Cộng-sản trên thế giới đã xích lại gần nhau, xóa dần những mối hận thù nghi kỵ để chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh triền miên và thiết lập trật tự mới cho nhân loại, ấy là nhờ vào một giải pháp được mệnh danh là “Giải pháp số không”: không chạy đua võ trang, không nhìn nhau bằng cặp mắt thù địch. Dân tộc Việt-Nam hiện nay đang cần một giải pháp tương tự như vậy: một “Giải pháp không người thắng kẻ thua”. Đây là giải pháp đơn giản nhất để toàn dân có thể cùng nhau hợp tác từ số không, gồm 4 điểm: 1- Không bạo lực. 2- Không dối trá. 3- Không chủ nghĩa. 4- Không hận thù. Bốn điểm bao gồm trong một điểm: Không kẻ thắng người thua. Lý do nào khiến người dân dễ chấp nhận cái Không hơn là cái Có? Vì có bạo lực, con người ta đã có tất cả sự độc ác, đớn hèn; vì có Dối trá, con người đã có tất cả những u mê tăm tối; vì có Chủ-nghĩa, con người đã có đủ xiềng xích để tự trói mình vào những khuôn mẫu tư tưởng tù túng chật hẹp; vì có Hận thù, con người đã có trọn vẹn những lý do để từ chối lẽ sáng của trí tuệ và tiếng nói của lương tâm. “Không bạo lực, Không dối trá, Không chủ nghĩa, Không hận thù” phải là nội dung của một bản Tuyên ngôn Hợp tác Dân-tộc trong thế kỷ của Bạo lực, Dối trá, Chủ nghĩa, Hận thù. Từ bốn điều “Không” ấy đất nước sẽ bừng lên niềm hy vọng. Giải pháp “Không kẻ thắng người thua” như trên không nhằm mang lại chiến thắng cho bất cứ một ai. Chỉ có Tình người thắng Bạo lực; chỉ có lòng thành thực thắng sự dối trá; chỉ có Lương tâm con người thắng sự độc ác; chỉ có Trí sáng suốt thắng những định kiến u mê. Đây chính là tinh thần “Tã trắng thắng cờ hồng” của ngục sĩ Nguyễn-chí-Thiện và cũng chính là giải pháp đã được Thủ-tướng Kohl nước Đức áp dụng để hàn gắn dân tộc Đức sau gần nữa thế kỷ hận thù chia cắt hai bên lằn ranh ý thức hệ. 3- HỢP TÁC TOÀN DÂN ĐỂ XÂY DỰNG LẠI ĐẤT NƯỚC: Sau khi những chướng ngại làm mất niềm tin nơi toàn dân đã được công khai phá hủy, sau khi Giải pháp không người thắng kẻ thua đã được đặt làm căn bản cho cuộc hợp tác toàn dân, công cuộc xây dựng lại đất nước cần phải được trao lại cho toàn dân trên những nguyên tắc sau đây: a) Lập diễn đàn tự do: Chính quyền đương thời cam kết bảo đảm các quyền tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do hội họp... của người dân. - Công khai và thẳng thắn đón nhận tất cả những ý kiến độc lập cũng như đối lập ở trong nước và hải ngoại về việc xây dựng lại đất nước qua các Diễn đàn Tự do. b) Đặt lại những nguyên tắc chính trị căn bản: - Nhìn nhận những quyền căn bản của con người theo tinh thần Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân-Quyền. - Công bố việc trao trả lại chủ quyền quốc-gia cho toàn dân. - Đón nhận và công bố những ý kiến của toàn dân trong việc xây dựng thể chế tương lai cho đất nước. - Trưng cầu dân ý về thể chế chính trị và đường lối kinh tế quốc gia. c) Đặt lại những căn bản cần thiết cho việc dựng lại xã hội và con người: - Đồng thời với sự hồi sinh về chính trị, kinh tế, một xã hội nhân bản phải được hồi sinh trên căn bản Tình-người và nghĩa-làm-người. - Việc dựng lại xã hội và con người cần phải được thực hiện bằng một chính sách văn hóa giáo dục tự chủ và bao dung được thăm dò qua ý kiến người dân và được toàn dân đồng chấp thuận. ***** Hoàn cảnh lịch sử đầy thuận tiện cho một cuộc hợp tác dân tộc để xây dựng lại đất nước đang đặt những nhà lãnh đạo, những nhân sĩ trong và ngoài nước trước những trách nhiệm không thể chối từ. Sau 30 năm đối diện trên chiến trường, thời gian của hơn 15 năm suy nghiệm về những nguyên nhân đưa dân tộc tới tình trạng lạc hậu và phân hóa cùng cực ngày nay đã đủ để rút tỉa được một đôi điều hữu ích. Đây chính là lúc để các nhà lãnh đạo chứng tỏ lòng yêu nước và tình thương đồng bào của mình. Đây cũng chính là lúc để toàn dân chứng tỏ sự quyết tâm xây dựng lại một quê hương tự chủ, một dân tộc văn hiến, bất khuất. Trong khi toàn thế giới đang dũng mãnh bước vào kỷ nguyên văn minh mới, lịch sử sẽ không tha thứ cho bất cứ một ai còn cố ý dìm chết tương lai dân tộc trong những vũng lầy của định kiến và ý thức hệ. Đất nước đang cần sự hợp tác của toàn dân và không thể không có sự hợp tác của toàn dân. Một giải pháp cho cuộc hợp tác toàn dân đòi hỏi những người có trách nhiệm phải tự phá tan những chướng ngại đã gây nên sự mất niềm tin nơi người dân. Giải pháp ấy cũng đòi hỏi mọi người phải can đảm đặt một khởi điểm cho sự hợp tác. Khởi điểm được đề nghị là một Giải pháp không người thắng kẻ thua. Khi niềm tin đã trở lại với lòng người và khi người dân đã có đầy đủ lý do để cùng bắt tay vào việc xây dựng lại đất nước, thì mọi khó khăn trong các lãnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội... sẽ chẳng còn là những nan đề không thể giải quyết. -------------------------------------------------------------------------------- KẾT TỪ Trong cơn bể dâu của dân tộc đã kéo dài non nửa thế kỷ làm đảo lộn mọi nếp sống an vui, người dân luôn luôn nghĩ đến một điều rất bình thường trong đạo sống tự nhiên của muôn loài: Cây có gốc mới nẩy cành xanh ngọn, Nước có nguồn mới biển cả sông sâu. Người dân Việt vẫn thường tin tưởng rất sâu xa ở những giá trị ngàn đời đã nuôi lớn dân tộc mình, ở nền Văn-hiến, ở ý thức tự chủ đã từng bao nhiêu lần làm chùn vó ngựa chinh phục của Bắc phương. Vậy mà cho đến nay đôi khi cũng có những nghi vấn được nêu lên như: "Làm sao tìm được một chủ thuyết làm nền tảng cho việc xây dựng đất nước?". Người dân nghĩ rằng có lẽ chưa có một nền triết lý chính trị nào đã thể hiện được tính nhân bản tự nhiên như nền Văn-hiến của tiền nhân ta; vì Văn-hiến vốn thật là một nền chính trị nhân bản, là nền tảng của một nếp sống văn minh trọn vẹn ở đấy sự tỏa sáng của trí tuệ con người đã hòa cùng sự tiến bộ văn hóa kỷ thuật qua từng thời đại. Văn hiến thể hiện ở những tinh hoa của các nền dân chủ Đông Tây. Văn hiến nẩy nở ở giấc mơ nhân bản của thế giới. Văn hiến tiềm tàng trong từng bước tiến nhỏ bé của con người. Vì vững tin vào bước tiến con người, người dân Việt đã có thể chia xẻ quan niệm tiến hóa của nhà vật lý học Einstein: "Không có một tiến trình cách mạng nào đối với loài người cả". Cho nên nếu như sẽ có một mùa đổi mới trên quê hương yêu dấu, người dân Việt hằng mong ước rằng nó sẽ không phải là một mùa lá đổ, trút sạch những tinh hoa của dân tộc xuống những vũng lầy ý thức hệ; nó cũng sẽ chẳng phải là một mùa xuân xứ lạ đầy rẫy những sắc cũ hương thừa. Nó phải là những thăng hoa của Tình người và Nghĩa làm người, của đạo sống muôn loài được thể hiện trong nếp sống dân chủ, trong tinh thần tự chủ muôn đời của dòng giống Việt bất khuất. Trong ánh sáng vinh quang, an lạc của Tình người và Nghĩa làm người, một nước Việt-Nam Văn-hiến đang chờ đợi những khối óc sáng tạo, những bàn tay xây dựng của toàn dân. Bản Bạch thư xin được chấm dứt nơi đây, nhưng những điều tâm huyết chứa đựng xin được toàn thể đồng bào Việt-Nam trong và ngoài nước chia xẻ, hưởng ứng, để cùng nhau quyết tâm san bằng những trở ngại, xây dựng lại một nước Việt-Nam ngàn đời an lạc tự chủ. Thành kính - Trân trọng, Nguồn: www.vietnamvanhien.org |
|
#2
|
|||
|
|||
|
Quote:
Nguồn chính xác là : h**p://www.vietnamvanhien.org/bachthu.html Xin để ý điều nầy cho những bài đăng trong tương lai. Cám ơn hội viên, |
|
#3
|
|||
|
|||
|
Huệ Đức lần đầu tiên đọc Bạch Thư do một người ký tên là Nông Dân viết,đã cũ từ năm 1991 như phần trên cùng ghi và đối chiếu Lịch Văn Hiến cùng Tây Lịch.Để độc giả khỏi đi tìm lâu lắc,Huệ Đức trích dẫn liền sau đây :
VIỆT-NAM VĂN HIẾN NĂM THỨ 4870 (TÂY LỊCH NĂM 1991) Huệ Đức đọc xong toàn bộ của Bạch Thư,dĩ nhiên phải tìm hiểu nội dung cặn kẻ xem thử người viết không có tên mà lại do kẻ có tên Nông Dân trích dẩn để đăng lên Thư Viện Việt Nam muốn nói lên điều gì. Bài thì dài không thể tóm tắt trong vài câu để phân tích.Nhưng Huệ Đức làm 2 điều : Đọc phần mở đầu để thấy là tác giả nhắm vào điều gì rồi nhìn vào kết luận để biết người viết muốn dẫn đi đến đâu. Bạch Thư này nêu lên 2 điều rõ ràng : Một là Viễn ảnh nước Việt Nam và hai là Khát vọng người dân Việt. Nếu nói rằng nhận định và tiên liệu cho một viễn ảnh tiên liệu cho Việt Nam thì mới đúng. Đi đến phần kết luận,người viết kêu gọi : "Trong ánh sáng vinh quang, an lạc của Tình người và Nghĩa làm người, một nước Việt-Nam Văn-hiến đang chờ đợi những khối óc sáng tạo, những bàn tay xây dựng của toàn dân. Bản Bạch thư xin được chấm dứt nơi đây, nhưng những điều tâm huyết chứa đựng xin được toàn thể đồng bào Việt-Nam trong và ngoài nước chia xẻ, hưởng ứng, để cùng nhau quyết tâm san bằng những trở ngại, xây dựng lại một nước Việt-Nam ngàn đời an lạc tự chủ." ________________________________________ Trong Lời mở đầu, tác giả nhận rằng đây là Bản Bạch Thư được viết với công tâm và chân tình của những người dân Việt.Nó công bố những sư thật về hiện tình nước Việt Nam.Nó nói lên viễn ảnh của đất nước và khát vọng của người dân.Để gởi tới cho ai đây? Người viết ghi là để gởi tới : - Toàn thể đồng bào Việt Nam,các nhà lãnh đạo trong và ngoài nước. - Chính quyền và nhân dân các nước yêu chuộng tự do nhân bản. Trước hết lời mở đầu của người viết không ký tên do Nông Dân trích dẩn,đã đại diện cho "những người dân Việt",viết với sự công tâm và chân tình. Cái tên ký danh Nông Dân không phải là một nhóm,một tổ chức chính trị,mà chỉ là một cá nhân không có tên họ rõ ràng minh bạch.Thí dụ như các cụ Phan bội Châu,Huỳnh thúc Kháng khi viết đều ghi tên mình hay là bút hiệu của mình để nói lên những khát vọng của người dân Việt,trong đó có chính họ.Đường lối thì ngay thẳng và không quanh co dối trá.Chuyện công tâm trong phần ghi lại thực trạng của Việt Nam thật cũng phải cần xét cho kỹ là có thật công tâm hay không và mức độ bao nhiêu.Bài trích dẩn cũng không có ký tên ai viết và chỉ do một cái tên Nông Dân đem trích rồi đăng lên Thư Viện Việt Nam. Huệ Đức nhìn thấy người viết bào chữa cho sự khác thường của mình nên kế tiếp sau đó tác giả nói thêm bổ túc: " Một bản Bạch Thư do người dân viết và công bố có thể là một sự khác thường nhưng không phải là một điều nghịch lý".Đồng ý chứ.Ai cũng có thể viết bài nhận xét,nhận định,tiên liệu,tiên báo cho Việt Nam và nói lên khát vọng của người dân Việt trong đó có bản thân mình cả.Nhưng không ai có thể đại diện chonhững người dân Việtcả. Đi vào nội dung thì người viết chia ra làm 5 phần gồm có : – Phần I : Thực trạng đất nước. – Phần II : Những bài học lịch sử. – Phần III : Viễn ảnh của đất nước. – Phần IV : Khát vọng người dân Việt. – Phần V : Giải pháp đề nghị. Bản Bạch-thư này xin giữ tính khách quan, vô tư, đồng thời thể hiện sự thẳng thắn, trung thực và tinh thần thuận thảo bao dung nhưng bất khuất của người bình dân trong truyền thống Việt. _________________________________ Để xem thử Bản Bạch thư này có giữ tính này,tính nọ,tính kia như tác giả ghi ra : tính khách quan,tính vô tư và sự thẳng thắn,trung thực hay không hãy xét qua 2 phần đầu để coi thử trong đó lịch sử có bị thay đổi,thêm bớt gì không,và bài học nào rút ra từ đó.Tác giả đã miêu tả thực trạng Việt nam là :Một đất nước tan nát;Một dân tộc chia lìa;Một xã hội nghèo đói,lạc hậu và Một di sản không có kế thừa. Trong phần ghi nhận Một đất nước tan nát,tác giả khởi điểm từ mốc đứng sau thế chiến thứ hai.Huệ Đức đã ghi chép nội dung và ý chính. Trong phần ghi nhận Một dân tộc chia lìa,tác giả dẩn vào thời điểm trước cuộc chiến đến khi chiến tranh chấm dứt vào năm 1975.Huệ Đức cũng đã ghi chép nội dung và ý chính. Bây giờ trải ra để nhìn cho rõ ràng. Tác già,không có ký tên chỉ do kẻ có tên Nông Dân trích dẩn viết rằng : "Sau thế chiến thứ hai,Việt Nam đã bỏ lỡ một cơ hội hiếm hoi giành lại tự do và tự chủ,để lại bị xô đẩy vào cuộc*chiến tranh ý thức hệ cốt nhục tương tàn suốt 30 năm."Câu nói này đã khẳng định rằng : đây là một cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn qua ý thức hệ. Hiển nhiên,khẳng định này hoàn toàn sai, đối chiếu với sự thật,đối chiếu với lịch sử,và đối chiếu với chính nghĩa đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Thật vậy.Thế nào là nội chiến?Thế nào là chiến tranh ý thức hệ? - Nội chiến là một cuộc giành giựt quyền bính bằng võ lực,giữa những người cùng một quốc gia,trên lãnh thổ của quốc gia đó,và nhằm mục đích tối hậu là phục vụ và bảo vệ quyền lợi của quốc gia đó. Đó là bản chất của một cuộc nội chiến.Nó khác hẳn với bản chất cuộc chiến tranh ý thức hệ.Khi tác giả đem cả hai nhập một đã hoàn toàn sai. Bản chất của cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn khác với bản chất của cuộc chiến tranh Việt Nam từ 1945 đến 1975,một cuộc chiến tranh giữa những người Việt quốc gia làm nghĩa vụ dân tộc và những người Việt cộng sản làm nghĩa vụ quốc tế. Đúng thế.Chính vì Việt cộng đem chủ nghĩa ngoại lai và ý thức hệ từ quốc tế đem thẳng vào Việt Nam,dùng tà thuyết đó,với thủ đoạn,bạo lực và chiến tranh để xóa bỏ lịch sử Việt Nam,hủy diệt truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam,và biến toàn thể nước Việt Nam thành một đế quốc đỏ của Nga sô.Vì thế mà người Quốc Gia,làm nghĩa vụ dân tộc đã phải đứng lên chống lại.Và,vì vậy,cuộc chiến tranh ấy không gọi được là một cuộc nội chiến cốt nhục tương tàn. Lịch sử vẫn còn đó,vẫn rành rành ra đó.Hồ chí Minh là một cán bộ cộng sản quốc tế,và y đã đem cuộc đời y nhập vào sự nghiệp của cộng sản quốc tế lãnh đạo bởi điện Cẩm Linh.Y được huấn luyện tại Nga sô,đã được giao phó công tác phát huy chủ nghĩa cộng sản và xây dựng đảng Cộng sản tại Đông Nam Á.Từ ngày 03-02-1930,theo lệnh của Mạc tư Khoa,y chính thức thành lập đảng Cộng sản Đông Dương,trong tiến trình thi hành nghĩa vụ chiến lược của Cộng đảng quốc tế,tức là thôn tính và cộng sản hóa toàn cõi Đông Dương,bắt đầu là Việt Nam. Năm 1945,Hồ chí Minh cướp được quyền bính,việc đầu tiên của y là lo diệt trừ người quốc gia và bắt tay với thực dân Pháp.Chính y đã ký hiệp ước ngày 06-03-1946 cho phép thực dân Pháp mang 15 ngàn quân vào Hà nội.Ngày 19-05-1945,chính y đã rước đoàn quân của Leclerc đi vào Hà nội,hôm ấy dân chúng được lệnh treo cờ đỏ sao vàng gọi là ngày mừng sinh nhật của y. Mục đích độc nhất và duy nhất của tên Hồ chí Minh lúc ấy là diệt trừ người quốc gia,và bắt tay thực dân Pháp để củng cố quyền bính và củng cố cho Đảng của y.Cũng chính vì mục đích đó mà ngày 19-12-1946 y đã phải quay đầu lại chống Pháp và phát động cái gọi là "toàn dân kháng chiến chống ngoại xâm". Cuộc chiến tranh 1946 giúp cho đảng cộng sản Việt Nam độc chiếm quyền lãnh đạo đất nước,xây dựng hạ tầng cơ sở đảng,bần cùng hoá nhân dân,khép nhân dân vào gọng kềm cai trị,thẳng tay diệt trừ người quốc gia và cướp công kháng chiến của toàn dân. Phải làm rõ ràng minh bạch chỗ này : cuộc chiến tranh vào năm 1946 không phải do nơi Hồ chí Minh phát động mà có. Từ tháng 09-1945,khi quân đội Pháp theo chân quân đội Anh trở lại Việt Nam,thì những người chống pháp không phải là Việt cộng,núp bóng dưới chữ Việt Minh,tức là Việt Nam Quang Phục Đồng Minh hội đã có từ thời Cường Để làm cách mạng.Chúng đã tiếm đoạt 2 chữ đó chứ bản thân của Việt Minh lúc khởi đầu không có cộng sản về sau chúng xâm nhập và tiêu diệt hết để còn lại đảng của chúng nắm quyền.Thời gian này,các lực lượng quốc gia thuộc các chính đảng như Việt Nam Quốc Dân Đảng,Đại Việt,Phục Quốc,Duy Dân,và các lực lượng giáo phái như Cao Đài,Hòa Hảo... Phe đệ tứ của Tạ Thu Tâu cũng sát cánh với người quốc gia để chống lại Pháp. Chỉ có bọn Hồ chí Minh(Việt Minh) là không. Chẳng những thế,chúng đã không chống Pháp mà còn lạy lục tướng Gracy,tư lệnh quân đội Hoàng gia Anh,tước khí giới Nhật tại Nam Việt,và xin được bắt tay với thực dân Pháp.Chính Trần văn Giàu,tên chủ tịch Ủy Ban Kháng Chiến Nam Bộ,đã ra thông cáo lên án những lực lượng quốc gia đang chống pháp lúc ấy là phản động,và đòi những lực lượng ấy phải giao nạp khí giới,cũng như trong bóng tối chúng ra tay thủ tiêu lần lượt những người quốc gia khi có dịp.Chỉ về sau này,khi bị đi vào cái thế không quỳ lụy lòn cúi thực dân Pháp được nữa,Việt Minh mới quay đầu chạy theo người quốc gia để chống Pháp,đồng thời cướp công của người quốc gia. Việt Minh chống Pháp lúc đó chẳng phải vì dân tộc Việt Nam gì cả mà là vì bản năng.Chủ nghĩa thực dân trắng của Pháp và chủ nghĩa cộng sản đỏ của quốc tế cộng sản xung khắc và loại trừ nhau.Chúng xung khắc nhau và loại trừ nhau là vì bản năng sinh tồn,và vì quyền lợi của chúng chứ không phải vì quyền lợi của dân tộc Việt Nam. Nhưng từ năm 1948 đến 1949,khi quốc gia Việt Nam ( Etat du Viet nam) được thành lập,thì kẻ thù chính của cộng sản không còn là thực dân Pháp nữa,mà là NGƯỜI QUỐC GIA,những người Việt Nam mến yêu đất nước,mến yêu quê mẹ,yêu dân tộc Việt Nam,yêu tự do,tập hợp dướii lá cờ vàng 3 sọc đỏ và Tiếng Gọi Công Dân,dưới sự lãnh đạo tinh thần của tất cả tôn giáo như Cao Đài,Công Giáo,Phật Giáo,Hòa Hảo...Họ nắm tay nhau từ Bắc chí Nam để làm chung nhau một sứ mạng : chiến đấu dành độc lập cho đất nước và bảo vệ cho đất nước khỏi rơi vào nanh vuốt cộng sản.NGƯỜi QUỐC GIA đã trở thành kẻ thù bất cộng đái thiên của tập đoàn cộng sản mà tên cầm đầu đảng là Hồ chí Minh. Bởi vì sao? Bởi vì,thực dân Pháp có thể nhượng bộ cộng sản,như sau này đã nhượng bộ,vì đó là vấn đề quyền lợi.Nhưng NGƯỜI QUỐC GIA không bao giờ và không thể nào nhượng bộ cộng sản được,vì đó là sinh mệnh của họ và của cả dân tộc. _________________________________________ Trở lại phần đầu,ngay từ lúc phân tích thực trạng của nước Việt Nam,tác giả không có tên ,chỉ do kẻ có tên Nông Dân trích lại bài để đăng lên Thư Viện Việt Nam, đã không nhìn vào đúng bản chất cuộc chiến và lập lại đúng y những gì xưa nay đã bị nhồi nhét để hiểu được có một chiều,theo kiểu : Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu,một trăm năm đô hộ giặc Tây,ba mươi năm nội chiến từng ngày thành thử nêu cao cuộc chiến tranh ý thức hệ mà đem nhập vào cuộc nội chiến là hai điều khác biệt nhau kể từ bản chất rồi. Cho đến nay năm 2009,đã chứng tỏ Việt cộng là bọn bán nước,bán đất,bán lãnh thổ và cũng chính bọn chúng đã tiêu diệt làm suy vong sinh mệnh của dân tộc Việt Nam,văn hoá Việt Nam. Thế cho nên,khi nhìn kế tiếp những điều tác giả Bạch Thư đòi hỏi cần phải giải pháp cho đất nước là "Không có kẻ thắng người thua"và xây dựng lại trên 4 điểm kể ra gồm có : không bạo lực,không dối trá,không chủ nghĩa,không hận thù,sao nghe ra một tiếng trống đánh thùng rồi tiếng chiêng xập xỏa đánh beng,coi bộ nuốt khó vô mà tai cũng khó nghe lắm. Ngồi chung với bọn thủ phạm tội ác chiến tranh và diệt chủng của người Việt Nam để xây dựng lại nước Việt chăng?Dễ nghe nhỉ ? Huệ Đức Last edited by hueduc; 11-05-2009 at 01:15 AM. Lý do: lỗi typing |
|
#4
|
|||
|
|||
|
Huệ Đức chờ vài ngày để độc giả có dịp đọc lại từng đọan trong Bạch Thư rồi mới viết tiếp những phân tích của Huệ Đức căn cứ vào từng đọan từng câu từng chữ để hiểu Bạch Thư này dẫn đi tới đâu và phát xuất từ đâu.
Phần đầu,trong việc phân tích về thực trạng của đất nước,gồm có tất cả là 4 phần,không biết viết bởi ai,nhưng chắc chắn một điều là lập đi lập lại rất nhiều lần,ngôn từ giống y hệt những gì mà phát xuất từ Bắc Việt,và đôi lúc diễn tả giống như là một người đang đứng vị trí của kẻ trong guồng máy cầm quyền chứ không phải của một người dân Việt bình thường như tác giả tự mô tả. Độc giả đọc qua cũng thấy : nào là xiềng xích,đất nước bị bom đạn,môi sinh bị tàn phá bởi thuốc khai quang,chiến tranh tàn phá,người bóc lột người,trong tình trạng chung của các nước Xã hội Chủ nghĩa anh em,nhà nước không tìm ra lối thoát,còn người Việt hải ngoại thì khủng khoảng niềm tin,mất định hướng,mất đối tượng xây dựng,mất truyền thống văn hóa... Coi bộ nghe thấy chừng này cũng nhiều rồi,độc giả nào muốn đọc cho rõ từng câu,từng chữ thì xin xem Bạch Thư,không phải trích dẩn ra đây để làm thêm rườm rà. Xiềng xích cũng có thật,không phải là nói láo.Bom đạn trên đất nước cũng có thật không phải nói láo.Thuốc khai quang cũng có,không phải là nói láo.Người bóc lột người cũng có,không phải nói láo.Nhưng tác giả chỉ nói dân Việt,nước Việt là nạn nhân mà quên chuyện khác,bỏ qua không nói đến.Không lẻ khi không mà có nạn nhân?Còn thủ phạm đâu?Vắng mặt khiếm diện trước Tòa án rồi. Tòa án công minh thì luôn luôn có 2 chữ công và minh.Công là công bằng.Đã có nạn nhân thì phải xử bản án cho kẻ thủ phạm đã gây ra tội ác đối với nạn nhân đó.Minh là minh bạch.Dù tên thủ phạm đó có vắng mặt đi nữa thì tên họ của nó phải được nêu ra.Công lý không thể mù được. Nếu không nêu rõ tên thủ phạm tức là không minh bạch,hơn nữa đã mù mờ như thế thì người nào đọc vô cũng có quyền nghi ngờ. Tác giả gọi rằng Xã hội chủ nghĩa anh em tức là không phải người dân Việt rồi.Lịch sử lập quốc có chũ nghĩa anh em nào đâu?Mấy chữ Xã hội chủ nghĩa chỉ có từ những năm 1930 và được nhấn mạnh nhiều lần bằng chữ Xã hội Chủ nghĩa anh em.Tiếp nữa tác giả kêu tên nướcViệt cộng đang cầm quyền là nhà nước, mà nhà nước đó không tìm ra lối thoát thì đâu ăn nhập gì tới người dân Việt Nam?Bởi vì sao?Vì lẻ Việt cộng là Việt cộng và chưa từng bao giờ là người Việt Nam cả.Từ hướng nhìn đó mà nhìn người Việt hải ngoại,mất niềm tin,mất định hướng,mất truyền thống văn hóa.Quả thật tác giả viết Bạch Thư đã dẫn người đọc vào ngõ cụt một chiều rồi. Hỏi vài câu mà chơi thôi : Người Việt mất định hướng là định hướng gì?Có phải là mất định hướng xã hội Chủ nghĩa không?Mất truyền thống văn hóa thì cũng đúng rồi.Bỏ nhà cửa mà chạy,mất quê hương là đã mất một phần lớn văn hoá đúng chứ sao.Nhưng người Việt Nam vẫn quần tụ nhau chính vì không muốn mất văn hoá,ngay cả lúc tha hương vì đại hoạ cộng sản.Nhập vào văn hoá xứ người cố nhiên người Việt cũng phải bị biến đổi không thể nào tránh khỏi.Nhưng tác giả cũng quên nói thủ phạm gây ra là ai?Không lẻ người Việt hải ngoại tự gây ra rồi bỏ chạy ra ngoại quốc cho bị mất đi văn hoá? Huệ Đức để dành cho ai muốn vào đây đánh quyền Anh,thì nội cái đoạn mà Huệ Đức trích ra trên đây cũng là mục tiêu để đấm vào như đấm bao cát vậy.Xin tiếp tay Huệ Đức để Huệ Đức nhìn vào những chỗ khác trong Bạch Thư nữa. Huệ Đức |
|
#5
|
|||
|
|||
|
Quote:
Xin tiếp tục tìm ra những âm mưu mù mờ trong cái gọi là "bạch thư" trên. Người Việt Yêu Nước là yêu nước Việt Nam. Người Việt Yêu Nước không có yêu hay tôn thờ cái gọi là chủ nghĩa gì cả. Xin bạn tiếp tục Tìm Hiểu Sư Thật và Vạch Trần Sự Gian Trá bằng Cái Tâm, bằng Tấm Lòng Người Viêt Nam Yêu Nước Việt Nam. Trân trọng, LBP |
|
#6
|
|||
|
|||
|
Chân thành cám ơn Ban An Ninh góp ý. xin phép điều chỉnh : h**p://www.vietnamvanhien.org
Chân thành cám ơn Huệ Đức và Lý Bá ghé qua Sự tham luận chân chính là phân tích và phê bình trên hai mặt văn học và chính trị mà không nên " chụp mũ ". Nếu góp ý cuả quý vị đúng thì không có lý do gì mà tác giả không điều chỉnh...? Nếu hiểu lầm thì sẽ được làm sáng tỏ phải không quý vị ...? Nông Dân kính mời quý vị phê bình tiếp ... |
|
#7
|
|||
|
|||
|
Quote:
Chào bạn, Những người tị nạn cộng sản khắp nơi trên thế giới nhưng Hoa Kỳ là nước có nhiều người Việt tị nạn nhất.Sau cả mấy chục năm học hỏi và quan sát,để nhìn cho ra kẻ thù dấu mặt,thông thường không nhìn vào cái mặt nạ bên ngoài,mà nhìn cho ra cái cốt lõi của nội dung một bài viết,một đề tài,và một lý thuyết. Người Việt quốc gia,miền Nam Việt Nam đã học nhiều bài học để đời để truyền lại cho con cháu.Kể từ khi câu nói của vị Tổng Thống thời Việt Nam Đệ Nhị Cộng Hoà nói,đã được lan truyền xa và rộng khắp nơi trong nước Việt và ra tận hải ngoại,là "Đừng nghe những gì cộng sản nói,mà hãy nhìn những gì cộng sản làm" đã có ảnh hưởng rất lớn làm tỉnh ngộ nhiều người.Nói như thế có nghĩa là ngoài sự nói láo và lật lọng,còn thêm một điều này nữa : Cộng sản nói thì nghe hay lắm,chẳng thế mà có rất nhiều kẻ trí thức của một thời trước kia nghe theo để đi làm cách mạng cho chúng,về sau mới biết cái thiên đường bằng bánh vẽ thì muộn rồi.Xin tóm tắt vào vài điểm chính yếu,vì thời xưa thì khó khăn trong vấn đề bàn luận,tin tức không nhanh chóng,nhưng thời nay thì khác nhờ có Internet,chuyện gì cũng có thể phân biệt rõ ràng cho người đọc,không cần gì phải chụp cái mũ.Người đọc sáng suốt chứ không phải ai nói sao thì nghe vậy,hơn nữa trên đất Hoa Kỳ không có chuyện khẩu súng AK và và nhà tù chờ đón,nên bất cứ ai cũng có thể trao đổi ý kiến,suy nghỉ,vì chuyện dân tộc,quốc gia không phải riêng một ai,một người nào,một nhà nào,một nhóm nào hay một đảng nào.Đúng như lời người bạn Nông Dân nói. Tuy nhiên bây giờ có thể phân định rõ ràng mấy điều này : 1) Hồ chí Minh và tập đoàn cộng sản Việt Nam là bọn bán nước. 2) Đảng cộng sản kể từ tên Hồ chí Minh và đồng đảng của chúng hiện nay mang tội phản quốc. 3) Đảng của chúng phải được toàn dân Việt Nam đặt ra ngoài vòng pháp luật. 4) Vì thế,nếu bất cứ những ai đã toan tính viết ngược lại lịch sử,là tên Hồ chí Minh ra đi để cứu nước,và lầm lẩn mang chủ nghĩa Mác-Lê vào đất Việt phải được xem xét lại coi thử có phải là đồng đảng của chúng không? Nếu bạn Nông Dân thấy rằng trong những phần kể lại lịch sử vừa mới gần đây mà có những chữ cho rằng Hồ chí Minh ra đi cứu nước thì hãy sửa lại trước đi,rồi sau đó phải sửa thêm là tên Nguyễn Ái Quốc tức là Hồ chí Minh không phải là kẻ yêu nước Việt Nam,mà chỉ là vì cộng sản quốc tế,và biến cho dân Việt thành vô sản,và chính nó làm như vậy không phải vì lầm lẩn. Nói rằng nó, Hồ chí Minh và tập đoàn đảng cộng sản yêu nước là nói láo. Nói rằng nó, Hồ chí Minh và tập đoàn đảng cộng sản lầm lạc hay lầm lẫn mang chủ nghĩa từ bên Âu châu,bên Nga sô chỉ là muốn chạy tội cho nó và đảng cộng sản của nó trước lịch sử. Huệ Đức đã đi qua bên website của Việt Nam Văn Hiến để đọc thêm các tài liệu từ bên đó nhìn thấy chuyện nói về cuộc chiến và phân tích cuộc chiến vừa qua,đã thấy như thế. Tiếp theo,đọc tiếp phần tài liệu Triết lý Hoà giải,nhưng đã bị đóng lại nên cũng không biết nói gì trong đó.Nếu bạn Nông Dân không sửa lại những điều vừa nêu lên,Huệ Đức chỉ có thể cho rằng bạn đang đứng ở vị trí của tập đoàn phản quốc Hồ chí Minh để nói chuyện.Và vì vậy,chuyện Hòa giải sẽ không bao giờ được đón nhận,dầu cho triết lý đó có hay ho đến đâu đi nữa cũng thế. Huệ Đức Last edited by hueduc; 11-08-2009 at 05:23 PM. Lý do: thiếu 1 vài chữ |
|
#8
|
|||
|
|||
|
Xin chuyển bài " Quan Điểm của Ông Ngô Đình Nhu về Hiểm Hoạ Xâm Lăng của Trung Cộng" do Tiến Sĩ Phạm Văn Lưu viết, để quý vị nhận xét.
LBP Quan Điểm của Ông Ngô Đình Nhu về Hiểm Họa Xâm Lăng của Trung Cộng (Nguồn: VietCatholic News) Tiến Sĩ Phạm Văn Lưu Khi hay tin Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị ám sát, Cố Tổng Thống Tưởng Giới Thạch của Trung Hoa Dân Quốc, đã nhận xét: Người Mỹ có trách nhiệm nặng nề trong vụ ám sát xấu xa này. Trung Hoa Dân Quốc mất đi một đồng chí tâm đầu ý hợp... Tôi khâm phục ông Diệm, ông xứng đáng là một lãnh tụ lớn của Á Châu, Việt Nam có lẽ phải mất đến 100 năm nữa mới tìm được một lãnh tụ cao quí như vậy [1]. Nhưng khi đọc xong tác phẩm Chính Ðề Việt Nam của ông Ngô Ðình Nhu [2], tôi nghĩ cần phải thêm vào lời nhận xét đó, Việt Nam có lẽ phải mất đến 100 năm hay nhiều hơn nữa mới tìm được một nhà lãnh đạo có viễn kiến chính trị sâu sắc như ông Nhu... Thực vậy, đối với cá nhân người viết, sau hơn 30 năm giảng dạy và nghiên cứu về các vấn đề chính trị Việt Nam tại một số các viện đại học, các viện nghiên cứu, các bảo tàng viện và thư viện tại Việt Nam, Úc, Hoa Kỳ và Âu Châu... Người viết được các đồng nghiệp và các chuyên gia quốc tế về Việt Nam đã dành cho một chút cảm tình và nể trọng về kiến thức chuyên môn và sự khổ công đọc sách. Tuy nhiên, với tất cả sự thận trọng cần thiết của một người nghiên cứu lịch sử, người viết phải thành thật công nhận rằng, trong tất cả những sách nghiên cứu mà người viết đã có dịp đọc trong hơn 30 năm qua vì sở thích hay vì nhu cầu giảng dạy và nghiên cứu đòi buộc phải đọc bằng Việt, Pháp và Anh ngữ, chưa có một tác phẩm nào, thể hiện một sự tổng hợp bao quát và rất giá trị về các vấn đề chính trị thế giới trong hơn 200 năm qua, để rồi sau đó đưa ra những viễn kiến chính trị vô cùng sâu sắc để làm kim chỉ nam phát triển cho Việt Nam cũng như các quốc gia chậm tiến trên thế giới, như tác phẩm này của ông Nhu. Có lẽ phải nói đây là một đóng góp quí báu vào kho tàng tư tưởng chính trị thế giới. Và giả dụ rằng, nếu có thể sống thêm 100 năm nữa để đọc sách, người viết nghĩ rằng không thể nào có được một óc tổng hợp bao quát, đứng đắn và một viễn kiến chính trị sâu sắc thần kỳ như tác giả của quyển Chính Ðề Việt Nam. Vì tác phẩm nguyên bản bằng Pháp ngữ, và người viết tin rằng dịch giả đã rất xuất sắc trong khi chuyển ngữ, vì ấn bản Việt ngữ đã diễn tả một cách hết sức lưu loát những khía cạnh sâu sắc và phức tạp của các vấn đề. Tuy nhiên, những người đã quen tiếp cận với lối hành văn của ông Nhu qua các diễn văn mà ông đã soạn thảo cho Tổng Thống Diệm trong suốt 9 năm của nền Ðệ Nhất Cộng Hòa [3], chắc chắn sẽ thấy rằng cách hành văn trau chuốt, chính xác, nghiêm túc, sắc bén và chặt chẽ của ông Nhu mà bản dịch không thể nào thể hiện được. Tuy nhiên, người viết muốn độc giả trực tiếp tiếp cận, một phần nào, với cách luận giải và trình bày độc đáo của ông Nhu về các vấn đề chính trị Việt Nam và quốc tế, nên người viết đã quyết định trích nguyên văn những phần trong Chính Ðề Việt Nam liên quan dến chủ đề của bài viết này. Và người viết sẽ hạn chế tối đa phần đưa ra những diễn giải và nhận xét riêng tư của mình. Về nội dung tác phẩm, có lẽ phần cuốn hút được sự ngưỡng mộ nhất của người viết là, trước đây gần nữa thế kỷ, ông Nhu đã nhận xét Liên Xô sẽ tự giải thể để làm hòa với Tây Phương và Trung Cộng sẽ thất bại trong việc sử dụng chủ nghĩa Cộng Sản để phát triển kinh tế, cũng như Âu Châu sẽ tập hợp lại với nhau trong một khối thống nhất như Khối Liên Hiệp Âu Châu ngày nay. Nhưng điều hấp dẫn hơn nữa, ông Nhu đã không đưa ra những lời tiên đoán như một người thầy bói hay một chiêm tinh gia, trái lại, ông đã đưa ra những phán đoán của mình, sau khi đã phân tích và tổng hợp các dữ kiện lich sử và các biến cố chính trị thế giới, một cách khoa học, khách quan và vô tư. Chính vì vậy, người viết nghĩ rằng tập sách này sẽ có một mãnh lực vô cùng hấp dẫn đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam và các quốc gia chậm tiến Á Phi, nếu họ thực sự mong muốn xây dựng và phát triển đất nước, theo một đường lối khoa học, thực tiễn và hợp lý nhất. Vì tác phẩm bao quát nhiều vấn đề lớn lao liên quan đến kinh nghiệm phát triển kinh tế của Nhật Bản, Liên Xô, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ,... và cả trường hợp của Trung Cộng nữa. Ðó là những đề tài quá lớn cho bài viết này. Do đó, người viết nghĩ rằng, vấn đề thời sự nóng bỏng nhất hiện nay là vấn đề Trung Cộng xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải, các hải đảo Hoàng Sa & Trường Sa cùng vùng Cao Nguyên Trung Phần. Chúng ta thử tìm xem, gần 50 năm trước đây, ông Nhu đã tiên đoán hiểm họa này ra sao, đã kiểm điểm lại chinh sách ngoại giao sai lầm của chúng ta như thế nào và phương sách nào phải theo đuổi để chống lại Trung Cộng, để chúng ta có thể thấy được kiến thức uyên bác của một chính trị gia và cũng là một học giả lỗi lạc của thời đại chúng ta. Sự thiển cận của nhà cầm quyền Hà Nội Sự xâm lăng của Trung Quốc đối với Việt Nam có tính cách trường kỳ, nhưng những nhà lãnh đạo Hà Nội vì thiển cận và vì quyền lợi hẹp hòi của Ðảng Cộng Sản và cũng có thể vì quyền lợi cá nhân ích kỷ của những vị lãnh đạo, đã không ý thức hiểm họa xâm lăng khiếp hãi đó của Trung Quốc, họ đã xem nhẹ quyền lợi của quốc gia, dân tộc, đã liên kết với Trung Cộng và Liên Xô, đánh mất đi cơ hội ngàn năm một thuở, là khai thác những mâu thuẫn giữa hai khối Tây Phương và Liên Xô sau Thế Chiến Thứ Hai, để khôi phục độc lập và nhận viện trợ của cả hai khối để phát triển dân tộc... như Ấn Ðộ. Trái lại, việc cam tâm làm chư hầu cho Trung Cộng và Liên Xô đã đưa Việt Nam vào cuộc chiến tranh với Tây Phương một cách vô nghĩa và phi lý, và đã đem lai một hậu quả vô cùng khủng khiếp cho cả dân tộc, đó là sự hủy diệt toàn bộ sinh lực của quốc gia, cả về phương diện tinh thần lẫn vật chất và sinh mang của người Việt, trong suốt hơn 30 năm... Nhưng còn tệ hại hơn nữa, là sự nhận viện trợ đó từ Trung Cộng đã là tiền đề để rước họa xâm lăng từ phương Bắc vào Việt Nam ngày nay. Từ những năm đầu của thập niên 1960, ông Nhu đã nhìn thấu suốt được hiểm họa xâm lăng truyền kiếp đó như sau: Trong lịch sử bang giao, giữa chúng ta và Trung Hoa, các biến cố xảy ra đều do hai tâm lý đối chọi nhau. Từ năm 972, sau khi đã nhìn nhận độc lập của Việt Nam rồi, lúc nào Trung Hoa cũng nghĩ rằng đã mất một phần lãnh thổ quốc gia, và lúc nào cũng khai thác mọi cơ hội đưa đến, để thâu hồi phần đất mà Trung Hoa xem như là của họ. Bên kia, Việt Nam lúc nào cũng nỗ lực mang xương máu ra để bảo vệ nền độc lập của mình. Tất cả các sự kiện, xảy ra giữa hai quốc gia, đều do sự khác nhau của hai quan niệm trên. Ngay năm 981, nghĩa là vừa ba năm sau khi đã nhìn nhận độc lập của Việt Nam, Tống triều thừa lúc nội chính Việt Nam có biến, vì Ðinh Tiên Hoàng vừa mất, và sự kế vị không giải quyết được, gởi sang Việt Nam hai đạo quân, do đường thủy và đường bộ, để đặt lại nền thống trị của Trung Hoa. Ý cố định của Trung Hoa là đặt lại nền thống trị và không lúc nào Trung Hoa thỏa mãn với sự thần phục và triều cống của chúng ta. Ngay những lúc mà quân đội chúng ta hùng cường nhất, và chiến thắng quân đội Trung Hoa, thì các nhà lãnh đạo của Việt Nam cũng khôn ngoan, tìm cách thỏa thuận với Trung Hoa và tự đặt mình vào chế độ thuộc quốc. Nhưng, điều mà Trung Hoa muốn không phải là Việt Nam chỉ thần phục và triều cống. Trung Hoa, suốt gần một ngàn năm lịch sử, lúc nào cũng muốn lấy lại mảnh đất mà Trung Hoa coi như bị tạm mất. Trong 900 năm, từ năm 939 đến năm 1840, khi Tây phương tấn công vào xã hội Ðông Á làm cho những mâu thuẫn, nội bộ của xã hội này, tạm ngưng hoạt động, Trung Hoa đã bảy lần toan chiếm lại nước Việt Nam. Hai lần do nhà Tống chủ trương, ba lần nhà Nguyên, một lần nhà Minh và một lần nhà Thanh. Một hành động liên tục như vậy, nhất định có nghĩa là tất cả các triều đại Trung Hoa đều theo đuổi một chính sách, đặt lại nền thống trị trên lãnh thổ Việt Nam. Chính sách này do một điều kiện địa dư và kinh tế ấn định: lưu vực sông Hồng Hà là đường thoát ra biển thiên nhiên của các tỉnh Tây Nam của Trung Hoa, và ngược lại cũng là con đường xâm nhập cho các đạo quân chinh phục vào nội địa Trung Hoa. Ðã như vậy thì, ngay bây giờ, ý định của Trung Cộng vẫn là muốn thôn tính, nếu không phải hết nước Việt Nam, thì ít ra cũng Bắc phần. Cũng chỉ vì lý do này mà, năm 1883, Lý Hồng Chương, thừa lúc Tự Ðức cầu viện để chống Pháp, đã, thay vì gởi quân sang giúp một nước cùng một văn hóa để chống ngoại xâm, và thay vì cứu viện một thuộc quốc mà Trung Hoa đáng lý ra có nhiệm vụ bảo vệ, lại thương thuyết một kế hoạch chia cắt Việt Nam với Pháp, Trung Hoa dành cho mình các phần đất gồm các vùng bao bọc lưu vực sông Hồng Hà để lấy đường ra biển. Và ngay chính phủ Tưởng Giới Thạch năm 1945, dành phần giải giới quân đội Nhật Bản từ vĩ tuyến 16 trở lên phía Bắc [4], cũng vì lý do trên. Xem thế đủ biết rằng, đối với dân tộc chúng ta họa xâm lăng là một mối đe dọa thường xuyên. (tr. 166) Do đó, Trung Hoa của Mao Trạch Ðông, cũng như Trung Hoa của các triều đại Nguyên, Tống, Minh, Thanh là một đe dọa truyền kiếp. Sùng bái chủ nghĩa Cộng Sản là một sai lầm nghiêm trọng Trong khi Liên Xô và Trung Cộng xem chủ nghĩa Cộng Sản như là phương tiện tranh đấu để qui tụ các nước nhược tiểu Á Phi vào đồng minh với họ, chống lại sự bao vây của Tây Phương nhằm giúp họ phát triển kinh tế của đất nước họ, thì Cộng Sản Việt Nam sùng bái chủ nghĩa Cộng Sản như là một chân lý để cải tạo xã hội và xây dựng đất nước. Chính vì sự thiếu sáng suốt của nhà cầm quyền Hà Nội đã khiến Việt Nam phải bị chia cắt làm 2 miền vào năm 1954, mất đi cơ hội ngàn năm một thuở, để xây dựng đất nước và củng cố độc lập để chống ngoại xâm. Ông Nhu đã luận giải nan đề đó như sau: Nhưng chúng ta cũng còn nhớ rằng Nga Xô sở dĩ liên kết với các thuộc địa của Tây phương là bởi vì Nga Xô cần có đồng minh trong công cuộc chiến đấu trường kỳ và vĩ đại với Tây phương, mà mục đích trước hết và trên hết, là phát triển dân tộc Nga. Tính cách thiêng liêng giữa các đồng chí của lý tưởng cách mạng xã hội thế giới chỉ là một tín hiệu tập hợp qui tụ kẻ thù của Tây phương vào một mặt trận phục vụ một chiến lược tranh đấu của dân tộc Nga. Ngày nay, mục đích phát triển của Nga đã đạt. Sự thay thế các giá trị tiêu chuẩn chiến lược và giai đoạn của Nga Xô bằng những giá trị tiêu chuẩn, di sản của văn minh nhân loại, như chúng ta đã thấy trong một đoạn trên, là một bằng cớ hùng biện nhất, soi sáng lập trường của Nga. Trung Cộng tố cáo Nga phản bội chủ nghĩa Các-Mác Lê-Nin vì những sự kiện trên. Trung Cộng lại muốn thay thế Nga, nhân danh chủ nghĩa Các-Mác Lê Nin hô hào qui tụ các nước kém mở mang, để phục vụ công cuộc phát triển cho dân tộc Trung Hoa. Ngày nào mục đích phát triển đã đạt, thì cuộc đồng minh mới này do Trung Cộng đề xướng cũng không còn hiệu lực đối với Trung Cộng, cũng như cuộc đồng minh trước đây do Nga đề xướng, ngày nay, không còn hiệu lực đối với Nga. Và mục đích cuối cùng của cuộc tranh đấu vẫn là mục đích dân tộc. Nhiều nhà lãnh đạo Á Ðông mà quốc gia cũng đã bị đế quốc thống trị, đã đủ sáng suốt để nhìn thấu thâm ý chiến lược của Nga Xô. Gandhi và Nehru, từ chối sự đồng minh với Cộng Sản vì lý do trên. (tr. 201) -Ghi chú: [1] Linh Mục De Jaegher, cố vấn thân cận của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và Tổng Thống Tưởng Giới Thạch, đàm luận với tác giả tại Sàigòn vào Tháng Sáu, 1966. [2] Sách được xuất bản mang tên Tùng Phong, Chính Ðề Việt Nam, Saigon-Việt Nam, 2009. [3] Xin xem các diễn văn này trong La Voix de la Juste Cause, Recueils Des Principaux Discours et Meassages du President Ngo Dinh Diem, June 1954-Juillet 1963, Saigon, Service de la Press de la Presidence de la Republique du Vietnam, 1963. Các diễn văn này thường được ông Phạm Ðình Khiêm dịch ra Việt ngữ và GS Tôn Thất Thiện dịch ra Anh ngữ. [4] Có lẽ vì đánh máy sai, nên trong ấn bản in là vĩ tuyến 17, thực tế là vĩ tuyến 16, chú thích của người viết. h**p://w*w.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=103553&z=12 (còn tiếp) |
|
#9
|
|||
|
|||
|
Quan điểm của ông Ngô Đình Nhu về hiểm họa xâm lăng của Trung Cộng
(Nguồn: VietCatholic News) * Tiến Sĩ Phạm Văn Lưu ... Chúng ta chưa có một tài liệu nào chứng tỏ rằng các nhà lãnh đạo miền Bắc hiện nay đã nhận thức các điều kiện trên. Ngược lại, các thư lại chính trị của miền Bắc còn đang ca tụng như là những chân lý những giá trị tiêu chuẩn chiến lược và giai đoạn mà Nga Xô đã bỏ. Như thế thì có lẽ dân tộc chúng ta còn phải bất hạnh mục kích các nhà lãnh đạo miền Bắc của chúng ta tôn thờ như một chân lý, một lý thuyết mà Nga Xô và Trung Cộng chỉ dùng làm một phương tiện tranh đấu và Nga Xô bắt đầu sa thải khi mục đích phát triển đã đạt. Như thế, giả sử mà người Pháp có thật sự thi hành một chính sách trả thuộc địa, như người Anh, đối với Việt Nam, thì các nhà lãnh đạo miền Bắc cũng chưa chắc đã đưa chúng ta ra được ngoài vòng chi phối trực tiếp của hai khối để khai thác mâu thuẫn mà phát triển dân tộc. Trong hoàn cảnh mà cuộc tranh chấp giữa Nga Xô và Tây phương chi phối nặng nề hành động chính trị của các quốc gia nhỏ, lập trường Cộng Sản, lệ thuộc Trung Cộng, của các nhà lãnh đạo miền Bắc, đương nhiên gây phản ứng của Tây phương và sự phân chia lãnh thổ cũng không tránh được. Như vậy, tư cách Cộng Sản của các nhà lãnh đạo miền Bắc là một điều kiện thuận lợi giúp cho người Pháp thi hành những toan tính chính trị của họ ở Việt Nam. Và lập trường Cộng Sản lệ thuộc Nga Xô và Trung Cộng là một nguyên nhân của sự phân chia lãnh thổ Việt Nam, trong khung cảnh chính trị của thế giới, sau Ðại Chiến Thứ Hai, do sự tranh chấp giữa Nga Xô và Tây phương chi phối. Tóm lại nguyên nhân sâu xa của sự phân chia lãnh thổ Việt Nam ngày nay là chính sách thuộc địa của Pháp và lập trường Cộng Sản lệ thuộc Nga Xô và Trung Cộng của các nhà lãnh đạo miền Bắc. Trong thực tế, sự phân chia đã nảy mầm khi hai quốc gia Tây phương Anh và Mỹ, để dọn đường cho một giải pháp chấm dứt sự bế tắc của Pháp ở Việt Nam, nhìn nhận và bắt đầu viện trợ cho quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên, viện trợ quân sự và kinh tế đều qua tay chính phủ Pháp. Và một phần lớn, đã được sử dụng trực tiếp hay gián tiếp trong công cuộc tái thiết nước Pháp đã bị chiến tranh tàn phá. Thời gian qua, xét kỹ thì thời kỳ này lại là thời kỳ mà những thủ đoạn chính trị của Pháp ở xứ này mang đến nhiều kết quả nhất. Bên khối Cộng Sản, Nga và Trung Cộng cũng nhìn nhận Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam và cũng bắt đầu viện trợ. Từ đây, chiến cuộc Việt Nam, biến thành một chiến trường quân sự và địa phương của cuộc tranh chấp giữa Nga Xô và Tây phương. Những mâu thuẫn giữa Nga Xô và Tây phương mà, đúng lý ra, phải được dùng để phát triển dân tộc, lại trở thành những khí giới gieo rắc sự chết cho toàn dân. Những yếu tố của một cơ hội phát triển đã biến thành những khí cụ của một tai họa. Ðồng thời, điều này vô cùng quan trọng cho chúng ta, sự chi phối của Trung Hoa, và sau lưng sự chi phối, sự đe dọa xâm lăng của Trung Hoa, mà chúng ta đã biết là vô cùng nặng nề, một cách liên tục, cho chúng ta trong hơn tám trăm năm, tạm thời đình chỉ trong gần một thế kỷ Pháp thuộc, đã bắt đầu hoạt động trở lại dưới các hình thức viện trợ và cố vấn quân sự cho quân đội của Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam. Chúng ta thừa hiểu rằng sự phát triển của Tàu, là mục đích trước và trên hết trong mọi cuộc Ðồng Minh hiện nay của các nhà lãnh đạo Trung Cộng, cũng như sự phát triển của Nga là mục đích trước và trên hết trong mọi cuộc Ðồng Minh trước đây của các nhà lãnh đạo Nga. (tr. 202 -204) Nhưng Hà Nội còn phạm những lỗi lầm nghiêm trọng hơn nữa, khi quyết định dùng võ lực để thôn tính miền Nam, đã dẫn tới việc trực tiếp đụng độ quân sự với Hoa Kỳ, khiến miền Bắc đã khánh tận và kiệt quệ trong cuộc chiến tranh chống Pháp càng lún sâu trong cảnh tượng hoàn toàn đổ nát và hoang tàn trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, mà ngày nay, qua hành động gần như van nài của Hà Nội để xin lập lại bang giao với Hoa Kỳ vào năm 1996, ai còn chút lương tri bình thường cũng thấy rằng cuộc chiến đó là hoàn toàn vô lý và xuẩn động, mà nguy hiểm hơn nữa là trực tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Cộng tự do xâm lăng Việt Nam, vì Mỹ đã không còn hiện diện ở miền Nam, để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Cộng. Trong tác phẩm Chính Ðề Việt Nam, hiểm họa xâm lăng của Trung Cộng ngày nay cũng đã được báo động cách đây gần 50 năm: “Sự lệ thuộc nói trên và sự chia đôi lãnh thổ đã tạo hoàn cảnh cho sự chi phối và sự toan thống trị của nước Tàu đối với Việt Nam tái hiện dũng mãnh, sau gần một thế kỷ vắng mặt. Ký ức của những thời kỳ thống trị tàn khốc của Tàu đối với chúng ta còn ghi trong mỗi trang lịch sử của dân tộc và trong mỗi tế bào của thân thể chúng ta. Các nhà lãnh đạo miến Bắc, khi tự đặt mình vào sự chi phối của Trung Cộng, đã đặt chúng ta trước một viễn ảnh nô lệ kinh khủng. Hành động của họ, nếu có hiệu quả, chẳng những sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển của chúng ta, mà lại còn đe dọa đến sự tồn tại của dân tộc. Sở dĩ, tới ngày nay, sự thống trị của Trung Cộng đối với Việt Nam chưa thành hình, là vì hoàn cảnh chính trị thế giới chưa cho phép, và sự tồn tại của miền Nam dưới ảnh hưởng của Tây phương là một trở lực vừa chính trị vừa quân sự cho sự thống trị đó. Giả sử mà Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính, thì sự Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian. Trong hoàn cảnh hiện tại, sự tồn tại của miền Nam vừa là một bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của Trung Cộng, vừa là một bảo đảm một lối thoát cho các nhà lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt, khi họ ý thức nguy cơ họ đang tạo cho dân tộc. Nhưng ngày nào họ vẫn tiếp tục thực hiện ý định xâm chiếm miền Nam thì họ vẫn còn chịu sự chi phối của chính sách chiến tranh xâm lăng của Trung Cộng, thay vì chính sách sống chung hòa bình của Nga Xô. Vì vậy cho nên, sự mất còn của miền Nam, ngày nay, lại trở thành một sự kiện quyết định sự mất còn trong tương lai của dân tộc. Do đó, tất cả nỗ lực của chúng ta trong giai đoạn này phải dồn vào sự bảo vệ tự do và độc lập, và sự phát triển cho miền Nam để duy trì lối thoát cho miền Bắc và cứu dân tộc khỏi ách trống trị một lần nữa.” (tr. 212) Chính sách ngoại giao Có lẽ, trong quá khứ, chúng ta quá sùng bái văn hóa Khổng Mạnh và quá lệ thuộc về chính trị đối với các Hoàng Ðế Trung Quốc, nên chúng ta đã không xây dựng được một đường lối ngoại giao khoáng đạt như Nhật Bản để có thể cứu nguy cho đất nước, khi dân tộc bị nạn ngoại xâm. Ông Nhu đã kiểm điểm sự thất bại nặng nề của chính sách ngoại giao của các vua chúa ngày xưa qua những dòng dưới đây: Họa xâm lăng đe dọa dân tộc chúng ta đến nỗi, trong suốt một ngàn năm lịch sử từ ngày lập quốc, trở thành một ám ảnh cho tất cả các nhà lãnh đạo của chúng ta. Và do đó mà lịch sử ngoại giao của chúng ta lúc nào cũng bị chi phối bởi một tâm lý thuộc quốc. Hai lần Lý Thường Kiệt và Nguyễn Huệ tìm cách đả phá không khí lệ thuộc đó. Nhưng mặc dầu những chiến công lừng lẫy và tài ngoại giao rất khéo, hai nhà lãnh đạo trứ danh của dân tộc vẫn phải khuất phục trước thực tế. Tâm lý thuộc quốc đè nặng, chẳng những trên sự bang giao, giữa chúng ta và Trung Hoa, lại còn lan tràn sang lĩnh vực bang giao giữa chúng ta và các nước láng giềng. Nếu, đối với Trung Hoa, chúng ta là thuộc quốc, thì đối với các nước chung quanh, chúng ta lại muốn họ là thuộc quốc. Tâm lý đó làm cho sự bang giao, giữa chúng ta và các nước láng giềng, lúc nào cũng gay go. Ðã đành rằng công cuộc Nam tiến của chúng ta, là một công trình mà dân tộc đã thực hiện được. Nhưng chúng ta còn thiếu tài liệu để cho các sử gia có thể xét đoán xem, nếu chính sách ngoại giao của chúng ta khoáng đạt hơn, tựa trên những nguyên tắc phong phú hơn thì, có lẽ sự bành trướng của chúng ta sẽ không một chiều như vậy. Ví dụ, một câu hỏi mà chúng ta không thể tránh được: chúng ta là một dân tộc ở sát bờ biển, nhưng sao nghệ thuật vượt biển của chúng ta không phát triển? Nếu chính sách ngoại giao của chúng ta phong phú hơn, và không bó hẹp vào một đường lối duy nhất, có lẽ sự bành trướng của dân tộc chúng ta, đã sớm phát ra nhiều ngõ, và sinh lực của chúng ta không phải chỉ dồn vào mỗi một công cuộc Nam tiến. Nước chúng ta ở vào giữa hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Ðộ. Với một chính sách ngoại giao khoáng đạt hơn, sự liên lạc quốc tế của chúng ta có lẽ đã rộng rãi hơn, và do đó, vị trí của chúng ta sẽ, đương nhiên, được củng cố bằng những biện pháp dồi dào và hữu hiệu hơn. Nhưng thực tế là vậy đó. Họa xâm lăng của Trung Hoa đè nặng vào đời sống của dân tộc chúng ta, đến nỗi, tất cả các nhà lãnh đạo của chúng ta đều bị ám ảnh bởi sự đe dọa đó. Và, để đối phó lại, họ chỉ có hai con đường, một là thần phục Trung Hoa, hai là mở rộng bờ cõi về phía Nam. Sở dĩ, khi bị Tây phương tấn công, mà các nhà lãnh đạo Triều Nguyễn của chúng ta lúc bấy giờ, không có đủ khả năng quan niệm một cuộc ngoại giao rộng rãi, để khai thác mâu thuẫn giữa các cường quốc Tây phương, là vì các nhà lãnh đạo của chúng ta không lúc nào vùng vẫy, đả phá nỗi không khí tâm lý thuộc quốc đã đời đời đè nặng lên lịch sử ngoại giao của chúng ta. Hành động ngoại giao duy nhất lúc bấy giờ là gởi sứ bộ sang cầu cứu với Trung Hoa. Chúng ta đã biết Trung Hoa đã hưởng ứng như thế nào lời kêu gọi của nhà Nguyễn. Nhưng Trung Hoa cũng đang bị đe dọa như chúng ta, nếu không có lẽ Trung Hoa đã lại thừa cơ hội mà đặt lại nền thống trị ở Việt Nam. Các sứ bộ của chúng ta gởi sang Pháp lại cũng với mục đích điều đình, thần phục với Pháp như chúng ta quen điều đình, thần phục với Trung Hoa, chớ không phải với mục đích đương nhiên phải có của một hành động ngoại giao, là khai thác các mâu thuẫn để mưu lợi cho mình. Vì thế cho nên, nếu chúng ta có cho rằng, công cuộc Nam tiến thành công là một kết quả của chính sách ngoại giao một chiều như trên đã trình bày, thì cân nhắc kết quả đó với những sự thất bại mà cũng chính sách ngoại giao đó đã mang đến cho chúng ta trong một ngàn năm lịch sử, thì có lẽ những sự thất bại nặng hơn nhiều. Sự bành trướng của chúng ta đã thâu hẹp lại và chỉ theo có một chiều, bỏ hẳn cửa biển bao la đáng lý ra phải là cái cửa sống cho chúng ta. Nền ngoại giao của chúng ta ấu trĩ nên, lúc hữu sự, không đủ khả năng để bảo vệ chúng ta. Trong khi đó, đối với một quốc gia nhỏ lúc nào cũng bị họa xâm lăng đe dọa, thì ngoại giao là một trong các lợi khí sắc bén và hữu hiệu để bảo vệ độc lập và lãnh thổ. Trong chín trăm năm, từ ngày lập quốc, chúng ta đã bị ngoại xâm tám lần, bảy lần do Trung Hoa và một lần do Tây phương. Chúng ta đẩy lui được sáu lần, chỉ có lần thứ sáu nhà Minh đặt lại nền thống trị, trong hai mươi năm, và lần thứ tám đế quốc Pháp xâm chiếm toàn lãnh thổ và thống trị chúng ta trong hơn tám mươi năm. Vì vậy cho nên, chống ngoại xâm là một yếu tố quan trọng trong chính trị của Việt Nam. Chính trị cổ truyền, của các triều đại Việt Nam không được quan niệm rộng rãi nên, nếu có phân nửa kết quả đối với sự xâm lăng của Trung Hoa thì lại hướng chúng ta vào một chính sách chật hẹp về ngoại giao. Do đó tất cả sinh lực phát triển của dân tộc, thay vì mở cho chúng ta được nhiều đường sống, lại được dốc hết vào một cuộc chiến đấu tiêu hao chỉ để tranh giành đất dung thân. Một mặt khác, chính sách ngoại giao chật hẹp đã đưa chúng ta vào một thế cô lập cho nên lúc hữu sự, các nhà lãnh đạo của chúng ta không đương đầu nổi với sóng gió, và lưu lại nhiều hậu quả tai hại cho nhiều thế hệ. (Còn tiếp) h**p://w*w.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=103640&z=12 (còn tiếp) |
|
#10
|
|||
|
|||
|
Quan Điểm của ông Ngô Đình Nhu về Hiểm Họa Xâm Lăng của Trung Cộng
(Nguồn: VietCatholic News) * Tiến Sĩ Phạm Văn Lưu Chính sách chống ngoại xâm Cái họa ngoại xâm đối với chúng ta hiển nhiên và liên tục như vậy. Vì sao những biện pháp cổ truyền, của các nhà lãnh đạo của chúng ta trước đây, thành công phân nửa, trong công cuộc chống ngoại xâm Trung Hoa, nhưng thất bại trong công cuộc chống ngoại xâm Tây phương? Trước hết, các biện pháp cổ truyền đã đặt vấn đề ngoại xâm của Trung Hoa là một vấn đề chỉ liên quan đến hai nước: Trung Hoa và Việt Nam. So sánh hai khối Trung Hoa và Việt Nam, và như thế, đương đầu phải là mục đích đương nhiên, thì chúng ta đã thất bại rồi. Những sự thần phục và triều cống chỉ là những biện pháp hoãn binh. Và vấn đề chống ngoại xâm chưa bao giờ được các triều đại Việt Nam đặt thành một chính sách đương nhiên và nguyên tắc, đối với một nước nhỏ, như nước chúng ta. Vì thế cho nên, những biện pháp cần được áp dụng, như biện pháp ngoại giao, đã không hề được sử dụng khi Tây phương xâm chiếm nước ta. Lý do thứ hai, là công cuộc chống ngoại xâm chỉ được chuẩn bị trên lĩnh vực quân sự. Nhưng, nếu chúng ta không thể phủ nhận tính cách cần thiết và thành quả của các biện pháp quân sự trong các chiến trận chống các triều đại Trung Hoa: nhà Tống, nhà Nguyên cũng như nhà Minh, nhà Thanh, chúng ta phải nhìn nhận rằng nỗ lực quân sự của chúng ta rất là giới hạn. Và ngày nay, độc lập rồi, thì nỗ lực quân sự của chúng ta chắc chắn cũng rất là giới hạn. Như vậy, đối với một nước nhỏ, trong một công cuộc chống ngoại xâm, biện pháp quân sự không thể làm sao đủ được. Trên kia, chúng ta có đề cập đến những biện pháp ngoại giao, đặt trên căn bản khai thác mâu thuẫn giữa các cường quốc để bảo vệ độc lập cho chúng ta. Tuy nhiên biện pháp cần thiết nhất, hữu hiệu nhất và hoàn toàn thuộc chủ động của chúng ta, là nuôi dưỡng tinh thần độc lập và tự do của nhân dân, và phát huy ý thức quốc gia và dân tộc. Ðồng thời, áp dụng một chính sách cai trị khoáng đạt, mở rộng khuôn khổ lãnh đạo, để cho vấn đề lãnh đạo quốc gia được nhiều người thấu triệt. Nếu ý thức quốc gia và dân tộc được ăn sâu vào tâm não của toàn dân, và độc lập và tự do được mọi người mến chuộng, thì các cường quốc xâm lăng, dầu có đánh tan được tất cả các đạo quân của chúng ta và có thắng chúng ta trong các cuộc ngoại giao đi nữa, cũng không làm sao diệt được ý chí quật cường của cả một dân tộc. Nhưng ý chí quật cường đó đến cao độ, mà không người lãnh đạo thì cũng không làm gì được đối với kẻ xâm lăng. Vì vậy cho nên, đồng thời với những biện pháp quần chúng nói trên, cần phải áp dụng những biện pháp giáo dục, làm cho mỗi người dân đều quen biết với vấn đề lãnh đạo, và, điều này còn chính yếu hơn nữa, làm cho số người thấu triệt vấn đề lãnh đạo quốc gia càng đông bao nhiêu càng hay bấy nhiêu. Bởi vì, có như thế, những người lãnh đạo mới không bao giờ bị tiêu diệt hết được. Tiêu diệt người lãnh đạo là mục đích đầu tiên và chính yếu của các cường quốc xâm lăng. Nhân đề cập đến vấn đề chống xâm lăng trên đây, lý luận đã dẫn dắt chúng ta đến một vấn đề vô cùng quan trọng. Trước tiên chúng ta nhận thức rằng đối với một nước nhỏ như chúng ta, họa xâm lăng là một đe dọa thường xuyên. Ðể chống xâm lăng, chúng ta có những biện pháp quân sự và ngoại giao. Nhưng hơn cả các biện pháp quân sự và ngoại giao, về phương diện hữu hiệu và chủ động, là nuôi dưỡng tinh thần độc lập và tự do của nhân dân, phát huy ý thức quốc gia và dân tộc, và mở rộng khuôn khổ giới lãnh đạo, để cho vấn đề lãnh đạo quốc gia được nhiều người thấu triệt. Sự thể đã như vậy, thì đương nhiên một chính thể chuyên chế và độc tài không làm sao đủ điều kiện để bảo vệ quốc gia chống ngoại xâm được. Bởi vì bản chất của một chính thể chuyên chế và độc tài là tiêu diệt tận gốc rễ tinh thần tự do và độc lập trong tâm não của mọi người, để biến mỗi người thành một động cơ hoàn toàn không có ý chí, dễ điều khiển dễ đặt để, và dễ sử dụng như một khí cụ. Bản chất của môt chính thể chuyên chế và độc tài là giữ độc quyền lãnh đạo quốc gia cho một người hay một số rất ít người, để cho sự thấu triệt các vấn đề căn bản của quốc gia trở thành, trong tay họ, những lợi khí sắc bén, để củng cố địa vị của người cầm quyền. Hơn nữa, giả sử mà chính thể chuyên chế hay độc tài chưa tiêu diệt được hẳn tinh thần tự do và độc lập trong ý thức của mọi người, thì, tự nó, một chính thể chuyên chế hay độc tài cũng là một lợi khí cho kẻ ngoại xâm. Bởi vì, dưới một chế độ như vậy, nhân dân bị áp bức, sẽ đâm ra oán ghét người lãnh đạo họ, và hướng về, bất cứ ai đánh đổ người họ oán ghét, như là hướng về một người giải phóng, mặc dầu đó là một kẻ xâm lăng. Lịch sử xưa nay của các quốc gia trên thế giới đều xác nhận điều này: Chỉ có những dân tộc sống tự do mới chống được ngoại xâm. Riêng về dân tộc chúng ta, chắc chắn rằng sự kháng cự của chúng ta đối với sự xâm lăng của Tây phương sẽ mãnh liệt hơn bội phần nếu trước đó, nhà Nguyễn, thay vì lên án tất cả những người bàn về quốc sự, đã nuôi dưỡng được tinh thần tự do và độc lập của mỗi người và phát huy ý thức quốc gia và dân tộc trong nhân dân. Ngược lại, mấy lần dân tộc thắng được ngoại xâm, từ nhà Trần đánh đuổi Mông Cổ, đến nhà Lê đánh quân Minh và Quang Trung chiến thắng Mãn Thanh, đều nhờ ở chỗ các nhà lãnh đạo đã khêu gợi được ý chí tự do và độc lập của toàn dân. Và vấn đề vô cùng quan trọng mà chúng ta đã nêu ra trên kia là vấn đề chính thể của nước Việt Nam. Vì những lý do trình bày trên đây, chính thể thích nghi cho dân tộc chúng ta, không phải định đoạt do một sự lựa chọn căn cứ trên những lý thuyết chính trị, hay là những nguyên nhân triết lý, mà sẽ được qui định một cách rõ rệt bởi hoàn cảnh địa dư và lịch sử của chúng ta, cùng với trình độ phát triển của dân tộc. Nếu bây giờ chúng ta chưa có ý thức rõ rệt chính thể ấy phải như thế nào, thì ngay bây giờ chúng ta có thể quan niệm được rằng chính thể đó không thể là một chính thể chuyên chế hay độc tài được. Ðó là một thái độ rất rõ rệt. Tóm lại theo ông Nhu, muốn thoát khỏi hiểm họa xăm lăng của Trung Hoa, chúng ta phải theo đuổi 3 biện pháp sau đây: Biện pháp ngoại giao Việt Nam cần phải có một sách lược ngoại khôn khéo, biết khai thác những mâu thuẫn giữa các cường quốc, các thế lực của các liên minh khu vực như khối ASEAN, khối Liệng Hiêp Âu Châu... vì ngày nay theo khuynh hướng toàn cầu hóa của thế giới, thì ảnh hưởng kinh tế của các quốc gia trên thế giới cỏn có một tác động quyết định tới sự sồng còn đối với Trung Cộng, hơn là 30 hay 40 chục năm trước đây. Ngày nay, sự mâu thuẫn và tranh chấp giữa các cường quốc không còn gay cấn như thời chiến tranh lạnh, nhưng một quốc gia như Trung Cộng với một dân số hơn 1.3 tỉ người, chiếm tỉ lệ 19.64% dân số thế giới, đang vươn vai đứng dậy với tham vọng làm một cường quốc bá chủ Á Châu. Ðó không những là một đe dọa riêng rẽ cho khu vực Á Châu Thái Bình Dương mà còn là một hiểm họa chung cho cả thế giới nữa. Trước đây gần 50 năm, ông Nhu cũng đã đề cập đến vấn đề này. Không phải tình cờ mà ông Paul Reynaud, cựu Thủ Tướng Pháp trong cuộc viếng thăm nước Nga đã long trọng tuyên bố với Thủ Tướng Krutchev, “Nếu các ông tiếp tục viện trợ cho nước Tàu, trong vài mươi năm nữa, một tỷ dân Trung Hoa sẽ đè bẹp các ông và Âu Châu.” (Tr. 157) Trong Tháng Chín, 2009 vừa qua, nhà cầm quyền Hà Nội, đã cử Tướng Phùng Quang Thanh, sang Tân Gia Ba để ký Hiệp Ước Hợp Tác Quốc Phòng, Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh đến Úc Châu, và Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm đến Hoa Kỳ, bí mật thảo luận về vấn đề an ninh lãnh thổ, phải chăng là thái độ nước đến chân mới nhảy, như hai phái đoàn của các vua chúa Triều Nguyễn ngày xưa, chúng ta thử nghe ông Nhu biện giải: Sau khi Trung Hoa bị tấn công, thì lúc bấy giờ phản ứng của chúng ta là vội vã gửi hai phái bộ sang Pháp và Anh, mà không có một sự chuẩn bị ngoại giao nào cả. Lối gởi phái bộ như vậy là lối gởi phái bộ sang Tàu xưa nay. Và sự gởi hai phái bộ sang Pháp và Anh, theo lối gởi phái bộ sang Tàu xưa nay, lại càng làm cho chúng ta nhận thức, một cách rõ rệt hơn nữa, quan niệm ngoại giao của chúng ta lúc bấy giờ mang nặng ‘tâm lý thuộc quốc’ (đối với Tàu), đến mức độ nào. (Tr. 181) Lẽ ra, các nhà lãnh đạo Hà Nội phải tích cực hơn, phải khôn khéo hơn, nếu không dám công khai, thì ít ra cũng phải bí mật, vận động giới truyền thông thế giới, cảnh báo và vận động dư luận thế giới, trước hết là các quốc gia ở vùng Ðông Nam Á Châu, rồi đến Nga Xô, Liên Hiệp Âu Châu và các quốc gia Á Phi biết về hiểm họa xâm lăng của Trung Cộng. Ðiều rõ ràng nhất hiện nay, là các quốc gia trong vùng như Úc, Tân Gia Ba, Thái Lan, Nam Duong và Mã Lai Á [5], đều gia tăng ngân sách cho tài niên 2009 về Không Lực và Hải Quân gấp bội, nhằm đối đầu với âm mưu bành trướng của Trung Cộng. Nghĩa là các quốc gia này đều bắt đầu lo sợ về sự lớn mạnh của Trung Cộng, nhưng chưa có một vận động quốc tế nào nhằm qui tụ những nỗ lực này thành cụ thể và tích cực để ngăn chặn sự bành trướng đó. Việt Nam là nạn nhân trước hết và trực tiếp của nguy cơ này, phải biết dồn hết nỗ lực về mặt trận ngoại giao, phải vận động, công khai hoặc bí mật, tất cả các quốc gia trên thế giới nhận thức sâu sắc được mối hiểm họa nghiêm trọng này và khi tạo được sự đồng thuận của đa số... Việt Nam vận động đưa vấn đề này ra Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc, dù biết rằng hiện nay Trung Cộng là 1 trong 5 hội viên thường trực của Hội Ðồng Bảo An có quyền phủ quyết, mọi nghị quyết của Ðại Hội Ðồng. Nhưng vấn đề chủ yếu của Việt Nam là chính thức công khai đưa ra trước Liên Hiệp quốc một hiểm họa thực sự nghiêm trọng của toàn thế giới, để kiếm tìm một hỗ trợ quốc tế tích cực nhằm ngăn chặn âm mưu xâm lăng từ Trung Cộng. Hơn nữa, Việt Nam cũng phải biết vận động và nỗ lực đưa vấn đề này ra trước Tòa Án Quốc Tế ở The Hague (International Court of Justice at The Hague). Mục đích không phải là tìm kiếm một phán quyết của tòa án này cho vấn đề tranh chấp, nhưng trọng điểm của nỗ lực này là tạo nên sự chú tâm theo dõi của dư luân quốc tế về một hiểm họa chung của thế giới. Ghi chú: [5] Nước Úc trong bản ngân sách 2009-2010, đã gia tăng hơn 6.6.tỉ bạc (từ 19.8 tỉ lên 26.4 tỉ), để gia tăng khả năng không lực và hải quân nhằm bảo vệ lãnh thổ. Ðiều này khiến chính quyền Nam Dương phải quan ngại, sau đó chính phủ Úc đã phải lên tiếng trấn an. Còn Thái Lan trong bản ngân sách 2008, ngân sách dành cho Bộ Quốc Phòng đã tăng lên tới 4.5 tỉ US dollars, đă quan mặt cả Nam Dương và Mã Lai về chi phí quốc phòng. Tân Gia Ba trong bản ngân sách 2009, họ cũng đã dành đến 34% cho ngân sách quốc phòng. Nhưng từ lâu Tân Gia Ba, có lẽ, đã thấy trước được hiểm họa xăm lăng của Trung Quốc, nên họ đã có những thỏa hiệp liên kết quân sự với Hoa Kỳ từ năm 1990 với thỏa hiệp MOU và đến 2005 họ đã ký hiệp ước Hợp Tác Quân Sự với Hoa Kỳ. Nam Dương đã để chi phí quốc phòng vào hàng ưu tiên thứ 3 trong bản ngân sách 2008 với ngân khoản là 3.3 tỉ US dollars. Còn Mã Lai, muc tiêu của ngân sách 2008, dành ưu tiên cho phúc lợi toàn dân, nên chi phí quốc phòng phải bị cắt giảm tối đa, nhưng riêng chi phí dành cho Không Lực Mã Lai, không bị cắt giảm mà lại còn được gia tăng từ 1,482 tỉ Mã kim lên đến 1,613 tỉ Mã kim để gia tăng khả năng phòng thủ quốc gia. h**p://w*w.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=103699&z=12 (còn tiếp) |
|
#11
|
|||
|
|||
|
Quan Điểm của Ông Ngô Đình Nhu về Hiểm Họa Xâm Lăng của Trung Cộng
(tiếp theo và hết) (Nguồn: VietCatholic News) * Tiến Sĩ Phạm Văn Lưu Chúng ta còn nhớ, khi muốn lật đổ chính quyền Ngô Ðình Diệm, nhóm chống Tổng Thống Diệm trong Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã vận động các quốc gia Á Phi đưa vấn đề được báo chí Hoa Kỳ thời đó gọi là Ðàn Áp Phật Giáo và Vi Phạm Nhân Quyền tại Việt Nam, ra trước Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc, chuẩn bị dư luận trước ở các quốc gia Á Phi cho việc thay đổi chính phủ tại miền Nam, trước khi âm mưu tổ chức đảo chánh ở Sài Gòn, để khỏi gây nên những ảnh hưởng tiêu cực tại các quốc gia đó đối với chính sách ngoại giao của Mỹ. Nhưng ông Nhu và GS Bửu Hội [6] đã phá vỡ âm mưu này bằng cách chính thức mời Liên Hiệp Quốc cử một phái đoàn đến Việt Nam điều tra tại chỗ, trước khi đưa vấn đề này ra thảo luận tại Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc. Rồi khi phái đoàn này đến Việt Nam điều tra và hoàn thành một bản phúc trình dày gần 300 trang, với kết luận là không có đàn áp Phật Giáo tại Việt Nam, thì Bộ Ngoai Giao Hoa trở nên lúng túng, sợ rằng nếu đưa vấn đề này ra thảo luận tại Liên Hiệp Quốc sẽ làm giảm uy tín của Hoa Kỳ và tạo cơ hội cho Trung Cộng tấn công Hoa Kỳ đã xen vào nội bộ của Việt Nam và đã tổ chức đảo chánh ở Saigon, nên cử Cabot Lodge vào đầu Tháng Mười Hai, 1963, liên lạc với Sir Senerat Gunaewardene của Tích Lan, là trưởng phái đoàn điều tra của Liên Hiệp Quốc lúc đó, đừng đưa bản phúc trình này ra thảo luận tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc nữa, và Sir Senerat đã đồng ý làm điều đó như một ân huệ cá nhân của ông dành cho Lodge (Gunawardene agreed to do so as a personal favor to Lodge), vì trước đây khi làm đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc, Lodge là bạn của ông. [7] Như vậy, chúng ta thấy đối với một cường quốc như Hoa Kỳ, họ còn biết vận dụng diễn đàn Liên Hiệp Quốc hỗ trợ cho những mục tiêu chính trị của họ. Tại sao Việt Nam đứng trước một hiểm họa đe dọa sinh tử đến vận mạng của cả dân tộc, chúng ta lại không vận động để tìm hậu thuẫn của thế giới để bảo vệ nền độc lập của chúng ta? Nhưng thực tế, chúng ta rất đau lòng, khi thấy, các nhà lãnh đạo Hà Nội, về phương diện ngoại giao, đã đánh mất rất nhiều cơ hội lịch sử quí báu, để khôi phục độc lập cho dân tộc và phát triển quốc gia. Ðó là cơ hội của những năm 1945, 1954, 1973 và 1975. Thực vậy, nếu ngày xưa các vua chúa Triều Nguyễn, vì quá tin tưởng vào văn hóa Trung Hoa đã trở nên tự tôn và thiển cận, thì ngày nay các nhà lãnh đạo Hà Nội cũng quá sùng bái chế độ Cộng Sản và quá tin tưởng vào lý luận giai cấp đấu tranh, đã trở nên mù quáng, xem mọi người đều là kẻ thù, nên chưa bao giờ họ có thể đề ra một chính sách ngoại giao khoáng đạt và lương hảo, còn về phương diện quốc nội họ cũng không có đủ cởi mở, để thực tâm mời những thành phần khác biệt chính kiến, thành lập một chính phủ đoàn kết để phất triển quốc gia. Trái lại, họ chỉ có những thủ đoạn chính trị gian trá và xảo quyệt để lừa dối đối phương, để rồi cuối cùng là tiêu diệt đối phương. Ðiều này chứng tỏ hết sức rõ rệt khi nhìn về lịch sử Việt Nam Cận và Hiện Ðại. Năm 1946, Cộng Sản dùng chiêu bài Chính Phủ Liên Hiệp, để tiêu diệt phe Quốc Gia, rồi năm 1954, ký hiệp định Genevea, chưa ráo mực, họ đã vi pham hiệp định này, bằng cách gài lại hơn 70,000 cán bộ tại miền Nam với âm mưu khuynh đảo chính quyền Quốc Gia Việt Nam. Ðến năm 1973, một lần nữa, họ đã lừa phỉnh để tiêu diệt phe quốc gia dưới chiêu bài mới là Hòa Hợp và Hòa Giải Dân tộc. Còn đối với quốc tế, khi ký hiệp định Paris, họ long trọng cam kết để nhân dân miền Nam hoàn toàn tự do quyết định vận mạng của mình. Ngay sau đó, khi người Mỹ, theo đúng cam kết của hiệp định này, rút khỏi miền Nam, thì họ đem quân xóa sổ chính phủ Sài Gòn... Với một những phương cách gọi là liên hiệp, hợp tác và một lịch sử bang giao đầy phản trắc và gian trá như vậy, ai còn có thể tin tưởng vào Hà Nội để hợp tác hữu nghị. Do gió, từ ngày cướp chính quyến tại Hà Nội vào Tháng Tám, năm 1945 đến nay, các nhà lãnh đạo miền Bắc bị đui mù bởi lý thuyết Mác-Lênin và Mao Trạch Ðông, theo đuổi một chế độ độc tài phi nhân, tàn sát và thủ tiêu các thành phần bất đồng chính kiến, đầy đọa toàn dân trong cảnh nghèo đói, thất học, thù hận và bắn giết lẫn nhau. Còn về phương diện quốc tế, vì thiếu hiểu biết và chỉ biết quyền lợi của phe nhóm, nên họ đã liên kết với Trung Cộng và Liên Xô, để đưa toàn thể dân tộc vào một cuộc chiến tranh kéo dài hơn 30 năm. Ðó là một cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt nhất trong lich sử nhân loại. Thực vậy, lâu dài nhất vì cuộc Thế Chiến I, chỉ có 4 năm, từ 1914-1918, Thế Chiến 2, chỉ có 6 năm, từ 1939-1945, và khốc liệt nhất, vì số bom đạn được sử dụng trong chiến trường Việt Nam gấp 2.5 số bom đạn dùng trong Thế Chiến 2. Nhưng điều tệ hại hơn nữa, khi nhận viện trợ từ Trung Cộng để đánh Mỹ cũng là lúc họ đã thực sự rước họa xâm lăng từ phương Bắc vào Việt Nam. Ðối với những nhà lãnh đạo có một não trạng bệnh hoạn như vậy làm sao có được một viễn kiến chính trị sâu sắc, một chính sách ngoại giao khoáng đạt và biết khai thác những mâu thuẫn quốc tế để kiếm tìm những đồng minh hữu hiệu, để rồi cùng với sự hỗ trợ tích cực của toàn dân trong nước, nhằm tạo thành một sức mạnh dũng mãnh để chống lại hiểm họa xâm lăng của Trung Cộng. Biện pháp quân sự Hiện nay, Việt Nam có một đội quân khoảng 450,000 người. Ðây là một lực lượng quân sự lớn nhất so với các quốc gia tại Ðông Nam Á hiện nay. Nhưng vấn đề đặt ra liệu quân nhân dưới cờ còn có tinh thần để hy sinh và chấp nhận gian khổ để chiến đấu nữa hay không? Khi chính họ chứng kiến những thực trạng xã hội quá phũ phàng trước mắt, trong khi các lãnh tụ của họ tìm mọi cách để vơ vét tài sản quốc gia cho cá nhân, gia đình và phe nhóm, còn tuyệt đại đa số dân chúng, trong đó có cả các gia đình bộ đội Cộng Sản, bị bóc lột, sống trong cảnh khốn cùng nhất, chưa từng thấy trong lịch sử cận đại Việt Nam, từ trước tới nay, nghĩa là còn cơ cực hơn thời Thực Dân Pháp đô hộ đất nước chúng ta. Nhưng sau hết và mấu chốt hơn hết, vẫn là vấn đề các nhà lãnh đạo Hà Nội có còn ý chí để chiến đấu nhằm bảo vệ tổ quốc chống lại họa ngoại xâm nữa hay không? Chúng ta hơi bi quan, khi nghe lời bình luận của Carl. Thayer, một chuyên gia về các vấn đề Việt Nam, tại Học Viện Quốc Phòng Hoàng Gia Dantroon của Úc. Có lẽ bây giờ các nhà lãnh đạo Hà Nội đã trở nên quá giàu có, họ muốn được yên thân để bảo vệ tài sản và gia đình của họ hơn... cho nên việc mất thêm một vài hải đảo xa xôi như Hoàng Sa và Trường Sa, mất thêm một ít lãnh thổ và lãnh hải ở phía Bắc không còn là vấn đề quan trọng với họ nữa! Biện pháp chính trị Ðó là nuôi dưỡng tinh thần độc lập, tự cường, tự chủ cùng ý thức quốc gia và dân tộc. Ông Nhu đã biện giải vấn đề này như sau: Tuy nhiên biện pháp cần thiết nhất, hữu hiệu nhất và hoàn toàn thuộc chủ động của chúng ta, là nuôi dưỡng tinh thần độc lập và tự do của nhân dân, và phát huy ý thức quốc gia và dân tộc. Ðồng thời, áp dụng một chính sách cai trị khoáng đạt, mở rộng khuôn khổ lãnh đạo, để cho vấn đề lãnh đạo quốc gia được nhiều người thấu triệt. Và sau cùng ông Nhu đã đi đến kết luận, muốn thắng hiểm họa xâm lăng của Trung Cộng một chính thể chuyên chế hay độc tài như Hà Nội hiện nay, không thể nào thành công được. Trong khi đó, chúng ta đều biết rằng hiện nay thế giới đang chứng kiến những thay đổi khốc liệt nhất, đặc biệt là trong lãnh vực tin học và khoa học kỹ thuật, còn trong lĩnh vực chính trị ngoại giao, như Tổng Thống Obama, cũng kêu gọi, một sự hợp tác và hòa giải giữa các quốc gia, để đẩy lùi bóng tối của chiến tranh và nghèo đói, nhằm kiến tạo một kỷ nguyên hữu nghị, hợp tác, hòa bình và thịnh vượng cho toàn thế giới, thì các nhà lãnh đạo của Hà Nội vẫn giữ nguyên bản chất của Cộng Sản là độc quyền lãnh đạo, độc tài toàn trị và để củng cố chính quyền chuyên chế, họ thẳng tay đàn áp đối lập, các giáo hội tôn giáo chân chính, áp dụng chính sách đầy đọa người dân trong cảnh nghéo đói, chậm tiến và thất học... để trong nước không còn ai có thể chống đối lại họ được. Với những kiểm điểm sơ lược trên đây, chúng ta đều thấy trước rằng, nếu dân tộc chúng ta không còn cơ may để thay đổi thành phần lãnh đạo tại Bắc Bộ Phủ, thì vấn đề Việt Nam nội thuộc nước Tàu chỉ còn là vấn đề thời gian. Tiến Sĩ Phạm Văn Lưu (Melbourne, 1 Tháng Mười Một, 2009) --------- Ghi chú: [6] Giáo Sư Bửu Hội là một phật tử và thân mẫu của giáo sư là Sư Cô Diệu Huệ, lúc đó giáo sư được Tổng Thống Diệm cử làm trưởng phái đoàn đặc biệt tại Liên Hiệp Quốc từ Tháng Chín, 1963, đặc trách về cuộc Khủng Hoảng Phật Giáo. [7] Theo sự tiết lộ của Bà Swarna L. Ganawardene, con gái của Sir Senerat, trong thư gởi cho bà Anne Blair, (một đồng nghiệp của người viết tại Ðại Học Monash trước đây), vào Tháng Mười Một, 1989. Và cũng có thể xem thêm điện văn số 2444 từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ gởi cho Tòa Ðại Sứ Mỹ Saigon, ngày 11 Tháng Mười Hai, 1963, dưới tiêu đề Gunawardene's killing the debate, xem Anne Blair, Lodge in Vietnam, A Patriot Abroad, New Haven, Yale university Press, 1995, tr. 78. h**p://w*w.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=103772&z=12 (hết) |
|
#12
|
|||
|
|||
|
Quote:
Cám ơn bạn đã nhắn riêng với ND...Riêng về Bạch Thư thì chẳng phải cuả ND mà là cuả một ngươì thầy về khoa bảng và cấp bực trong quân ngủ trước 1975...Nông Dân chưa đủ trình độ để viết được như vậy...Theo ND thì hình như bạn đang " cưỡi ngưạ " xem hoa...? Xin mời bạn đọc bài " Bản Điều Trần "...Có lẻ nó sẽ giải toả được những gì bạn viết cho tôi chăng...? Điều sau cùng là bạn chưa bắt đúng mạch...ND tôi và những vị thầy viết trong VNVH toàn là những vị khoa bảng và sĩ quan cuả VNCH (100%). Họ muốn lưu lại những tâm tư và tư tưởng cho thế hệ đàn em, đàn cháu hầu khã dĩ nhận chân được xứ mạng và trọng trách trước sự tồn vong cuả dân tộc ( may ra !)...Vì họ ở caí tuổi " gần đất xa trời " hết rồi...!./. |
![]() |
| Bookmarks |
| Những tiện dụng | |
| Trình bày | |
|
|
Bài tương tự
|
||||
| Chủ đề | Người khởi đầu chủ đề | Forum | Trả lời | Bài mới nhất |
| Những điều cần biết về ung thư bạch cầu | lltran | Biên Khảo | 0 | 06-10-2009 05:03 AM |