|
|||||||
| Ghi Danh | Thương Xá Sài Gòn | FAQ | Danh Sách Hội Viên | Lịch | Tra Tìm | Bài đăng hôm nay | Đánh dấu diễn đàn đã đọc rồi |
![]() |
|
|
Những tiện dụng | Trình bày |
|
#21
|
|||
|
|||
|
Tục Ngữ Ca Dao – Văn Chương Bình Dân
Tục ngữ - Thành ngữ … Thông thường Trích phần Tục ngữ, Thành ngữ, Phong dao ... phổ biến, thông dụng trong TNCD quyển 1 – A B C (vì theo thứ tự “an – pha – bê) từ trang 39 trở đi: * Anh về sắm bộ sào tương Cho em chung vốn ngược Lường với anh. Sào: cây gậy dài bằng tre để chống đỡ thuyền bè và cũng để bắc nối cái nọ với cái kia (sào phơi). Ở đây có ý chỉ phương tiện chắp nối duyên tình. Tương: liên quan qua lại đôi bên, cũng có nghĩa là cái mái chèo. Ở đây chỉ về mối liên quan giữa hai người cùng nhau chung sống làm ăn buôn bán. Sắm bộ sào tương: (hai cái sào, hai cái chèo) ý nói xếp đặt bắc nối cho thành đôi cùng nhau chèo chống việc đời tức là kết duyên vợ chồng. Ngọc Lường: đi thuyền ngược giòng sông Lam lên miền núi tới thị trấn Đô Lương, thuộc Nghệ An để buôn bán. Địa danh Lường nguyên là tiếng Việt thường dùng, đặt theo tiếng Hán là Đô Lương. Cũng như làng Đáy được đặt là làng Phương Để (Để là đáy), làng Mơ được đặt là làng Phương Mai (mai là mơ). * Anh vũ năng ngôn, bất ly chi điểu. Câu này có nghĩa: chim anh vũ nói được tiếng người thì cũng không lìa được loài chim của nó. Tức là dù chim đẹp, chim giỏi cách mấy cũng vẫn là chim chứ không thể thành loài khác được. Câu này ý nói dù có đẹp tốt, dù có học được chút khôn ngoan nơi người, mình vẫn là mình, không nên vì vậy mà coi khinh đồng bào mình. * Áo cài năm nút hở bâu, Thung huyên em hiện tại, dám đâu tự tình. Bâu: đường viền cổ áo. Thung: cây thông, cũng gọi là cây xuân, cứng cỏi chịu đựng sương tuyết và sống lâu, thừng được trồng ở trước nhà để tượng trưng cho người cha. Thung đường hay xuân đường (nhà có cây thung, cây xuân) là người cha. Huyên: rau huyên, ta gọi là rau kim châm, mọc là là xum xuê xanh tốt, có lá và hoa ăn rất ngon. Rau này thường trồng cạnh nhà để tượng trưng cho người mẹ. huyên đường (nhà có rau huyên) là người mẹ. Hiện tại: nghĩa là còn đó. Ý cô gái muốn nói câu này là mặc áo phải có đủ năm nút mới là đứng đắn, nếu để hở cổ, không gài nút trên hết , thì lại càng không đúng phép tắc. Cũng như cha mẹ còn đó mà không chờ lịnh của cha mẹ, người trên hết (trong gia đình), thì không đúng phép tắc. Cho nên em không thể kể nỗi lòng của em với anh được. Áo dài đai rộng. Áo dài: áo của người quyền quý. Đại rộng: cái đai quàng chung quanh lưng áo (các quan trong triều thường mặc), cái đai càng rộng phẩm trật càng lớn. Ý nói: có công danh địa vị lớn. * - Áo gấm đi đêm. - Áo gấm về làng. Đây là do hai câu: “Y cẩm dạ hành” và “Y cẩm hồi hương”. Áo gấm: loại áo đẹp và qúy. - Câu: Áo gấm đi đêm: Mặc áo đẹp để khoe cái đẹp của mình ra, vậy phải mặc ban ngày chứ mặc ban đêm thì ai thấy. - Câu Áo gấm về làng: Đi làm ăn xa, sau khi thành công thì mặc áo đẹp mà trở về làng cũ để khoe sự giầu sang của mình với bà con xóm làng thì còn gì vinh dự hơn. * Áo Tô Tần ấm cật. Cơm Tử Lộ no lòng. Tô Tần: tự là Quý Tử, học trò của Quỷ Cốc tiên sinh, cùng với Trương Nghi, Bàng Quyên, Tôn Tẫn … là tướng quốc nước Hàn thời Đông Chu. Ông lại mang ấn của sáu nước “hợp tung” (hợp các nước theo chiều dọc) để chống nước Tần. Giầu sang tốt bực như vậy nhưng ông thường ăn mặc rất giản dị và nhiều lần ông đã cởi áo mới đang mặc đắp cho người nghèo đang bị rét lạnh. Tử Lộ: tự là Trọng Do, học trò của đức khổng Tử là người có sức mạnh và rất có hiếu. Khi chưa có công danh, thường ngày ông phải đi đội gạo mướn để lấy chút tấm cám đem về nuôi mẹ và nuôi mình ăn học. Về sau làm quan nước Sở, ông thường than: Nay không còn mẹ để đi đội gạo mướn nữa. Câu này ý nói: mặc giản dị để cứu đỡ người nghèo, ăn kham khổ để nuôi cha mẹ và nuôi chính mình là điều quý hóa đáng kính trọng. * Nuôi báo cô. Ăn báo cô. Ăn báo hại. Báo cô: trả lại, đền đáp lại tội lỗi. - Nuôi báo cô: nuôi họ như để trả lại cái tội lỗi của mình gây ra cho họ. Thí dụ như trong câu: “Chẳng biết mình phải nuôi báo cô nó đến khi nào đây ?” b- Ăn báo cô: ăn như là ăn cái của mà người ta phải đền đáp lại tội lỗi với mình, ăn như ăn lấy nợ, ăn đền vạ. Thí dụ như trong câu: “Chắc kiếp trước tao thiếu nợ mày nên bây giờ mày bắt tao nuôi mày như ăn báo cô vậy.” c- Ăn báo hại: ăn rồi còn đền đáp lại cái hại, cái họa. Thí dụ như trong câu: “Đã ăn rồi còn phá, đúng là cái đồ ăn báo hại !” (còn tiếp). |
|
#22
|
|||
|
|||
|
Ca dao Ý đẹp
Tục ngữ Ca dao Tiếp theo đây là trích phần nhì Sưu Tập trong cuốn TNCD quyển 1 – Ý đẹp từ trang 86 trở đi: Sưu tập Phần con cái Nước lên xuống, vơi đầy mấy lúc, Khuyết lại tròn, trăng mọc bao lần. Con ơi, chớ có lần khân, Ăn cơm gà gáy, xuất quân ban chiều. Nói toạc móng heo, chẳng yêu thì trách (65) Đói cho sạch, rách cho thơm. Tốt gỗ hơn tốt nước sơn, Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người. Hót như khướu, vừa cười vừa nói. Biếng lười quen thói, bụng đói không lo. Có mẹ thì mẹ làm cho, Mai kia không mẹ thì lo mà làm. Tay biếng làm, miệng ham ca hát. Nhà sạch thì mát, bát sạch thì ngon. Trẻ cậy cha, già cậy con, Nước chảy đá mòn – Vào nhỏ ra to. Ăn chưa no, lo chưa tới, (66) Mong từng ngày, trông đợi từng giây. Ăn quả nhớ kẻ trông cây, Ăn cơm uống nước, con nay nhớ nguồn. Nước đổ lá môn, cơm đổ lỗ chuột. Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì hay (siêng) Thính tai họ, điếc tai cày, (67) Nước đổ đầu vịt, lời bay đường nào. Con hại con, mẹ đau lòng mẹ. Con đau một mà mẹ đau ba. Cái nết đánh chết cái đẹp, con à, Mẹ cha trông xuống, người ta trông vào. Lần trước đau, lần sau phải ngán. No đòn rồi đã chán hay chưa. Hay là, chứng chết chẳng chừa, Lại còn nhấp nhỏm cùi dừa bánh đa. (68) Sắc như nước, nhìn xa trông rộng. Đừng thả mồi bắt bóng, mà chi (69) Đứng núi nọ, ngó núi kia, Thân cận kẻ quấy, xa lìa người ngay. Mua đoạn bán rồi – Có vay có trả. Được chim quên ná, được cá quên nơm. Với người nhân đức thảo thơm, Bát cơm “Phiếu mẫu”, đền ơn ngàn vàng. (70) Thấy người sang, bắt quàng làm họ, Gặp kẻ khó, giả bộ làm lơ. Kể chi xấu tốt thân sơ, Có lợi thì tới, nương nhờ thì qua. (71) Miệng đọc ca, tay va lầm lỗi. (72) Mặt mình dơ mà vội khen chê. Chân mình lấm bết lấm bê, (73) Lại cầm bó đuốc mà rê chân người. Chú thích: 65- Móng chân con heo xé toạc hai bên. 66- Đang sức ăn sức chơi (còn trẻ) 67- Họ là tiếng dục trâu bò đang kéo cày hay đang làm gì ngưng lại, tức cho trâu bò nghỉ ngơi. 68- Hai thứ này ăn cặp với nhau rất ngon. 69- Thả mồi bắt bóng: Do truyện kể có một con chó kia lén vào hàng ăn, tha được một miếng thịt mang về. Khi đi ngang một cái cầu nhìn xuống nước thấy một con chó khác đang ngậm một miếng thịt to hơn miếng của nó đang ngậm. Chó ta liền nhả miếng thịt “nhỏ” đang ngậm rồi nhảy xuống sông để căn ấy miếng thịt “to” hơn. Thế là chó ta chả có miếng thịt nào vì miếng thịt nhỏ bị rớt xuống sông. 70- Bát cơm Phiến mẫu: Dó là tích Hàn Tín, Thượng tướng của Hán Cao Tổ Lưu Bang khi còn nghèo hèn đi tìm công danh, nửa đường hết lương ăn, may lại gặp một bà đang giặt quần áo, nhường cho một bát cơm, là phần ăn ít ỏi của bà. Khi công thành danh toại, nhớ ơn ấy, Hàn Tín trở về tìm gặp lại bà giặt quần áo (chữ phiếu có nghĩa là giặt dũ) để trả ơn rất hậu. 71- Có lợi thì tói, nương nhờ thì qua. Qua tức qua chơi 72- Miệng nói hay, tay làm bậy. 73- Có bản ghi chép khác là: Chân mình thì lấm bết bê. (còn tiếp) |
|
#23
|
|||
|
|||
|
TNCD – Dân ca Miền Trung
Phần tiếp tục trích về các thể điệu, thể loại Dân ca Miền Trung trên theo thứ tự. Trước hết là Hò khoan Thanh Nghệ (TNCD – quyễn 4 - Dân ca miền Trung từ trang 163 . . . . . . . . Dân ca miền Trung (Hò dân chài, Hát dậm, Hát ru, Hàng vải, Ca Huế …) C- HÒ HUẾ: Từ trang 175: Đất Thừa Thiên, trai hiền gái lịch, Non xanh nước biếc, điện ngọc đền rồng. Tháp Bảy tầng, Thánh miếu, Đền Ông, Chuông khua Diệu Đế, trống rung Tam Tòa. Cầu Trường Tiền, mười hai nhịp bắc qua, Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ, đợi khách âu ca thái bình. (43) Bến chợ Đông Ba, tiếng gà eo óc, Bên chùa Thọ Lộc, tiếng trống sang canh. Giữa sông Hương, rợn sóng khuynh thành (44) Đêm khuya, một chiếc thuyền mành ngửa nghiêng. (45) Thuyền từ Đông Ba, thuyền qua Đập Đá, Thuyền về Vỹ Dạ, thẳng ngã ba Sình. Lờ đờ bóng ngã trăng chênh, Giọng hò xa vắng, nhắn tình nước non. Nước chảy xuôi, con cá buôi lội ngược, Nước chảy ngược, con cá vược lội ngang. (46) Hẩm hiu. Thiếp chẳng gặp chàng, Thôi thì coi nhau như Lưu Bình, Dương Lễ, cho trọn vẹn cả hai đàng đó anh. (47) Trước bến Vân Lâu, ai ngồi câu, ai sầu ai thảm, Ai thương, ai cảm, ai nhớ, ai trông ? Thuyền ai, thấp thoáng bên sông, Đưa câu mái đảy, chạnh lòng nước non. Núi Ngự Bình, mơ màng trăng gió, Niếm tâm sự, ai thấu rõ cho mình, Đoái nhìn sông Hương, nước chảy thinh thinh. Sông bao nhiêu nước, em lại sầu tình bấy nhiêu. Tiếng hát ngư ông, giữa giòng Nhựt Lệ (48) Tiếng kêu đàn nhạn, trên đỉnh Hoành Sơn. (49) Một mình anh, ngồi giữa sông Hương, Tiếng ca theo khúc đoạn trường, ai nghe ? (50) Chim xa bày, thương cây nhớ cội, Người xa người, tội lắm người ơi. Nỏ thà không biết thì thôi, Biết nhau rồi mỗi đứa một nơi, răng đành ? Nước đầu cầu,khúc sâu khúc cạn, Chèo qua Ngọc Trản, đến mạn Kim Long. (51) Sương sa gió thổi lạnh lùng, Sóng xao trăng lặn, gợi lòng nhớ thương. Người Kim mã cưỡi con Ngựa vàng, Đất Phù Long rồng nổi, thời chàng đối chi ? Người Thanh Thủy gặp khách Nước trong, Hoành sơn ngang núi, đã thỏa lòng em chưa ? Chú thích: 43- Bên trái là rồng xanh, bên phải là cọp trắng. Âu ca là hát mừng thái bình, đông người hát. 44- Thuộc Huế. Khuynh thành là nghiêng thành. 45- Thuyền mành là thuyền nhỏ 46- Hai loại cá ngon. 47- Tích Lưu Bình Dương Lễ là hai người bạn tốt. 48- Sông Gianh giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình. 49- Đèo Ngang giữa Hà Tĩnh và Quảng Bình. 50- Đoạn trường: đứt ruột 51- Núi Ngọc Trân thuộc Huế. …………………… Dân ca miền Trung (Hò dân chài, Hát dậm, Hát ru, Hàng vải, Ca Huế …) (từ trang 177) D- LƯU THỦY (Nước chảy): (còn tiếp) |
|
#24
|
|||
|
|||
|
Tục ngữ - Phong dao
I. Gia đình & Sinh sống Tiếp theo đây là phần Tục ngữ - Phong dao trong quyển 3 Lòng Son. Mở đầu từ trang 13 trở đi : Tiếp theo từ trang 22: GIA ĐÌNH & SINH HOẠT Ngọ môn, năm cửa chín lầu, Cột cờ ba bậc, Phú Vân Lâu ba từng. (64) Người hay nói xấu sau lưng, Giống như rắn độc cắn chừng phía sau. Thà rằng ăn bát cơm rau, Còn hơn cá thịt, nói nhau nặng lời. Bìm bịp kêu, nước lớn anh ơi, Buôn bán không lời, chèo chống mỏi mê. Chẳng đi, nhớ cháo làng Ghề, Nhớ cơm phố Mía, nhớ chè Đông Viên. (65) Nghèo khó, méo mó đồng , Ta chưa cầu cạnh, người liền nghi ta. Cây đứng yên mà gió thổi nà, Con mong báo hiếu, mẹ cha thác rồi. Khi thường thăm viếng chẳng rời, Mạnh thời cơm áo, yếu thời thuốc thang. Hội chùa Thầy có hang Cắc Cớ, Trai chưa vợ thì nhớ Chùa Thầy. (66) Ruộng đồng khuya sớm cấy cày, Lỡ mùa lạc vụ, lúa này có đâu. Dù ai buôn đâu bán đâu, Làm sao tránh khỏi Triều Châu, Văn Sàng. (67) Gió đưa gió đảy, về rẫy ăn còng, Về sông ăn cá, về đồng ăn cua. Mười một thời hội Hương Nha, Mười hai Đa Dụ, mười ba hội Hiền. (68) Ngồi buồn rọc lá gói nem, Con chị gói khéo, con em cột đùm. Con một mẹ, hoa một chùm, Thương nhau nên phải bọc đùm cho nhau. Con quạ nó đứng đầu cầu, Nó kêu bớ má, lấy trầu khách ăn. Chiều chiều ông Lữ đi đăng, (69) Cá tôm nhảy hết, nhăn răng ông cười. Xuân hề, xuân bất tái lai, (70) Thày hề, thầy chẳng ăn khoai bao giờ. Tham giầu mà lấy thủ kho, Ba năm hiệu lượng, vua cho đeo vòng. (71) Con mèo, con khỉ có lông, Cây tre có mắt, nồi đồng có quai. Nhớ ai cơm chẳng buồn nhai, Chống đũa thở dài, hết chín lần bơi. (bơi cơm) Tôi xin bát nữa là mười, Đối phúc cùng trời, có sống được chăng. Bến trúc Nghi Tàm, rừng bàng Yên Thái. (72) Rượu tăm nếp cái, con gái dậy thì. Mặc dầu cha đánh mẹ đe, Em chẳng bỏ được bát chè Đông Viên. (73) Tiếng đồn cha mẹ anh hiền, Cắn cơm không bể, cắn tiền bể tư. (74) Cọp dữ Mông Dương, nước độc Hà Tu (75) Ra đây, bụng ỏng, mặt phù, chân sâu. (bị lở) Chiều chiều ông Lữ đi câu, (76) Bỏ ve, bỏ chén, bỏ bầu ai mang. Cha mẹ già mình bạc tóc sương, (77) Làm con phải giữ cho thường đạo con. Cha mẹ giàu thì con thong thả, Cha mẹ nghèo thì con vất vả gian nan. Sớm mai lên núi đốt than, Chiều thì xuống biển đào hang cua còng. Chú thích: 64- Thuộc Kinh thành Huế. 65- Thuộc Sơn Tây. 66- Thuộc Sơn Tây. 67- Thuộc Ninh Bình. 68- Thuộc Sơn Tây. 69- Ông Lữ Vọng (Lã Vọng) tức Khương Tử Nha, khi chưa gặp thời, ngồi câu cá bên bờ sông Vị Thủy mấy chục năm. 70- Xuân bất tái lai là xuân chẳng trở lại. 71- Hiệu lượng là giấy khen. Đeo vòng là còng số 8. 72- Thuộc Hà Nội. 73- Thuộc Sơn Tây. 74- Ý nói ham tiền. 75- Vùng mỏ than Quảng Ninh. 76- Lữ Vọng tức ông Lã Vọng (coi số 69 trên). 63- Người gầy như chim hạc, tóc trắng như sương. (còn tiêp) |
|
#25
|
|||
|
|||
|
Đồng dao – Lý ca
Tiếp theo đây là trích phần Đồng dao – Lý ca trong TNCD quyển 11 – Dãi bày II ĐỒNG DAO – LÝ CA (Lý ngữ) Từ trang 188 trở đi: Bống dừa, bống xệ . Cá bẹ học trò. Cá vồ, cá đục. Cá nục, lù đù. Cá thu, trên lá, Bạc má, bạc đầu. Lưỡi trâu, hồng chó, Lò có, lành canh. Chim sành, cá biếc, Cá giếc, cá mè. Cá trê, cá lóc, Cá nóc, thòi lòi. Chìa vôi, cơm lạt, Bống cát, bống kèo. Chim heo, cá chéc, Cá éc, cá chuồn. Cá duồng, cá chẽm., Vồ dém, sặc rằn. Mòi đường, bống hú, Trà mú, trà vinh. Cá kình, cá gộc, Cá cốc, cá chày. Cá dây, cá duối Cá đuối, cá kìm. Cá chim, bông vược, Cá nược, cá người. Cá buôi, cá cúi, Cá nhái, bã trâu. Cá nâu, cá dảnh, Hủng hỉnh, tơi bời. Cá khoai, nóc mít, Cá tích, nàng hai. Cá cầy, cá chấy, Cá gáy, cá ngàn. Tra bần, cá nái, Lóc nói, cá hô. Cá ngừ, mang rổ, Cá sù, cá cam. Cá còm, cá dứa, Cá hổ, cá lăng. Cá căn, cá viễn, Rô biển, lốp xơ. Cá bò, chim rắn, Cá phườn, ròng ròng. Trẻn bông, trao tráo, Cá sọ, cá nhồng. Lồng tông, mộc tích, Úc phịch, trê bầu. Bông lau, bông trắng, Càn trảng, xanh kỳ. Cá he, cá mại, Mặt quỷ, cá linh. Cá chình, ốc gạo, Thu ảo, cá kè. Cá ve, lẹp mấu, Từ mẫu, thia lia. Cá bè, trèn mễ, Đuôi ó, bè chan. Nóc vàng, cá rói, Cá lùi, con cù. Rô lờ, trê đấu, Chạch lấu, nhám cào. Tra dầu, cá nhám, Úc núm, cá leo. Cá theo, cá suốt, Cá chốt, cá phèn. Cá diêng, cá lúc, Cá mực, cá mau. Chim sâu, cá hụt, Sọc sọc, cá lầm. Cá rầm, cá thiểu, Nhám quéo, chim gian. Cá ong, cá quit, Cá két, thiều nôi. Bống voi, úc hoác, Cá chạc, cá mòi … ------------------------------------ 5- MÊ NGỮ (Câu đố) 1- Sừng sững mà đứng giữa trời, Chồng con không có, chịu lời chửa hoang. 2- Ăn một bên, ỉa một bên, Cách một tấm phên mà không biết thúi. 3- Cái gì đầu nhọn đầu tà, Xỏ vô một cái, đàn bà đều ưa. 4- Hai ngang hai số rõ ràng, Mười hai anh lính, cả làng đều ưa. 5- Có đầu mà chẳng có đuôi, Nhiều chân mà lại đứng hoài không đi. 6- Da đen, mặt rỗ, chân chì, Đuôi thì thậm thượt, mình thì những gai. 7- Thân em như gái không cha, Mình mẹ đứng giữa, con ra tứ bề. Giải: 1- Cây bắp (ngô) 2- cái xa cán bông 3- Bông tai 4 và 5: Cái cầu, cây cầu, 6- Cái chài vãi cá. 7- Cây chuối. (còn tiếp) |
|
#26
|
|||
|
|||
|
Dân ca Miền Bắc
(Giao duyên, Đối đáp, Ru em, Đò đưa, Huê tình, Quan họ, Hát đúm, Trống quân, Cò lả, Xẩm xoang, Nhà trò, Chèo thuyền, Kéo gỗ, Chầu văn, Sa mạc, Bồng mạc, Hành vân, Lưu thủy, Bình bán, Hát vè …) Tiếp theo đây là trích phần Dân ca Miền Bắc trong TNCD quyển 2 – Lời Hay - từ trang 249 trở đi: Lơ thơ tơ liễu buông mành, Con oanh học nói trên cành mỉa mai. Em cậy mình em có cúc bạc đeo tai, Cúc bạc thời có, trâm cài thời không. Tóc mây xanh vấn lộn khăn sồng, Quần lĩnh thâm đôi ba bốn chiếc, má hồng nhởn nhơ. Biết đâu trong đục mà chờ … Chúng anh xưa cùng kiếp học trò, Bây giờ dốt nát anh mới nằm co trong cái xó rừng. Văn không hay, chẳng đỗ thì đừng, Gió mưa mà khỏi chết, nửa mừng anh lại nửa thương. Cái nghiệp bút nghiên cay đắng đủ trăm đường, Bảng vàng mũ bạc, thôi anh nhường mặc ai. Muốn lên bà, khó lắm ai ơi ! Ông trăng khuyết, ông trăng lại tròn, Gái tơ qúa lứa, mất dòn không xinh. Vẳng tai nghe lời nói hữu tình, Chim lồng không lẽ cất mình bay cao. Gớm ghê cái số huê đào, Cởi ra thời khó, buộc vào như chơi. Chàng THúc Sinh quen thói bốc trời, Trăm nghìn đổ một trận cười như không. Chường vô chăn gối loan phòng, Thiếp tôi ra tựa cái bóng đèn chong đêm dài. Vả thiếp tôi nay phận gái nữ hài. (19) Thấy chàng quân tử đáng tài trai anh hùng. Gương Bạch nhật sánh với quạt Thanh phong, (20) Sao chàng chẳng tới cái tiết đông lạnh lùng. Chường nằm đâu, chường nhủ thiếp tôi cùng … Mồ cha con bướm trắng, đẻ mẹ con ong xanh, Khen ai uốn lưỡi để cho anh nói càn. Mồ cha con bướm trắng, đẻ mẹ con ong vàng, Khen ai uốn lưỡi để cho nàng nói chua. Giầu thì thịt cá cơm canh, Khó thì lưng rau đĩa muối, tôi cúng anh tôi đi lấy chồng. Hỡi anh chồng cũ của tôi ơi, Anh có linh thiêng thì anh trở dậy, ăn xôi nghe kèn. Thôi anh đã về nghiệp ấy, anh cũng đừng ghen, Để cho người khác cầm quyền thê nhi. Miệng em khóc, tay em bế ãm cái ông Thần vì, (20) Tay em gạt nước mắt, tay em thì thắp nhang. Bởi vì đâu mà nên xót nỗi muôn vàn. Công anh đắp nấm trông chành, Chẳng ăn được quả, vin cành cho cam. Xin đừng ra dạ Bắc Nam, “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề”, (22) Huống “Tam thu như bất kiến hề” (23) Đường kia mối nọ như chia mối sầu. Chắc gì đâu đã hẳn hơn đâu, Cây tre vững nhịp hơn cầu thượng gia. (24) Bắc thang lên thử hỏi ông già, Phải chăng phận gái như hạt mưa sa giữa trời. May ra gặp được giếng khơi, Vừa trong vừa mát, lại nơi thanh nhàn. Chẳng may số phận gian nan, Lầm than cũng chịu, dễ phàn nàn cùng ai. Đã yêu nhau thì “giá thú bất luận tài”. (25) Cái cổ tay em vừa trắng lại vừa tròn, Răng đen rưng rức mà lại chồng con kém người. Khốn thay cho nhạn ở với ruồi, Tiên ở với cú, người cười với ma. Con công ăn lẫn với con gà, Rồng kia rắn nọ, coi đà sao nên. Nói nên mà sao ở chẳng nên, Quang rơm mà gánh đá, sao bền hơn mây. Ai xui nông nỗi thế này … Chú thích: 19- Nữ hài: con gái đi hài, chỉ con nhà quyền quý, xinh đẹp. . 20- Bạch nhật: mặt trời sáng. Thanh phong: gió mát.. 21- Thần Vì: Vị Thần phải thờ tức đứa con . 22- Một ngày không thấy dài như ba năm. 23- Ba năm không thấy. 24- Cầu thượng gia là cầu có nhà ở trên che mái. 25- Việc cưới hỏi không nên bàn luận về tiền bạc (tài ở đây là tiền tài). (còn tiếp) |
|
#27
|
|||
|
|||
|
Dân ca Miền Nam – Nam Trung
(Đưa em, Hò Lý, Chèo ghe, Cắt lúa Đối đáp …) Tiếp theo đây là trích phần Dân ca Miền Nam, Nam Trung trong TNCD quyển 2 – Lời Hay - từ trang 278 trở đi: Đưa em, Hò Lý, Chèo ghe, Cắt lúa Đối đáp … Bước vô nhà thấy hai chai rượu trắng, Bước ra ngoài than vắn thở dài. Không biết cha mẹ em mua sắm để xài, Hay là có ai đã tời nạp tài cho em. Em có chồng rồi, em sợ lỗi đạo bề trên, Em vào phòng trong yên giấc, anh ở phòng bên kêu chừng. Anh bước ra ba bước lại dừng, Quế đây không ngậm, ngậm gừng chi cay. Em có chồng, sao em chẳng cho hay, Để anh mòn mỏi đêm ngày đợi trông. Bấy lâu chàng đợi thiếp trông, Bây giờ chàng hỏi, thiếp nói không sao đành. Mình nghiêng tai, tôi nói cho rành, Theo mình dầu có thác, cũng đành dạ tôi. Anh với tôi, làm đôi sao xứng, Bạc với vàng sao đứng đồng cân. Trách ai tham phú phụ bần, Tham xa mà bỏ ngãi gần ngày xưa. Anh mất cây hộp quẹt, bực chưa quá bực, Giang tay đấm ngực, căm đà quá căm, Đũa so le đôi chiếc, khó cầm, Liệu sao em liệu, thương thầm khó thương. Anh có thương em thì thương cho chắc, Bằng có trục trặc, thì trục trặc cho luôn. Đừng làm theo thói ghe buôn, Nay về mai ở, cho buồn dạ em. Xê ra đừng đứng một bên, Em có chồng, anh có vợ, không nên đứng gần. Tuổi em mười chín, tuổi Dần, Tuổi anh tuổi Tuất, đứng gần can chi. Anh xót ngọc tiếc hương, sao để ngoài sương không che không đậy, Đến lúc kiểng tàn, anh tiếc vậy cũng uổng công. Bậu nói với qua, tình mặn nghĩa nồng, Siêu nước sôi chớ quạt, ngọn lửa hồng phải che phên. Bên hữu có con Thiên Lý mã (16) Bên phải có con Vạn Lý vân (17) Nhìn hai con cùng thấy ngang phân, Anh đây muốn cưới một lần cả hai. Cha mẹ sinh anh là trai, Bận cái áo song khai, cái quần hai lá hẹ (18) Nỡ lòng nào bỏ cha mẹ theo em. Cha mẹ sinh em là gái, Biết bao giờ trả ngãi mẹ cha. Chim chuyền nhành ớt, rớt xuống bụi cà, Hồi nào gắn bó đôi ta, Bây giờ bội nghĩa, đi xa lấy chồng. Con cá sông, còn mến nước trên đồng, Em về nhớ “kim tiền cổ hậu” khoan lấy chồng, đợi anh. (19) Chiều về nghe còi thổi, còn lo nỗi xa mình, Anh có mưu chí cao rộng, em thực tình hết mưu lo. Tiềng Đường, Hậu Tống, Tam Quốc, Châu Do, (20) Anh không thương em nên mới nói truyện đưa đò, Cũng như Đắc Kỷ qua phò Trụ Vương. Tiếng anh ăn học cao cường, Đố anh biết được cỏ vườn mấy cây. Em về, em đổ lư hương, Đếm tro mấy hột, là cỏ vườn không sai. Cha mẹ đánh tôi, căng nọc giăng nài, Sao anh đứng đó, cười hoài không can. Hò chơi phỉ dạ hai đàng, Công anh ở trển băng ngàn tới đây. Vừa đi là gặp em đây, Một là duyên kỳ ngộ, hai là trời xoay đất vần (21) Tôi thương anh, thương lén thương thầm, Ba má tôi hay đặng, có xắn bầm tôi cũng thương. Anh như hạt gạo trên sàng, Em như hạt tấm mẳn, rớt giữa đàng, con gà bươi. Rồng giao đầu, phụng lại giao đuôi, Nay tôi hỏi thiệt, mình thương tui không mình ? Chú thích: 16- Ngựa chạy ngàn dặm một hơi. 17- Ngựa chạy vạn dặm một hơi 18- Áo song khai là áo mở ở giữa, quần hai lá hẹ là quần có đường viền ở dưới rất nhỏ. 19- Kim tiền cổ hậu là trước lúc này, sau khi xưa. 20- Mấy triều đại bên Trung Quốc. Châu Do là Chu Du, vị tướng nước Ngô thời Tam Quốc. 21- Kỳ ngộ là gặp gỡ một cách lạ lùng không ngờ. (còn tiếp) |
|
#28
|
|||
|
|||
|
Tục ngữ - Phong dao
Duyên tình – Bạn hữu Tiếp theo đây là trích phần Phong dao – Duyên tình & Bằng hữu trong TNCD quyển 3 – Lòng Son - từ trang 49 trở đi: Duyên tình – Bạn hữu Gần sông cội mới ngã kề, Tiếng tăm anh chịu em về tay ai. Dẫu rằng đá nát vàng phai, Ba sinh phải giữ lấy lời ba sinh. (35) Duyên kia có phụ chi tình, Mà toan xẻ gánh chung tình làm hai. Bây giờ người đã nghe ai, Thả chông đường nghĩa, rắc gai lối tình. Nhớ lời nguyện ước đinh ninh, Xa xôi ai có thấu tình cho ai … Thân em như quả ấu gai, Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen. Ai ơi, nếm thử mà xem, Nếm ra mới biết là em ngọt bùi. Vì ai nước mắt sụt sùi, Khăn lau không ráo, áo chùi không khô. Thò tay mà ngắt cọng ngò, Thương anh đứt ruột, giả đò ngó lơ. Rồi đây ta kiện ông Tơ, Nơi thương không vấn, vấn vơ nơi nào. Ngỡ rằng cây cả bóng cao, Thiếp lăn mình vào, dãi nắng dầm mưa. Chàng về thiếp cũng xin đưa, Xin trời đừng nắng, chớ mưa trơn đường. Gió đưa cây cửu lý hương, Hai người hai họ mà thương nhau cùng. Chật hào, cá lội sen rung, Choàng ngang cổ bạn, anh hun đỡ lòng. Ngó lên đầu tóc hai vòng, Thấy mình yểu điệu, chạnh lòng thêm thương. Qua cầu, cầu yếu phải nương, Ta nghe bạn cũ hết thương ta rồi. Ta nghe bạn cũ có đôi, Trong lòng nóng nảy như vôi mới hầm. Đau tương tư uống thuốc bạc trăm, Không thấy người nghĩa tới thăm chút nào. Nuôi con những tưởng về sau, Trao duyên phải lứa, gieo cầu phải nơi. (36) Mực đen vô giấy khó chùi, Vợ chồng chồng vợ, việc đời trăm năm. Rừng xanh con cọp nó gầm, Hỡi cô chồng đánh la rầm xóm kia. Đầu đuôi bởi tại chuyện chi, Hay là bởi chuyện o mi ve ông lái mành. (37) Chiều nay người nghĩa xa anh, Chim sa cá lụy, kiểng đương xanh hóa tàn. Mình đừng ham phú phụ bần, Tiền tài ăn hết, nghĩa Châu Trần còn thương. (38) Quý hồ anh có lòng thương, Em có lòng đợi, như rương khóa rồi. Hai tay cầm bốn tao nôi, Tao thẳng, tao dùi, tao nhớ, tao thương. Nhạn lạc bày, hai ngả kêu sương, Cá ao hồ trông nguyệt, đêm trường trông anh. Cây xanh thì lá cũng xanh, Đã trót vin cành thì hái lấy hoa. Hỡi cô yếm thắm lòa lòa, Sao cô không bảo mẹ già nhuộm thâm. Ước gì anh được ở gần, Để anh nhuộm hộ, thấm nhuần lòng anh. Làm thơ mà dán cây chanh, Trai bỏ học hành, gái bỏ bán buôn. Ghe anh nhỏ mũi trăng lườn, Ở trên Gia Định xuống vườn thăm em. Hỏi thăm đó mấy chị em, Đây ta rọc lá gói nem gởi về. Chú thích. 35- Lời ước hẹn từ kiếp trước, kéo dài ba kiếp. 36- Trao duyên phải lứa, gieo cầu phải nơi: “gieo cầu” là cách thức kén chồng của con nhà quyền quý thời xưa. Nghĩa là mở hội gieo cầu. Ngày đó, các nam nhi tài tử tụ tập ở dưới lầu, người con gái đứng trên lầu nhìn xuống, ưng ai thì cầm quả cầu bằng vải ném xuống trúng ngay người đó. Như vậy là đã nhận người đó làm chồng. Nếu chưa ném quả cầu trúng ai thì hôm sau sẽ làm lại lần nữa. 37- O mi là cô mày. 38- Châu Trần là hai họ nhà Châu và nhà Trần kết suôi gia (còn tiếp) |
|
#29
|
|||
|
|||
|
Tục ngữ - Phong dao.
Tiếp theo đây là trích phần Đồng Dao – Lý Ca trong TNCD quyển 3 – Lòng son từ trang 153 trở đi: 4- Đồng Dao – Lý Ca (Lý Ngữ) Ông già, ông đội nón cời, Ông ve con nít, ông trời đánh ông. Xống thâm vắt ngọn cành hồng (3) Loạn chôn từ thuở vắng chồng đến nay. Cha mày làm thợ đẽo cày, Đẽo bốn năm ngày, chưa được chìa vôi. (4) Chiều chiều én liệng trên trời, Rùa bò dưới đất, khỉ ngồi trên cây. Gà què ăn quẩn cối xay, Ai cho muối ớt, xé phay gà què. Có bạn thì lại bỏ bè, Chê thằng cùi bắp, theo về thằng Ngô. (5) Tham vàng đi lấy thằng Ngô, Đêm nằm hú hí như vồ đập bông. Tham vàng đi lấy thằng Ngô, Đêm nằm như thể cây khô chọc vào. Chồng thấp mà lấy vợ cao, Qua sông nước lớn, cõng tao bớ mày. Gà cồ hát tiếng cũng hay, Hát suốt đêm ngày, chỉ có một câu. Kim đâm vào thịt thì đau, Thịt đâm vào thịt, nhớ nhau muôn đời. Xét lòng mẹ góa, con côi, Kiếm ăn lần hồi, “đồ” lớn bằng mo. Con ơi, con ở với bà, Mẹ đi chịu đực, tháng ba mẹ về. Mẹ về, mẹ chẳng về không, Mẹ mang một ruột, thẳng hông vật mà. Con ơi, con ở với bà, Má đi làm mắm, tháng ba má về. Má về có mắm con nêm, Có khô con nướng, có em con bồng. Mẹ ơi con muốn lấy chồng, Con ơi, mẹ cũng một lòng như con; Mẹ ơi, con đã có thai, Con ơi, mẹ cũng được vài tháng nay. Mẹ ơi, con đẻ hôm nay, Con ơi, mẹ cũng đẻ ngay bây giờ. Tay bưng quả nếp vô chùa, Thắp nhang niệm Phật, xin bùa dưỡng thai. Cưới em có một đồng hai, Có dăm sơi bún, có vài hạt xôi. Họ hàng ăn uống xong rồi, Tôi xin cái chão, tôi lôi nó về. Ba bà đi bán lợn sề, Bán thì chẵng được, chạy về lon xon. Ba bà đi bán lợn con, Bán thì chẵng được, lon xon chạy về. Gái đâu, gái sớm ngứa nghề, Gái đi bán ráy, gái về bán khoai. (6) Mẹ em đi chợ đường ngoài, Mua một cây mía vừa dài vừa cong. Mẹ em đi chợ đường trong, Mua một cây mía vừa cong vừa dài. Đàn ông cao cẳng thì tài, Đàn bà cao cẳng, lông dài quét sân. Ngày thì quan lớn như thần, Đêm thì quan lớn tần mầm như ma. Hai tay quan lớn gian tà, Tay xoa “Cát phẩm”, tay sà “Hạ chiêu”. (7) Thấy cô tóc tựa muối tiêu, Da anh dưa khú, anh theo cô mình. Đàn ai khéo gảy tình tinh, Một đàn con cá lội ghình nó nghe, Đàn cá nó lội so le, Mấy con cá lớn lội đè cá con. Nuôi con phải biết tính con, Hễ vú gai gạo thì “đồ” chớp Đông. (8) Chú thích: 3- Xống là váy ngắn. 4- Chìa vôi: cái que nhỏ và ngắn hơn chiếc đũa, dùng để lấy vôi quệt vào miếng trầu mà ăn. 5- Ngô là nước Ngô trong thời Tam Quốc bên Trung Hoa, và Ngô cũng là trái bắp. 6- Khoai và ráy đều có nhựa rất ngứa. 7- Tay xoa “Cát phẩm”, tay sà “Hạ chiêu” Câu này nói về quan viên đi hát cô đầu. “Cát phẩm” và “Hạ chiêu” là hai chữ trong trò Đánh đố chữ, tức một trò xổ số chữ thay vì xổ số. Trò chơi này rất thịnh hành ở vùng giáp ranh Trung Quốc (Laokay). Nhưng “Cát phẩm” và “Hạ chiêu” còn có nghĩa là nhũ hoa (hai vú) và hạ bộ. 8- Vú gai gạo … Gai gạo là gai mọc ở da cây gạo có hình chúm bằng trái cau. (còn tiếp) |
|
#30
|
|||
|
|||
|
Tục ngữ Ca Dao
Trích Phần hai: Một số thành ngữ ba tiếng của cuốn “Tâm Hồn Mẹ Việt Nam (Tục ngữ Ca dao) quyển mười hai (12) Dãi Bày III. Từ trang 266 trở đi: Thành ngữ Tuổi về chiều, (tuổi già) Nghèo mạt rệp (81) Sợ chết khiếp, Kiếp ngựa trâu Bệnh nhà giầu, (82) Đâu ra đấy, Nát bấy bậy, Chậy có cờ. (83) Xác như vờ, (84) Sờ lên gáy, (85) Đào không thấy, Nhảy choi choi (chim choi choi) Hạt máu rơi, (con hoang) Hôi như cú, Chó mất chủ (ngơ ngác) Tứ đổ tường, (86) Ngọt như đường, Giương mắt ếch, (87) Bạc phênh phếc, Trệch bầu lương (để hở rốn) Nát như tương, Nương kẻ yếu, (nương nhẹ tay) Đứa bất tiếu, (88) Liệu thần hồn. (89) Cuộc vuông tròn, (xây dựng gia đình) Tròn vành vạnh, Tin sét đánh, Dính như keo. Rẻ như bèo, Chèo lấy mái, (90) Đồ ba phải, (91) Tái như dưa (rầu rĩ) Cục thịt thừa, (92) Cua trong lỗ (chưa kể là chắc) Trơn như mỡ, Đỏ như son. May hơn khôn, Đông như kiến, Đầu chó liếm (cắt tóc nham nhở) Hiện như ma. Rặn không ra, (93) Gà mái gáy, (94) Nhát như cáy, (95) Chạy đằng trời. Nói nuốt lời Trời đổ của, (của vô nhiều) Ăn phải đũa, (96) Của trời cho (dể có được) Dầy như mo, Cho ăn kẹo, (nhử mồi) Méo xèo xẹo, Kéo cù cưa. Đi vẽ bùa, (đi vòng quanh) Chua như dấm (giấm) Nổi đình đám, (97) Gấm thêu hoa, (98) Rét cắt da, Nhà không nóc, (99) Nói chạm nọc, (100) Cóc leo thang. (đua đòi) Chú thích: 81- Con mạt và con rệp là hai con rất bé nhỏ, và ăn bám. Tức nói quá nghèo và ăn bám người khác. 82- Bệnh nhà giầu: có hai trường hợp: a- Bệnh lâu khỏi, phải tốn nhiều tiền chữa trị b- Bệnh không đáng gì mà làm cho nặng hơn. Tùy theo trường hợp mà áp dụng. 83- Đầu tóc, quần áo tung bay giống cờ bay. 84- Vờ là loại bướm nhỏ, rất mong manh. 85- Xét lại mình. 86- Bốn cái hại: Tửu (rượu), sắc (sắc đẹp), yên (khói thuốc), đổ (bài bạc) 87- Nhìn trơ trơ mà không có phản ứng gì. 88- Không nối gót theo cha mẹ được. 89- Coi chừng kẻo gặp nguy hiểm. 90- Mái nào ra mái nấy. 91- Ai nói cũng cho là phải cả, không dám có ý kiến khác. 92- Cái, thứ … để lại thì vướng, cắt đi thì đau. Bỏ thương vương tội. 93- Cố gắng nói mà không được. 94- Phụ nữ lớn tiếng. Điểm bất thường. 95- Nhát như cáy: cáy là loại cua nhỏ. Khi ta đụng vào con cua thì phần lớn chúng chỉ bò đi thôi, nhưng với con cáy thì cúng bò đi, chạy nhanh đi cố tìm chỗ nấp. 96- Lây phải bệnh, phải tật xấu của người khác. 97- Làm được (hay nên) việc tốt đẹp. 98- Đã đẹp lại đẹp thêm. 99- Không có người che chở. 100- Nói trúng vào yếu đểm của người khác. |
|
#31
|
|||
|
|||
|
Tục ngữ - Thành ngữ … Thông thường
Trích phần Tục ngữ, Thành ngữ, Phong dao ... phổ biến, thông dụng trong TNCD quyển 1 – A B C (vì theo thứ tự “an – pha – bê) từ trang 47 trở đi: * Ăn bên ngoại, ngoái bên nội. Ngoái là quay đầu lại nhìn về phía sau. Nghĩa đen câu này là ăn nhờ bên ngoại mà vẫn trông chừng về bên nhà nội. Ý nói lòng không trung thành, có tư tưởng phản lại … * Ăn biếu, ngồi chiếu hoa. Đây nói về những người có địa vị cao trong làng, thường được người ta mang phần ăn chia của làng đến tận nhà để biếu, và có đi đến đâu thì lại được ngồi chiếu hoa, tức loại chiếu đẹp. * Ăn bòn dòn tay, ăn mày say miệng. Ăn bòn là ăn bòn mót của người khác từng chút một. Dòn là thường xẩy ra (như dòn cười). Say là quen đi, mê đi. Câu này có nghĩa bòn mót mãi một người rồi quen tay đi, xin xỏ mãi một người rồi quen miệng đi. * Ăn cây táo, rào cây xoan đâu. Cây xoa đâu là cây sầu đâu loại lớn. Trái táo và trái xoan đâu rất giống nhau nhưng trái xoan đâu rất đắng và không ăn được. Nay cây táo cho trái mình ăn mà mình không rào để giữ nó mà lại lầm với cây xoan đâu và đi rào cây xoan đâu. Ý nói lầm lẫn, sống nhờ chỗ này lại đi bảo vệ chỗ khác, thật là dại dột. * Ăn cháo đá bát. Ăn xong bát cháo rồi, không cất bát đi để còn dùng những lần sau nữa, lại quẳng ném đi cho khỏi phải cất giữ. Ý nói vô ơn bạc nghĩa và ngu xuẩn, không nghĩ tới người đã giúp mình và cũng không biết giữ lại để còn dùng sau này nữa. Có nhiều sách còn ghi: Ăn cháo đái bát. Nhưng cũng giảng cùng một nghĩa như trên. * Ăn cháo lá đa. Ăn cháo thí hay của bố thí ít oi. Vào ngày rằm tháng bảy (15 – 7 âm lịch) là ngày lễ Vu Lan, người ta thường cúng quẩy lễ vật để tỏ lòng hiếu thảo với ông bà (đã mất). Trong các đám cúng lễ ấy, nhất là ở chùa, người ta cũng cúng riêng cho các cô hồn tuyệt tự, không có người thân cúng quẩy, bằng cách đổ cháo vào các bù đài làm bằng lá đa cuộn lại, rồi treo ở các cành cây ven đường. Khi chửi rủa những kẻ độc ác hoặc chê bai những kẻ làm biếng, người ta cũng thường nói “Ăn cháo lá đa”. * Ăn chay nằm đất. Ăn chay nằm mộng. Ăn chay: ăn kiêng không thịt, cá, tức ăn kham khổ, đạm bạc để diệt dục, để trong người bớt ô uế, và cũng để tự đày đọa thân xác mình. Nằm đất: nằm dưới đất, chịu khổ để răn mình. Nằm mộng: mơ tưởng, cầu xin cái gì đó xa xôi … a- Từ bỏ cuộc sống sung sướng để ăn năn hối lỗi hoặc tự ép mình để thành người trong sạch … Thí dụ như trong câu: “Nó ăn chay nằm đất” nhưng chẳng biết nó có thật lòng hối lỗi không ? b- cố mơ tưởng, cố tìm cách cầu xin một cái gì xa vời …. Thí dụ như trong câu: “Ông không thực tế chút nào, chỉ thích “ăn chay nằm mộng”, chẳng trách đói dài dài … * Ăn chày nói cối. Ăn chày: ăn như cái chày. Cái chày ăn bất cứ cái gì, vừa ăn lại vừa phá (giã nát các thứ) Nói cối: nói như cái cối. Tiếng của cái cối nghe cồng cộc, rất khó nghe và chỉ một âm điệu. Thêm vào đó, hình dáng cái chày và cái cối trông nặng nề, thô lỗ. Ý nói ăn nói bậy bạ, tục tằn, thô lỗ, một giọng nói bừa không phân biệt phải trái, đúng sai. Thí dụ như trong câu: “Với hạng người “ăn chày nói cối” đó thì chấp làm chi chỉ tổ thêm bực mình …” Còn tiếp. |
|
#32
|
|||
|
|||
|
Ca dao Ý đẹp
Tục ngữ Ca dao Tiếp theo đây là trích phần nhì Sưu Tập trong cuốn TNCD quyển 1 – Ý đẹp từ trang 86 trở đi: Sưu tập Phần con cái Lúc thân nhau, một lời không giấu, Khi ghét nhau, bới xấu nhau ra. Yêu nhau cau bẩy bổ ba, Ghét nhau cau bảy bổ ra làm mười. Sống ở đời, khóc cười nào xiết. Nước đục trong, ai biết về đâu. Cười người chớ vội cười lâu, Cười người hôm trước, hôm sau người cười. Ngang bằng sổ ngay – Đèn ai nấy sáng. Đưa đầu chịu báng, đi tán chuyện ai. Lươn ngắn lại chê trạch dài, Thờn bơn méo miệng lại chê cá khoai lệch mồm. (74) Sáng đôi co, chiều hôm mach lẻo. Chuyện của người, bóp méo vo tròn. Thương thì trái ấu cũng tròn, Ghét thì đến trái bồ hòn cũng vuông. Lưỡi không xương, nhiều đường lắt léo, Môi thiếu da, xiên xẹo lắm khi. Yêu nhau yêu cả đường đi, Ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng. Nhìn đom đóm to bằng bó đuốc, Bắt ruồi muỗi lấy thước ra đo. Chuyện bé cũng xé ra to, Ễnh ương lại hóa ra bò chẳng hay. Nhà giầu đứt tay, ăn mày đổ ruột, (75) Đã no rồi còn cướp cơm chim. Nhà có, đóng cửa đi xin, Của chị chị cất, của em chị xài. Mượn của người đòi hoài không trả, Của mình thì cất giữ bo bo. Của người nhỏ, của mình to, Một trăm cái cuốc cũng quơ vào mình. (lòng) Tính vị kỷ, rán sành ra mỡ, Nết tham lam, muỗi mổ lấy gan. Bòn tro đãi sạn, tìm vàng, Tát cạn bắt lấy, chỉ lo vơ vào. Đừng tưởng bở, đi đào củ ráy, (76) Chớ ham ngon, hái trái bồ hòn. (77) Của trời ngắm cảnh, mà con, Con còn ham của, con còn khổ thân. Của phù vân, nó vần xuống biển, (78) Gặp vận xui, nó khiến nó đi. Bon chen bóp chét mà chi, Sống thời mang tội, chết thì ra ma. Vào lỗ hà lại ra lỗ hổng, (79) Có đong đầy rồi cũng lại vơi. Tham chi chút ít của người, Một nhà ăn cả, tội trời riêng mang. Thiên bất dong gian - Bụng làm dạ chịu Nằm ngửa nhổ ngược, bêu rếu ông cha. (80) Những phường quỷ quái tinh ma, Mình làm mình chịu, kêu mà ai thương. Xấu mặt là kẻ xin tương, Xin ra cả phố cả phường được ăn. Đẹp mã là bẽ cái lầm, Phò mã tốt áo – Tốt ông không tiền. (81) Tối mắt vì tiến, tham quyền với lợi. Sinh sự sự sinh, mang tội nào hay. Hạt tiêu nó bé nó cay, Đồng tiền nó bé nó hay cậy quyền. Đồng tiền nó liền khúc ruột. Tiền mà không, thân thuộc cũng không. Chị em, nắm (gói) nem ba đồng, Muốn ăn thì trả sáu đồng mà ăn. Chú thích: 74- Có sách ghi chép khác là: . Thờn bơn méo miệng lại chê trai lệch mồm 75- Mạng nhà giầu quan trọng hơn mạng nhà nghèo. 76- Củ ráy rất bở và rất ngứa. 77- Trái bồ hòn trông đẹp mắt nhưng rất đắng.. 78- Phù vân là đám mây trôi dễ tan. 79- Con hà bám dưới đáy thuyền, khi nó chết sẽ làm thành lỗ thủng nhỏ. 80- “Nằm ngửa nhổ ngược …” thì nước miếng sẽ rớt xuống chính mặt mình. Ý nói làm điều xấu tự hại mình. 81- Phò mã là con rể vua, như thế “tốt áo” là dĩ nhiên. “Ông” thì tuy quý trong nhưng ông không có tiền cũng coi như bỏ, chẳng ai để ý đến ông. (còn tiếp) |
|
#33
|
|||
|
|||
|
TNCD – Dân ca Miền Trung
Phần tiếp tục trích về các thể điệu, thể loại Dân ca Miền Trung trên theo thứ tự. Trước hết là Hò khoan Thanh Nghệ (TNCD – quyển 4 - Dân ca miền Trung từ trang 166 . . . . . . . . Dân ca miền Trung (Hò dân chài, Hát dậm, Hát ru, Hàng vải, Ca Huế …) D- LƯU THỦY (Nước chảy) Từ trang 177: Kể từ ngày gặp nhau, Trao lời hẹn cho vẹn vàng thau. Giây tơ mành se chặt lấy nhau, Se không đặng, đem tình thương nhớ. Cảm thương người ngậm ngùi ba thu. Xa cách nhau, đêm nằm trông thấy, Thấy là thấy chiêm bao, Chiêm bao lại vấn vương bên mình. Mình giật mình đòi cơn, Biết bao quan san một đường. (52) Tình thương tơ vương một đường, Xin cho trọn đạo cương thường. (53) Ai đen bạc thì mặc lòng ai. Xin cùng bạn trúc mai, (54) Trăm năm lâu dài. Đ- BÌNH BÁN (Nửa cuộc, nửa chừng) Chung tình là bạn chung tình, Chung tình là bạn tri âm. Bao thề nguyện trăm năm bạc đầu. Cùng nói những lời kết tóc, Khăng khít một tấc lòng son, Biết bao nặng mối tơ duyên đầu. Bên Tàu là ngộ bên Tàu, Sang Nam Việt bán buôn làm giầu. Ngộ có cái bồ đôi gánh, Trước hết ngộ bán “chạp phô” (55) Bán không đặng, lấy đâu làm giầu. Chú khờ có cái đùi heo, Mau lấy lạt thú treo trong phòng. Rồi chú nhốt mãn vào trong, (56) Hẳn con chuốt hết nương nhờ. E- CỔ BẢN (Bài hát xưa) Duyên thắm duyên càng đượm, Cái giống đa tình. Thêm nhiều ngày mặn nồng càng xinh. Bực khuynh thành, thực là tài danh. Song duyên kia đừng phụ, Nào chi trách mình. Chỉ non thề nguyện cùng trời xanh. Lòng dặn cho đành, Nỗi kết minh, kết minh. (57) Thư nhạn đưa tin tháng ngày, Nguồn ân ái dám đâu vơi đầy. Vấn vương tình tự vì đây. Tơ hồng khéo se, thực là may. Trăng rọi lầu hoa, Lầu ngọc trắng lòa. Hương thơm ngát nhà, khắp gần xa. Tiếng đàn hòa ca. Ngâm vịnh mấy chén quỳnh, (58) Say sưa cùng mình sánh tầy vai. Nhân ngãi lâu dài. Thực là vui, dám nào phai. Tâm đầu ý hợp, Như rứa mấy người. Ngọc vô hà, biện Hòa mới hay, (59) Một ngày tương tư, ấy là ai ? Muôn ngàn không ngại, Mua ngay tiếng cười. Anh hùng có đâu, có là đâu. Thôi thôi đừng, thôi đừng năn nỉ. Suy nghĩ thêm sầu. Mặc ai dầu, lại hầu thương yêu. Mặn nồng bao nhiêu, Đường còn lâu, chút tình sâu. Vui lòng vừa ý, Danh lợi cho cầu. Chú thích: 52- Quan san: đèo ải trên núi. 53- Đạo cương thường là đạo tam cương ngũ thường. 54- Trúc mai: cây trúc tượng trưng cho người quân tử, cây mai tượng trưng giới nữ lưu. 55- Chạp phô: tạp hóa. 56- Mãn: con mèo. 57- Buộc chặt lời hẹn ước. 58- Loại rượu ngon. 59- Ngọc vô hà: ngọc không có tì vết. Biện Hòa: biện là đồ trang sức, tức viên ngọc.. Theo tích bên Trung Quốc: Xưa có người thợ ngọc họ Hòa tìm được một viên ngọc quý bèn dâng lên vua. Các quan trong triều và ngay cả vua không nhận biết viên ngọc quý đó mà cho rằng đã dối trá vua nên chặt một tay họ Hòa để cảnh cáo. Đến đời vua thứ hai, họ Hòa vẫn không nản chí, lại đội ngọc dâng lên vua mới. Nhà vua này thấy họ Hòa kiên trì tâm trí như vậy, lại không sợ bị trị tội nên cho các quan tìm các thợ ngọc giỏi về để coi xét lại hòn ngọc này. Quả nhiên, sau khi các thợ ngọc coi kỹ lại viên ngọc mới biết đó là viên ngọc quý chưa từng thấy. Họ Hòa được minh oan và được ban thưởng rất hậu. Về sau người ta dùng “Ngọc họ Hòa” để chỉ những vật quý và có giá trị thực sự. (còn tiếp) |
|
#34
|
|||
|
|||
|
Tục ngữ - Phong dao
I. Gia đình & Sinh sống Tiếp theo đây là phần Tục ngữ - Phong dao trong quyển 3 Lòng Son. Mở đầu từ trang 13 trở đi : Tiếp theo từ trang 25: GIA ĐÌNH & SINH HOẠT Thờ cha thờ mẹ hết lòng, Ấy là chữ “hiếu” dậy trong luân thường. Chữ “đễ” nghĩa là nhường, Nhường anh nhường chị, lại nhường người trên. Ghi lòng tạc dạ chớ quên, Con em phải giữ lấy nền con em. Công cha nghĩa mẹ chớ quên, Công vua lộc nước mong đền con ơi. Mỗi đêm mỗi thắp đèn trời, Cầu cho cha mẹ sống đời với con. Có của mà chả có con, Khác nào của để đầu non, chắc gì. Gió đưa bụi trúc ngã quỳ, Thương cha nên phải lụy dì, dì ơi. Ân cha nặng lắm ai ơi, Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang. Mẹ cha trượng quá ngọc vàng, (78) Đền bù sao xiết muôn vàn công ơn. Học hành thì ấm vào thân, Quyền cao chức trọng dần dần tới sau. Chiều chiều ra đứng ngõ sau, Trông về quê mẹ, ruột đau chín chiều. (79) Chiều chiều xách giỏ hái rau, Trông lên mả mẹ, ruột đau như dần. Mong con đến tuổi lập thân, Lấy chồng những đứa tiểu nhân thì đừng. Trai thời đèn sách nghiệp thường, Gái thì kim chỉ mọi đường vá may. Anh em như thể chân tay, Vợ chồng như áo cởi ngay nên lìa. Cầm chài mà vãi vô nia, Lấy con Bá hộ đặng chia gia tài. (80) Cha già con muộn, con ơi, Lọng rách da trời, con chịu mồ côi. (81) Cha già con muộn vơi vơi, Gần đất xa trời, con chịu mồ côi. Mồ côi cực lắm bớ trời, Mẹ ruột cha ghẻ, nhiều lời đắng cay. Mẹ già như chuối chín cây, Gió đưa mẹ rụng, con rày mồ côi. Tôm càng lột vỏ, bỏ đuôi, Giã gạo cho trắng mà nuôi mẹ già. Kẻ ăn người ở trong nhà, Sớm khuya công việc giúp ta nhọc nhằn. Thương người đày đọa tấm thân, Chớ nên ngược đãi, lòng nhân mới là. Tu đâu cho bằng tu nhà, Thờ cha kính mẹ, ấy là chân tu. Khen ai khéo tiện ngũ cờ, Khéo xây bàn án, khéo thờ tổ tiên. Tổ tiên để lại em thờ, Anh ra ngoài ải, cầm cờ theo vua. Ví dầu con phượng bay qua, Mẹ nói con gà, con cũng nói theo. Trồng trầu, trồng lộn với tiêu, Con theo hát bộ, mẹ liều con hư. Khen cho kiếp trước khéo tu, Ngày sau con cháu võng dù nghênh ngang. (82) Miệng ru, nước mắt hai hàng, Con càng khôn lớn, mẹ càng thêm lo. Dặn con, con có nghe cho, Chọn người quân tử, đói no cũng đành. Ở hiền thì mới gặp lành, Tu thân tích đức cho thành công lao, Thương thay chín cữ cù lao, Tam niên nhũ bộ, biết bao nhiêu tình. Chú thích: 78- Trượng: trọng (nặng). 79- Ruột đau chín chiều là do chữ “Cửu hồi trướng” có nghĩa ruột chín khúc, ý chỉ về mối (nỗi) lo nghĩ. 80- Bá hộ: người có danh vọng, đứng đầu một trăm họ. 81- Lọng rách thấy da trời nên không che được nữa, ý nói cha chết. 82- Võng dù do vua ban cho mấy người thi đậu cao, làm quan lớn. 83- Thương thay chín cữ cù lao, Tam niên nhũ bộ, biết bao nhiêu tình. Cù lao là cần cù lao khổ. Chín chữ cù lao nói về công ơn của cha mẹ gồm có: Sinh (cha gây giống), Cúc (mẹ đẻ ra), Phủ (vỗ về), Dục (nuôi dậy), Cố (trông nom săn sóc), Phục (ôm ấp), Phụ (nâng niu, che chở), Súc (nuôi cho lớn khôn), và Phúc (bồng bế, bao bọc). Tam niên nhũ bộ là ba năm bú mớm. (còn tiêp) |
|
#35
|
|||
|
|||
|
Đồng dao – Lý ca
Tiếp theo đây là trích phần Đồng dao – Lý ca trong TNCD quyển 11 – Dãi bày II 5- MÊ NGỮ (Câu đố) Từ trang 192 trở đi: 8- Bằng cổ tay nằm ngay bàn Phật, Cúng vái rồi lột trật áo ra. 9- Một đàn cò trắng ăn tại mé ao, Xách hai cây sào, lùa vào hang hốc. 10- Hai tay thì tréo, bắt chéo hai chân, Cái đít lắc lẻo, trân trân ngó chừng 11- Ba đầu, bốn lưỡi, sáu tai, Một thì đội nón còn hai đầu trần. 12- Có con mà chẳng có cha, Có lưỡi không miệng đố là cái chi. 13- Mình dài chịu tiếng bất trung, Lánh nơi quân tử, bạn cùng tiểu nhân. 14- Trái chi không thiếu không thừa, Những người nhạy cảm hãy chừa tôi ra. 15- Hàng trăm cái lỗ, Vô số trẻ con, Đua chạy vòng tròn, Chen nhau chui xuống. 16- Trăm đàng, ngàn ngõ, muôn dân, Kẻ có áo ở lại, người mình trần ra đi. 17- Chàng áo xanh, thiếp cũng áo xanh. Rủ nhau xuống tắm bãi ghềnh làng ta. Tắm rồi lại cởi áo ra, Mình trắng như ngà, lại đội nón xanh. 18- Cú trong nhà cú ra, cú hãi. 19- Thằng dẹp kẹp thằng tròn. 20- Bưng một thúng ngọc, Đổ vào thâm cung. Trong cung có lỗ tròn tròn, Có người quân tử ru con ời ời. 21- Eo lưng thắt đáy cổ bồng. Buộc lạt cho chặt, vắt sông đại hà. 22- Một nhà mà có hai buồng, Không qua không lại, như tuồng cấm cung. Ban đêm sập cửa bỏ mùng, Ban ngày ngỏ cửa, xem trong ngó ngoài. 23- Bằng trái cau mà đau hai bệnh. 24- Cây chi ở trên rừng không lá, Cá chi ở dưới biển không xương. Con chi ở ngoài mương không vảy. Con chi ở bụi trảy không vi. 25- Tám chân đi đất không mòn, Mà mang trống lệnh trèo hòn núi cao. 26- Cái chi đặt không đứt, bứt không rời. 27- Chính giữa hai cầu, Hai đầu hai giếng. 28- Mình tròn vành vạnh, Răng nhọn như chông. Ở nhà ngồi không, Ra đồng nhảy chổm 29- Tù tì, tút tít, tù ti, Vừa ăn vừa ỉa, vừa đi bằng mồm. 30- Quê em ở chốn rừng xanh. Đưa về hạ bạn để dành làm quan. Khi đi cờ rước hai hàng, Khi vế tang tóc, bẽ bàng lắm thay. Giải: 8- Quả chuối. 9- Và cơm (vào miệng). 10- Trèo cây cau. 11- Người cày ruộng và hai con trâu. 12- Con dao. 13- Cái đòn sóc. 14- Trái đu đủ. 15- Sàng gạo. 16- Sàng gạo 17- Giá đâu xanh. 18- Cái hũ. 19- Cái khuy áo và nút áo. 20- Cối xay lúa. 21- Bó mạ. 22- Hai con mắt. 23- Trái mù u. 24- Cây nấm, con sứa, con lươn, con ếch. 25- Con nhện. 26- Nước. 27- Gánh hai thùng nước. 28- Cái nơm. 29- Con ốc. 30- Quan tài. (còn tiếp) |
|
#36
|
|||
|
|||
|
Dân ca Miền Bắc
(Giao duyên, Đối đáp, Ru em, Đò đưa, Huê tình, Quan họ, Hát đúm, Trống quân, Cò lả, Xẩm xoang, Nhà trò, Chèo thuyền, Kéo gỗ, Chầu văn, Sa mạc, Bồng mạc, Hành vân, Lưu thủy, Bình bán, Hát vè …) Tiếp theo đây là trích phần Dân ca Miền Bắc trong TNCD quyển 2 – Lời Hay - từ trang 252 trở đi: Chiếc thuyền nho nhỏ, ngọn gió hiu hiu, Nay nuớc thủy triều, mai lại nước rươi. (26) Sông sâu sóng cả em ơi, Chờ cho sóng lặng buồm xuôi, ta xuôi cùng. Trót đưa nhau vào kiếp bình bồng, (27) Xuống ghềnh lên thác, ta quyết một lòng bền gan. Khoan hò khoan hỡi hò khoan … Tiếc thay hạt mưa trong rơi xuống đống bùn, Tiếc thay tờ giấy trắng để thằng bé con nó vẽ xằng. Sự đời lắm truyện lăng nhăng, Trăm năm để nỗi đất bằng cho ai. (28) Than thân tôi là con gái, Trái nhân duyên lỡ làng. Khóa ngọc cánh then vàng, Cửa gỗ lim chặt khóa khôn đàng vào ra. Phòng khi gió táp mưa sa, Gió thu heo hắt, hạt sương sa lạnh lùng. Chăn đơn gối chiếc lạnh lùng, Đôi hàng châu lệ khăn hồng chứa chan. Gặp chàng đây, thiếp phải thở than. Mặt nước anh ơi cánh bèo, Đã từng lưu lạc, lại nhiều gian truân. (29) Trời ơi, có thấu tình chăng, Một ngày đằng đẵng xem bằng ba thu. Ruốt tằm bối rối vò tơ, Lấy ai dậy dỗ con thơ cho chàng. Sách rằng: “Đồng tịch đồng sàng” (30) “Đồng sinh đồng tử, cưu mang đồng lần” Ba bà đi chợ, Kháo nợ nàng dâu. (32) Một bà đi sau, Tru lên mà khóc. Nhà bà có phúc, Lấy được dâu hiền. Nhà tôi vô duyên, Lấy phải dâu dại. Việc làm thì ngại, Chỉ tưởng chuyện ăn. Bảo đi quét sân, Đánh chết ba gà, Bảo đi quét nhà, Đánh chết ba chó. Có mâm giỗ họ, Miếng ra miếng vào. Rửa bát cầu ao, Liếm dĩa quèn quẹt, Sạch hết sạch liền. Đi chợ quên thúng quên tiền, Về nhà lạc lối đâm xiên vào chùa. Vào chùa thấy tượng mới tô, Nó tưởng là khách ở nhờ nhà tôi. Trở về còn mỉm miệng cười, Thằng chồng đánh nó một hồi cẳng chân. Bà đi giữa nghe truyện phân vân, Rằng dâu tôi cũng không đần không khôn. Mẹ chồng có nói đến con, Thì con tôi chỉ cười dòn, nói đưa. Bà đi trước mới vội vàng thưa, Dâu tôi chỉ thích cùi dừa bánh đa. Con chim nó kêu, Tê lao xao xác, (33) Tê lao xào xạc, Mụ ơi hỡi mụ, Đứng lại mà xem. Con vượn nó trèo, Từ trái núi nọ, Qua lối nọ đàng tê, Mắt trông thấy trai, Tang tình lịch sự. Cái quần bốp tím, Cái lông nhím bạc, Cái lược đồi mối. Tình tình tình mồi. Lòng em quyết theo, Em rút cái neo, Cho con thuyền chạy. Nó chạy lên ngàn, Thuyền sa xuống rạch Nước chảy róc rách, Cá lội dưới khe. Chú thích: 26- Nước rươi là mùa con rươi nổi lên (đổi khí hậu) 27- Bình bồng là bèo trôi. 28- Đất bằng: do câu đất bằng tự nhiên nổi sóng. 29- Gian truân: vất vả cực khổ. 30- Đồng tịch đồng sàng: cùng chiếu cùng giường. 31- Đồng sinh đồng tử, cưu mang đồng lần: cùng sống cùng chết, cùng giúp đỡ lẫn nhau. 32- Kháo (khảo) tức nhắc lại chuyện cũ. 33- Tê lao: dẹp bỏ lo buồn cực khổ đi. (còn tiếp) |
|
#37
|
|||
|
|||
|
Dân ca Miền Nam – Nam Trung
(Đưa em, Hò Lý, Chèo ghe, Cắt lúa Đối đáp …) Tiếp theo đây là trích phần Dân ca Miền Nam, Nam Trung trong TNCD quyển 2 – Lời Hay - từ trang 281 trở đi: (Đưa em, Hò Lý, Chèo ghe, Cắt lúa Đối đáp …) Anh than một tiếng, nát miễu xiêu đình, Cây huệ kia đang xanh lại héo, cá ở ao quỳnh xếp vi. (22) Tưởng là chàng ở Tam Kỳ, Hay đâu mãi tận Trà My vậy chàng. (23) Cởi cái thương trả phắt, Cắt cái nhớ cho rồi, Bao nhiêu lời nói những hồi, Bỏ vô nồi nấu, sôi rồi đổ đi luôn. Chợ đang đông, sao em không toan không liệu, Để chợ tàn rồi, em bán thiếu ai mua. Anh đau một canh, chết một giờ, Để coi người nghĩa phụng thờ ra sao. Tôi thờ mình bộ lư đồng cao, Sáo treo cùng cặp, chân đèn thau bóng vàng. Đêm năm canh, ngày sáu khắc rõ ràng, Đặt lưng xuống chiếu, mơ màng nhớ anh. Anh ơi, hạt giống nghĩa tình dễ gieo khó nhổ, Ai gieo vào lòng, để khổ cho nhau. Nước bưng không uống, uống nước bầu, Chê đây lấy đó, chắc ai giầu hơn ai. Nước ròng trong ngọn chảy dài, Xác mía trôi dờn dợn, anh tưởng hoa lài anh lội theo. Anh Bảy ơi, họ nhà giầu thì đầu heo, nong thịt, Còn hai đứa mình nghèo thì cặp vịt, bông tai. Em đi hò cũng bạn trai bạn gái, Hai bảy mười bốn, về nhà tính rốn lại có mười ba. (24) Đập đầu vô cột tính mãi không ra, Trông cho trời mau sáng, đặng đưa qua anh tính dùm. May không chút nữa thì lầm, Cau vườn không bẻ lại bẻ nhầm cau ranh (25) Mù u bông trắng, lá quắn, nhụy huỳnh, Anh thương em nói vậy, chớ không biết phụ mẫu có ưng tình hay không. Nhà anh nhà ngói, nhà em nhà lá, đâu em dám gá vợ chồng, Nồi đất mà đậy vung đồng ai coi. Nàng nói mà không nghĩ lại coi, Bình sành người ta vẫn dùng nắp thiếc, sao nàng không xét không soi cho tôi nhờ. Nón cụ quai tơ, dán tờ giấy đỏ, Anh ở khác tông xa làng, sao anh lại rõ tên em. Sông Tiền cá lội huyên thiên, (Tiền Giang) Lòng anh muốn bắt con cá lội riêng một mình. Mù u bông trắng, lá quắn, nhụy huỳnh, Thấy chân em trắng, đi cấy lội sình anh thương. Mưa trong đám sậy, mưa buồn, Đố anh có biết, em buồn chuyện chi. Em buồn nhiều nỗi vân vi, Bạc lộn với chì, đôi chẳng xứng đôi. Chẳng xứng đôi thì thôi, bớ bậu, Lên xuống làm gì cho lậu tiếng ra. Khúc sông quanh, thuyền qua Vàm Tháp (Mười) Chèo mải mê, miệng ngáp biếng hò. Thấy cô cấy rẫy buồn xo, Cùng anh đứng lại chuyện trò được không. Tôi thương anh quá, bởi ba má gả tôi có chồng, Để tôi mua gan công mật cóc, thuốc chồng theo anh. Em nói vậy mà không sợ tử sanh, Chồng em, em còn thuốc, chớ như anh chắc gì. Đổng Kim Lân hồi khi còn nhỏ, (26) Đi bán giỏ để nuôi mẹ già. Anh gặp em đây, không cửa không nhà, Muốn vô gá nghĩa, biết là được không ? Bậu nói với qua, bậu không lang chạ, Bắt được bậu rồi, đành dạ bậu chưa ? Làm thơ trái ấu, gửi thấu cho mưa, Mưa đưa cho gió, gió đưa cho nàng. (27) Chú thích: 22- Ao quỳnh là cái ao đẹp. 23- Thuộc Quảng Nam. 24- Đố mẹo, nhuận tháng bảy, vì có hai tháng bảy nên năm đó có 13 tháng. 25- Cau ranh: nói lái là canh rau. 26- Đổng Kim Lân: trong tuồng Bạch Vân 27- Gấp lá thơ thành hình ba góc như trái ấu (còn tiếp) |
|
#38
|
|||
|
|||
|
Duyên tình – Bạn hữu
Tiếp theo đây là trích phần Phong dao – Duyên tình & Bằng hữu trong TNCD quyển 3 – Lòng Son - từ trang 52 trở đi: Duyên tình – Bạn hữu Gió đưa mười tám lá me, Mặt rỗ hoa mè, ăn nói có duyên. Trai anh hùng, gái thuyền quyên, Ví như Lữ Bố, Điêu Thuyền gặp nhau. Vườn em đã có hàng cau, Nhà anh có chiếc cơi thau đựng đầy. Anh về thưa với mẹ thầy, Anh sang làm rể Tết này là xong. Thằng Ngô lắm nhẫn nhiều vòng, Làm cho cô ả phải lòng thằng Ngô. (39) Phụ đây, đây chẳng có lo, Cầu gẫy còn đò, giếng cạn còn sông. Còn tiền còn vợ còn chồng, Hết tiền hết bạc, tơ hồng hết se. Trách người sao chẳng biết nghe, Vườn hoa thiên lý không che mành mành. Lỡ khi ăn miếng trầu anh, Đêm lo ngày sợ, mặt xanh như chàm. Tiếc cây cội lớn không tàn, Tiếc vườn cúc rậm cả ngàn, không bông. Ngày ngày ra đứng bờ sông, Sông xa xa tít cho lòng em đau. Nhớ ai đứng tủi, ngồi sầu, Mình ve sương tuyết, bao lâu mà mòn. Dậm chân xuống đất cái bon, Nay còn ở vậy, chồng con đâu nà. Thôi thôi đừng nói nữa mà, Con trâu ăn đám mạ, dấu là còn đây. Ta nghe tiếng hát đâu đây, Ta về rút chiếc thuyền mây đi tìm. Ta nghe tiếng hát đâu xa, Ta về ta bảo mẹ cha sang mời. Núi cao chi lắm núi ơi, Núi che mặt trời, không thấy người thương. Bớ cô rọc lá dưới mương, Cho tôi một tấm che sương đội đầu. Không đi thì nhớ thì sầu, Có đi thì mắc cái cái cầu cái mương. Không đi thì nhớ thì thương, Có đi thì mắc cái mương cái cầu. Ta nghe quan Huyện đòi hầu, Mua chanh mà gội cái đầu cho thơm Vợ chồng đâu phải cá tôm, Đang mua mớ nọ lại chồm mớ kia. Trách ai biên giấy bỏ bìa, Khi thương thương vội, khi lìa lìa xa. Ăn trầu phải giở trầu ra, Một là thuốc độc, hai là mặn vôi, Chẳng thương chẳng nhớ thì thôi, Lại còn đem đổ nước vôi cho nồng. Chẳng thương chẳng nhớ thì đừng, Lại còn đem đổ nước gừng cho cay. Em ơi, anh bảo em này, Trứng chọi với đá có ngày vỡ tan. Tối trời như mực như than, Thương anh chẳng quản đôi đàng xa xôi. Trời mưa ướt áo em rồi, Kiếm nơi có lửa, lần hồi mà hơ. Trời mưa ướt bụi ướt bờ, Ướt cây ướt cối, ai ngờ ướt em. Đèn chong phòng lạnh, biếng xem, Phải chi trời định anh với em vợ chồng. Mẹ mong gả thiếp về vồng (giồng) Ăn bông bí luộc, dưa hồng nấu canh. Đem em mà bỏ xuống gành, Kéo neo mà chạy, sao đành anh ơi. Đêm đêm góc biển chân trời, Một mình em đứng, em ngồi em nghe. Em nghe hết giọng con ve, Đến lời con quốc gọi hè tiếc xuân. Chú thích. 39- Thằng Ngô lắm nhẫn nhiều vòng, Cho nên cô ả phải lòng thằng Ngô. Thằng Ngô đây là Ngô Khách, có nghĩa là người khách bên nước Ngô, tức Hoa kiều. Thời Tam Quốc, nước Trung Hoa chia làm ba nước là Ngụy, Thục và Ngô. Nước Ngô ở về phía Đông Nam nên gọi là Đông Ngô, và cũng giáp ranh với ngước ta nên ta gọi chung người Tàu là Ngô khách. (còn tiếp) |
|
#39
|
|||
|
|||
|
Tục ngữ - Phong dao.
Tiếp theo đây là trích phần Đồng Dao – Lý Ca trong TNCD quyển 3 – Lòng son từ trang 155 trở đi: 4- Đồng Dao – Lý Ca (Lý Ngữ) Ve vẻ vè ve, Bắt vè con cá. No lòng phỉ dạ, Là con cá cơm. Không ướp mà thơm, Là con cá ngát. Liệng bay san sát, Là con cá chim. Hụt cẳng chết chìm, Là con cá đuối. Lớn năm nhiều tuổi, Là cá bạc đầu. Đủ chữ xứng câu, Là con cá đối. Nở mai tàn tối, Là cá vá hoa. Trắng muốt beo da, Là cá úc thịt. Dài lưng hẹp kích, Là cá lòng tong. Ốm yếu hình dong, Là con cá nhái. Thiệt như lời vái, Là con cá linh. (linh thiêng) Ve vẻ vè ve, Bắt vè thằng ở. Khó ăn khó ở, Nó bỏ nó về. Mày về thì về, Tao thuê thằng khác. Anh thuê chẳng được, Anh lại dỗ dành. Em ở với anh, Một vài năm nữa. Có con trâu chửa, Cắt cỏ ăn no. Em chả có lo, Manh quần tấm áo. Chẳng lo thiếu gạo, Cơm nguội đầy nồi. Cơm sốt đầy niêu. Có con heo nái, Với con trâu cái, Anh đã bán rồi. Hết việc thì thôi, Hết xôi rồi việc … Nghe vẻ nghe ve, Nghe vè cờ bạc. Đầu hôm xao xác, Bạc tốt như Tiên. Đêm khuya hết tiền, Bạc như chim cú. Cái đầu sù sụ, Con mắt trõm lơ. Hình đi phất phơ, Như con chó đói. Chân đi cà khói, Dạo xóm dạo làng. Quần rách lang thang, Lấy tay mà túm … Nghe vẻ nghe ve, Nghe vè trái cây. Giây ở trên mây. Là trái đâu rồng. Có vợ có chồng, Là trái đu đủ. Chặt ra nhiều mủ, Là trái mít ướt. Đầu tựa gà xước, Vốn thiệt trái thơm. Cái đầu chơm bơm, Là trái bắp nấu. Rủ nhau làm xấu, Là trái dái dê. Ngứa mà gãi mê, Là trái mắt mèo. Khoanh tay lo nghèo, Là trái bần ổi. (9) Sông sâu chẳng lội, Là trái mãng cầu. (10) Chẳng thấy nàng đâu, Ấyy là trái cách. (11) Trong ruột óc ách, Là trái dừa xiêm. Chín thì thâm kim. Chuối già chuối sứ. Tùng tam tụ tứ, (12) Một lũ dưa gang. Vốn ở miên man (Cao Miên) Là trái bí rợ. Mẹ sai đi chợ, Vốn là trái dâu. (nàng dâu) Ở những vũng sâu, Là trái bông súng. Chẳng nên lễ cúng, Đó là trái sung. Nhỏ mà chẳng lung, Đó là ớt hiểm. Đánh túc cầu liễm (13) Vốn là trái me. Nắng chẳng cần che, Lá trái rau mát. (bàn bát) Chú thích: 9- Bần là nghèo. 10- Cầu bắc ngang sông. 11- Cách xa 12- Túm ba tụm bốn. 13- Chơi hốt me. (còn tiếp) |
![]() |
| Bookmarks |
| Những tiện dụng | |
| Trình bày | |
|
|
Bài tương tự
|
||||
| Chủ đề | Người khởi đầu chủ đề | Forum | Trả lời | Bài mới nhất |
| Nhạc Dân Ca, Quê Hương Việt Nam | Lee Ann | Nhạc Theo Chủ Đề | 18 | 10-20-2009 07:57 PM |
| Thơ Vũ Hoàng Chương | cỏ may | Vườn Thơ Hội Ngộ | 14 | 09-03-2009 12:23 PM |
| Lại Tiếp Tục.....mở rộng cửa | nhất thường | Chào Nhau Thân Ái | 20 | 08-02-2009 05:01 PM |
| Khơi Nguồn Dòng Võ Học Dân Tộc | SoLuuHuong | Bài Viết Về Võ Thuật | 0 | 06-21-2009 11:48 PM |
| Tiếng Nói Dân Tộc | Bẽn Lẽn | Đấu Tranh | 0 | 06-10-2009 12:32 AM |