<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>

<rss version="2.0" xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/">
	<channel>
		<title>Diễn Đàn Thư Viện Toàn Cầu</title>
		<link>http://tvvn.org/forum/</link>
		<description>Thư Viện Toàn Cầu Việt Nam Quốc Gia</description>
		<language>vi</language>
		<lastBuildDate>Fri, 20 Nov 2009 21:10:23 GMT</lastBuildDate>
		<generator>vBulletin</generator>
		<ttl>60</ttl>
		<image>
			<url>http://tvvn.org/forum/tvvn_4book/misc/rss.jpg</url>
			<title>Diễn Đàn Thư Viện Toàn Cầu</title>
			<link>http://tvvn.org/forum/</link>
		</image>
		<item>
			<title>Thắc mắc về chính tả</title>
			<link>http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3927&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Fri, 20 Nov 2009 19:25:47 GMT</pubDate>
			<description>Huệ Đức ghi nhận một vài điểm nhỏ về chính tả,dấu hỏi,dấu ngã khi đọc các bài trong lớp học Dịch.Huệ Đức tìm vào phần điều chỉnh cho đúng  trên Thư...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div>Huệ Đức ghi nhận một vài điểm nhỏ về chính tả,dấu hỏi,dấu ngã khi đọc các bài trong lớp học Dịch.Huệ Đức tìm vào phần điều chỉnh cho đúng  trên Thư Viện Toàn Cầu nhưng không thấy.<br />
Xin trích ra nơi đây những gì liên quan tới phần chính tả tiếng Việt, riêng về các sự trả lời liên quan tới việc học Dịch xin cắt bỏ.<br />
___________________________________________<br />
comuc<br />
Chào tỷ HH.<br />
comuc nói sai, mong tỷ chỉ dẩn.<br />
________________________________<br />
Hoa Hạ<br />
Câu chỉ đầu tiên là...hình như chữ Dẫn có dấu ngã.<br />
_________________________________________<br />
hueduc<br />
Chữ &quot;chỉ dẩn&quot; hay chữ &quot;hướng dẩn&quot; đọc trong các sách tiểu thuyết cũ thời xưa trước 1975 đều có dấu hỏi. Không biết bây giờ Thư Viện Toàn Cầu định đoạt ra sao.<br />
_________________________________________<br />
<b>Việt Tân</b>Trong Quốc Ngữ KHÔNG CÓ chữ &quot; Dẩn &quot; ( dấu hỏi ) mà chỉ có chữ :<br />
Dẫn ( dấu ngã ) : chỉ cho , chỉ đường , ( mẹ dẫn con đi ) ,dẫn bóng , ống dẫn dầu , dẫn dụ...<br />
Dần :cọp , tuổi dần , làm cho mềm ra ( dần thịt , dần lươn ), đánh cho đau từ từ ( dần cho nó một trận ), từng ít một ( công nợ trả dần )<br />
Dấn :dìm xuống , cố gắng lên , dấn bước , hy sinh , ( dấn thân )<br />
Dận :buồn bực ,không vừa lòng , , dận dò ( dặn dò )<br />
__________________________________________<br />
Huệ Đức</div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://tvvn.org/forum/forumdisplay.php?f=44">Hướng Dẫn Cách Sinh Hoạt Trên Thư Viện Toàn Cầu</category>
			<dc:creator>hueduc</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3927</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Xin giúp đỡ CC4</title>
			<link>http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3926&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Fri, 20 Nov 2009 18:51:52 GMT</pubDate>
			<description>Chào các bạn tôi nghịch sao bây giờ CC4 của tôi không nhúc nhích gì hết , đánh chữ cũng không được. Xin các bạn giúp đỡ đễ trở lại ban đầu. Thành...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div>Chào các bạn tôi nghịch sao bây giờ CC4 của tôi không nhúc nhích gì hết , đánh chữ cũng không được. Xin các bạn giúp đỡ đễ trở lại ban đầu. Thành thật cám ơn.:confused::confused::confused:</div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://tvvn.org/forum/forumdisplay.php?f=48">Câu Hỏi Về Điện Toán</category>
			<dc:creator>măng cụt</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3926</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Mừng ngày nhà giáo Việt Nam</title>
			<link>http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3925&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Fri, 20 Nov 2009 14:05:52 GMT</pubDate>
			<description>Chúc mừng các thầy cô trong Thư Viện nhân ngày nhà giáo Việt Nam !  
 
Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy, banbe đã học được rất nhiều tại...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div>Chúc mừng các thầy cô trong Thư Viện nhân ngày nhà giáo Việt Nam ! <br />
<br />
Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy, banbe đã học được rất nhiều tại Thư Viện.<br />
<br />
Trong Thư viện cũng có rất nhiều lớp học, banbe chúc mừng các thầy cô trong Thư Viện một ngày nhà giáo thật là vui, luôn luôn khoẻ mạnh sửa lỗi cho các trò.</div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://tvvn.org/forum/forumdisplay.php?f=85">Việt Nam</category>
			<dc:creator>banbe</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3925</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Đại Lễ Phong Thánh Tử Đạo Việt Nam (Video)</title>
			<link>http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3923&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Fri, 20 Nov 2009 04:20:44 GMT</pubDate>
			<description>Đại Lễ Phong Thánh Tử Đạo Việt Nam 
Vatican 19.6.1988 (1/8) 
 
Phần 1: Ngày 18.6.1988, lễ cung nghinh: Kiệu Hoa, Kiệu Hương Án, Kiệu Di Tích Tử Đạo,...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><div align="center"><br />
<font color="Red"><b>Đại Lễ Phong Thánh Tử Đạo Việt Nam</b></font><b><br />
<font color="Navy">Vatican 19.6.1988 </font></b><font color="Navy"><font color="DimGray">(1/8)</font><br />
<br />
Phần 1: Ngày 18.6.1988, lễ cung nghinh: Kiệu Hoa, Kiệu Hương Án, Kiệu Di Tích Tử Đạo, Kiệu Hài Cốt Các Thánh Tử Đạo</font><br />
<br />
<embed src="http://www.4shared.com/embed/155614396/87fa684f" width="480" height="385" allowfullscreen="true" allowscriptaccess="always"></embed><br />
</div></div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://tvvn.org/forum/forumdisplay.php?f=64">Nhạc Tôn Giáo</category>
			<dc:creator>Bẽn Lẽn</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3923</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Động Đình Hồ Ngoại Sử - Quyển I - Hồi 44 - Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ</title>
			<link>http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3922&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Thu, 19 Nov 2009 22:05:52 GMT</pubDate>
			<description>HỒI THỨ BỐN MƯƠI BỐN 
 
Ai ngờ đôi lứa thiếu niên; 
Quan sơn để cách hàn huyên bao đành. 
 
(Chinh phụ ngâm khúc)   
 
  
 
Đào Kỳ đã có chủ trương...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><b>HỒI THỨ BỐN MƯƠI BỐN</b><br />
<i><br />
Ai ngờ đôi lứa thiếu niên;<br />
Quan sơn để cách hàn huyên bao đành.</i><br />
<br />
(Chinh phụ ngâm khúc)  <br />
<br />
 <br />
<br />
Đào Kỳ đã có chủ trương trước, đi đâu chàng cũng thi ân bố đức cho dân, để gây tiếng tăm cho đất Lĩnh-nam. Đạo quân của chàng có 15 vạn, bây giờ thêm quân Thục đầu hàng nữa thành 20 vạn. Chàng tuyển nhân sĩ địa phương có tài có đức bổ làm huyện-úy, huyện-lệnh. Tính từ hôm rời Quế-lâm đến giờ, mới gần một tháng mà chàng đã chiếm được suốt một giải Tây-nam Ích-châu. Nhờ anh em họ Vương, chàng biết hét quân tình đất Thục. Chàng cử Vương Lộc đi với Nguyễn Nhân dò thám tin tức đạo quân Kim-sơn của Đinh Công-Thắng và Triệu Anh-Vũ.<br />
<br />
Theo đề nghị của Vương Phúc, chàng dời tổng hành dinh lên Tây-xương, uy hiếp thành Việt-tây. Hôm qua thám mã về báo cho biết: Tại Thành-đô biết tin mất năm quận phía Nam bối rối vô cùng. Công-tôn Thuật ra lệnh cho con rể là Phan Hào giữ vững thành không được giao chiến. Vì vậy các thành Việt-tây, Mỹ-cơ không mở cửa, không biết tình hình bên trong như thế nào.<br />
<br />
Hôm sau có tin Nam-hải nữ hiệp di bản doanh tới nơi. Đào Kỳ vội vàng cùng Thiều-Hoa ra ngoài đón. Nam-hải nữ hiệp nhìn chàng cười:<br />
<br />
– Ta để hậu cứ cho Lương Hồng-Châu với Lê Ngọc Trinh coi. Ta vào đây trấn thủ phía sau để cháu tiến vào Thành-đô.<br />
<br />
Thiều-Hoa giới thiệu anh em họ Vương với Nam-hải nữ hiệp. Bà cầm tay ba người nói:<br />
<br />
– Ta không bảo cháu hàng Hán là đi vào con đường tốt. Nhưng ta thấy cháu có con mắt tinh đời giữa trận tiền kết bạn với Đào Kỳ, Thiều-Hoa mới là khí phách đại trượng phu. Ta nghe nói nội công của cháu âm dương điều hòa hơi giống nội công của ta. Vậy cháu thử đánh một chưởng để ta so sánh với võ công Sài-sơn xem thế nào.<br />
<br />
Vương Phúc thấy Đào Kỳ cung kính một thiếu phụ trên 50 tuổi, dáng người mảnh khảnh, đẹp đẽ, thì cũng kính cẩn theo. Nhưng chàng không tin võ công bà ta bằng mình. Bà còn bảo chàng phóng chưởng để khảo hạch võ công mình. Lòng tự ái nổi dậy, chàng hít một hơi phóng một chiêu đánh vào người bà. Chàng sợ làm bà bị thương e Đào Kỳ buồn, nên chỉ phát có năm thành công lực. Nam-hải nữ hiệp đưa tay đỡ nhẹ nhàng. Bộp một cái, chưởng của Vương Phúc biến mất tăm mất tích. Hổ thẹn quá, chàng vận đủ mười thành công lực, phóng một chiêu cực kỳ vũ bão. Chưởng phong ào ào chụp vào người bà. Bà nhàn nhã đưa chưởng đỡ. Bộp một cái, chưởng của chàng lại mất tích lần nữa. Bà nói:<br />
<br />
– Giỏi lắm! Chưởng của cháu cương nhu gồm đủ. Với tuổi này trên đời ít người bằng được.<br />
<br />
Vương Phúc kinh ngạc, tự an ủi:<br />
<br />
– Bà ở vai sư bá Đào Kỳ dĩ nhiên võ công phải cao cường rồi.<br />
<br />
Đào Kỳ sai đặt tiệc đãi Nam-hải nữ hiệp. Tiệc nữa chừng, bà nói:<br />
<br />
– Vùng Đức-xương gồm các thành Đức-xương, Độ-khẩu, Phổ-dịch, Phổ-khách và Tây-xương. Trước do Vương Phúc trấn nhậm, bây giờ ta cử Vương Thọ thống lĩnh. Chức mới của Vương Thọ là Bình-nam đại tướng quân. Cháu được toàn quyền trong vùng. Đợi chiếm xong Việt-tây, ta cử Vương Lộc làm trấn thủ. Còn Vương Phúc trấn thủ Long-xương. Như vậy nửa Ích-châu thuộc anh em Vương-gia quản lĩnh. Bây giờ chúng ta tiến quân đánh Mỹ-cơ trước, để bắt tay với Đinh Công-Thắng.<br />
<br />
Vương Phúc thiết kế:<br />
<br />
– Thành Mỹ-cơ nằm trên đỉnh núi. Phía trước có mười đồn nhỏ đóng bảo vệ. Các đồn nằm cạnh khe núi địa thế hiểm trở. Tướng giữ thành võ công tầm thường, nhưng mưu trí tuyệt vời, y tên Trần Thanh-Nhiên. Quân mã tổng số độ hơn một vạn. Trong thành lương thực đầy đủ, ăn đến ba năm mới hết. Chúng ta cần cho người lẻn vào làm nội ứng đánh úp thì mới thành công.<br />
<br />
Đào Kỳ chắp tay nói:<br />
<br />
– Xin Nam-hải sư bá cùng với sư tỷ Thiều-Hoa ở nhà điều khiển ba quân, cháu với Vương Phúc, Giao-long nữ thám thính Mỹ-cơ xem sự thể thế nào đã.<br />
<br />
Giao-long nữ thấy việc gì Đào Kỳ cũng gọi mình thì thích lắm bèn lên ngựa cùng đi. Nàng hỏi Vương Phúc:<br />
<br />
– Vương đại ca! Hôm trước đại ca kể rằng thân phụ là Nguyên soái của Ngỗi Hiêu. Công-tôn Thuật cử Triệu Khuôn đi cứu rồi chiếm mất đất, rồi đoạt quân binh và giết lão bá. Bây giờ đại ca đầu hàng Lĩnh-nam, chúng tôi sẽ giúp đại ca báo thù.<br />
<br />
Vương Phúc chắp tay:<br />
<br />
– Đa tạ sư muội trước. Bây giờ tôi đề nghị thế này. Chúng ta giả làm thợ săn đến Mỹ-cơ bắn thú rừng. Đào đại ca và Trần cô nương nói tiếng Tứ-xuyên không được rõ ràng, không cần lên tiếng, để cho tôi lo liệu mọi việc. Trước khi đến Mỹ-cơ phải qua rừng Kê-sơn, chúng ta vào đó săn thú, mang ra chợ bán. Ngựa chúng ta cỡi là chiến mã, dễ bị lộ, chúng ta phải đi bằng ngựa của dân.<br />
<br />
Trần Quốc khen ngợi:<br />
<br />
– Vương đại-ca quả thực là một tướng giỏi. Giá Công-tôn Thuật không phải là kẻ thù của đại-ca thì chúng tôi khó mà lấy được Độ-khẩu.<br />
<br />
Câu nói của nàng đúng với ý nghĩ của Đào Kỳ. Ba người thay quần áo dân, lên ngựa đi. Trời mùa Đông, rừng núi thê lương hiu quạnh. Đến trưa thì tới rừng Kê-sơn. Vương Phúc dẫn hai người vào rừng. Chàng chỉ xuống suối:<br />
<br />
– Về mùa này, rừng núi khô, ở đây có con suối thú vật thường đến đây uống nước. Chúng ta chỉ cần đi theo suối là có thú.<br />
<br />
Hơn một giờ sau, ba người bắn được nào gà, nào trĩ, nào công hàng chục con. Đi một giờ nữa, thấy bên kia suối có một con nai mẹ đang uống nước với nai con. Trần Quốc giương cung định bắn, thì Vương Phúc cản lại:<br />
<br />
– Cô nương, nếu cô nương bắn nai mẹ, thì nai con sẽ sống ra sao? Còn bắn chết con thì nai mẹ sẽ đau đớn mà chết. Thôi ta tha cho chúng.<br />
<br />
Nguyên Vương Phúc mồ côi mẹ từ thuở còn thơ. Tuy chàng được một vương-phi của Công-tôn Thuật nuôi dưỡng coi chàng như con đẻ, mà lòng chàng luôn luôn nghĩ đến mẹ. Trí nhớ chàng trở về tuổi lên ba, không giúp chàng hình dung được khuôn mặt của mẹ như thế nào. Một mặt nhớ mẹ thương cha, một mặt chàng giả vờ quên dĩ vãng đi, vì sợ Công-tôn Thuật khám phá ra. Nay thấy mẹ con đôi nai nhởn nhơ uống nước, động tâm linh, chàng cản không cho Trần Quốc bắn chúng.<br />
<br />
Trần Quốc cảm động:<br />
<br />
– Vương đại-ca quả là người nhân từ hiếm có.<br />
<br />
Đào Kỳ cũng nói:<br />
<br />
– Đất Lĩnh-nam chúng tôi trọng nhất là người đạo đức, rồi mới tới tài. Bàn về võ công thì sư bá Nam-hải không phải là nhất, nhưng sư bá là người nhân từ, đạo đức nhất. Vì vậy khắp nơi đều kính trọng ngài. Như phái Tản-viên võ công cao nhất là Khất đại-phu, Lê Đạo-Sinh. Thế nhưng đại-phu được kính trọng tuyệt đối vì ngài đạo đức. Dưới ngài có Nhị Trưng, đạo đức, khiêm tốn, nên chúng tôi kính trọng như bậc trên vậy. Sau này gặp đội quân Kinh-châu, đại ca sẽ có dịp biết sư tỷ Trưng Nhị.<br />
<br />
Vương Phúc nói:<br />
<br />
– Từ hôm gặp Đào đại-ca đến giờ, tôi muốn hỏi một câu mà mãi hôm nay mới dám. Đó là tại sao ở Lĩnh-nam có nhiều phụ nữ giỏi như vậy?<br />
<br />
Đào Kỳ nhìn Trần Quốc đáp:<br />
<br />
– Phụ nữ ở đâu cũng vẫn là phụ nữ. Họ có đủ tính năng như đàn ông con trai. Tùy theo hoàn cảnh sinh sống, giáo dục, phát triển tài năng của họ. Lĩnh-nam khác Trung-nguyên. Trung-nguyên ảnh hưởng của Nho-giáo, nào là Nam tại ngoại, nữ tại nội, nào là Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô. Coi người phụ nữ như đầy tớ, không cho học hành, không cho làm việc lớn, thành ra họ không có khả năng phát triển. Người phụ nữ sinh ra, đã nghĩ đến phục tùng chồng, nghĩ đến hầu hạ chồng, nghĩ đến việc chui đầu vào, chổng đít ra ở bếp... Thông tuệ mòn đi thật đáng tiếc. Còn người phụ nữ Lĩnh-nam thì ngược lại, khi họ sinh ra đời, họ nghĩ họ cũng làm được những chuyện như đàn ông, tư tưởng phát triển mạnh. Chính phu nhân của tôi hiện là đệ nhất quân sư của Lĩnh-nam vương. Sư tỷ của tôi đường đường là Lĩnh-nam vương phi cao quý biết mấy, nhưng vẫn làm đại tướng xuất trận.<br />
<br />
Bỗng Vương Phúc chỉ xuống suối:<br />
<br />
– Kìa! Con gấu đen đang bơi. Nếu bắt sống thì bán được nhiều tiền lắm. Vùng này ít ai bẫy được gấu.<br />
<br />
Trần Quốc cười khúc khích vẫy tay làm hiệu :<br />
<br />
– Để tôi bắt sống !<br />
<br />
Nói rồi nàng nhảy ùm xuống suối lặn mất. Con gấu vẫn bơi đằng xa có ngờ đâu Trần Quốc lặn dưới lòng suối bắt nó. Vèo một tiếng, sợi dây từ dưới nước vọt lên không, bay đến chụp vào cổ gấu. Con gấu thụp xuống suối lặn mất, sợi dây chụp vào khoảng không. Một khắc sau, từ dưới đáy suối, sóng cuồn cuộn nổi lên. Suối trong veo biến thành đục ngầu. Rồi Trần Quốc từ dưới nước vọt lên như con cá chép, đáp vào bờ. Tay nàng cầm sợi dây đưa cho Đào Kỳ :<br />
<br />
– Anh Kỳ giúp em một tay.<br />
<br />
Đào Kỳ cầm lấy sợi dây giật mạnh. Con gấu từ dưới lòng suối bay vọt lên không, từ từ rơi xuống cạnh Vương Phúc. Vương Phúc vung tay thành cầm nã thủ, túm cổ nó đè xuống. Trần Quốc reo lên chạy đến trói lại.<br />
<br />
Đào Kỳ chặt cành cây làm đòn gánh, nói :<br />
<br />
– Chúng ta khiêng ra chỗ cột ngựa chở đến Mỹ-cơ bán.<br />
<br />
Bỗng có tiếng nói :<br />
<br />
– Khoan ! Các người giỏi lắm, để con gấu lại, ta muốn mua.<br />
<br />
Rồi có hai người phi ngựa đến. Vương Phúc nhận ra đó là Thái-thú Mỹ-cơ Trần Thanh-Nhiên và em y là Trần Thanh-Triết. Hai anh em y không nhận ra Vương Phúc, vì chàng đã hóa trang thành một người già, bôi đất vào mặt, da hóa ra vàng khè. Vương Phúc giả vờ không biết anh em họ Trần, hỏi :<br />
<br />
– Chẳng hay các vị định mua con gấu này bao nhiêu tiền ?<br />
<br />
Trần Thanh-Nhiên ngắm nghía con gấu đáp :<br />
<br />
– Chà lông đẹp quá. Con gấu này già lắm rồi, thọ ít ra trăm tuổi rồi. Các người định bán bao nhiêu tiền ?<br />
<br />
Vương Phúc chối :<br />
<br />
– Chúng tôi không bán, định mang về lột da làm áo, lấy mật làm thuốc, nhưng nếu các vị trả giá cao tôi cũng bán. Xin các vị cho 20 lượng bạc.<br />
<br />
Thực ra con gấu chỉ đáng giá 10 lượng. Vương Phúc đòi quá đi để anh em họ Trần không mua, chàng mới có cớ mang vào thành Mỹ-cơ. Không ngờ Trần Thanh-Triết đồng ý :<br />
<br />
– Tôi trả 20 lượng, phiền các vị mang về thành Mỹ-cơ cho tôi.<br />
<br />
Trần Thanh-Nhiên chợt nhớ ra điều gì hỏi :<br />
<br />
– Vị cô nương này tuổi chưa tới 18 mà bơi lặn giỏi như thế, thật hiếm thấy trên thế gian. Cô lặn dưới suối đánh vật với gấu, cột được cổ nó.<br />
<br />
Vương Phúc trả lời thay :<br />
<br />
– Biểu muội tôi không tập võ, nhưng chúng tôi sống bằng nghề săn bắn từ nhỏ, tạo thành bản lĩnh bắt gấu dưới nước.<br />
<br />
Trần Thanh-Nhiên bảo Vương Phúc :<br />
<br />
– Các ngươi mang gấu về Mỹ-cơ, ta trả đủ 20 lương bạc.<br />
<br />
Không dừng được Vương Phúc vẫy Đào Kỳ, Trần Quốc đi theo. Chàng cột gấu lên lưng một con ngựa, rồi cỡi chung ngựa với Đào Kỳ đi theo anh em họ Trần.<br />
<br />
Ra tới đường, anh em họ Trần có thêm 20 kỵ binh theo hầu. Trần Quốc đi sát Đào Kỳ ra hiệu, ngụ ý hỏi có nên bắt sống anh em Trần Thanh-Nhiên không ? Đào Kỳ lắc đầu, tỏ ý chờ xem đã.<br />
<br />
Hơn giờ sau tới thành Mỹ-cơ. Thành nằm trên ngọn đồi thoai thoải, dựa lưng vào dãy núi đá cao chót vót. Thác nước từ trên núi đá rót vào thành tạo thành tiếng kêu ào ào. Nước từ trong chảy ra ngoài thành hai con suối rộng. Nước suối trong xanh, chảy quanh lấy thành như một con rắn uốn khúc. Dọc theo suối 10 đồn binh xây bằng đá, ngoài có hàng rào bằng cọc gỗ. Anh em Trần Thanh-Nhiên đi lên sườn núi, binh sĩ trông thấy y, hành lễ theo quân cách.<br />
<br />
Thành Mỹ-cơ không lớn, xây bằng đá, cao hơn mười trượng. Mặt thành rộng, thiết kỵ đi đi lại lại tuần tiễu nghiêm mật. Đào Kỳ thấy địa thế hiểm trở, đưa mắt nhìn Vương Phúc, nghĩ đến lời bàn của Phúc : Nếu không có nội ứng, thì không đánh được.<br />
<br />
Đến dinh trấn thủ, Trần Thanh-Nhiên sai lấy bạc trả Vương Phúc. Y cầm bình rượu rót hai ly mời Vương Phúc, Đào Kỳ, nói :<br />
<br />
– Duyên may gặp gỡ, trọn đời ta kính phục những tráng sĩ tài ba, nay gặp các vị xin cạn một ly gọi là duyên kỳ ngộ.<br />
<br />
Vương Phúc, Đào Kỳ cầm ly uống liền. Đào Kỳ uống vào cảm thấy rượu có mùi vị khác lạ. Chàng nghĩ chưa ra mùi vị gì, thì thấy Vương Phúc loạng choạng, ôm đầu kêu lên :<br />
<br />
– Rượu có thuốc độc.<br />
<br />
Nội công Đào Kỳ cực thâm hậu, chàng vận khí mửa rượu ra, thì thấy đầu óc quay cuồng. Chàng nghiến răng vận đủ mười thành công lực, hướng Trần Thanh-Nhiên phát chưởng. Thanh-Nhiên kinh hoàng lăn tròn dưới đất tránh. Chưởng trúng vào cái sập gụ giữa nhà, bình một tiếng, cái sập gụ nặng nề bay khỏi phòng, văng ra giữa sân, rơi xuống vỡ làm mấy mảnh.<br />
<br />
Trần Quốc quát lên, tấn công Trần Thanh-Triết. Chỉ ba chiêu y phải lùi ra ngoài sân.<br />
<br />
Đám vệ sĩ Mỹ-cơ ào ào vây phủ. Trần Quốc đánh liền ba chưởng đẩy lui, rồi hướng ngọn suối ngoài cổng thành chạy ra. Trần Thanh-Triết hô vệ sĩ đuổi theo. Trần Quốc chạy đến cây cầu đứng lại nói lớn :<br />
<br />
– Thôi đời ta hết rồi ! Ta tự tận cho xong.<br />
<br />
Rồi nàng nhảy ùm xuống sông, lặn đi thật xa. Thấy bụi cây bên đường, nàng chui vào nhô đầu lên thở, hướng mắt nhìn lại cây cầu. Đám vệ sĩ đứng trên cầu một lúc không thấy Trần Quốc, chúng cho rằng nàng chết chìm. Trần Thanh-Nhiên quan sát một lúc lâu y mới nói :<br />
<br />
– Dù y thị lặn giỏi đến đâu cũng phải ngóc đầu lên mà thở. Ta chờ một lúc xem sao ?<br />
<br />
Y cho vệ sị đi dọc bờ sông trong khoảng trăm trượng, canh chừng xem Trần Quốc có trồi lên thở không.Trong khi đó nàng đã lặn xa đến hàng mấy trăm trượng. Tới khu rừng hoang nàng trồi đầu lên thở. Ngó trước ngó sau không thấy ai, nàng vọt một cái nhảy lên bờ như con cá chép, đứng lại nhìn thành Mỹ-cơ phía xa xa trên đồi. Nàng thầm nghĩ :<br />
<br />
– Từ đây tới Tây-sương xa hàng trăm dặm, đồi núi âm u, ta làm thế nào về được? Mà ta không về báo tin, ở nhà không hiểu sự tình ra sao. Hay là ta tìm cách trở lại Mỹ-cơ cứu hai người ra?<br />
<br />
Cuối cùng nàng tìm được một lối giải quyết:<br />
<br />
– Trần Thanh-Nhiên bắt được hai người, tất thế nào cũng giải về Việt-tây cho Phan Hào phát lạc. Ta đón đường tìm cách cứu ra là ổn thỏa nhất.<br />
<br />
Đã có chủ định, nàng tìm bụi cây, chui vào nằm ngủ một giấc. Khi tỉnh dậy trời đã về chiều, trong bụng đói, nàng tìm cành cây vót nhọn ra sông săn cá. Nhảy xuống nước thấy cá bơi từng đàn, nàng dùng cây xiên, mỗi lần xiên là một con. Chỉ lát sau nàng đã được hàng chục con. Đem cá lên tìm hốc đá, đốt củi, nướng ăn. Những con cá suối núi, béo ngậy thơm tho, giúp nàng một bữa ăn ngon miệng. Nàng nhìn về Mỹ-cơ thấy phía trước mấy đồn là con sông. Vương Phúc nói cho nàng biết đó là sông Tây-khê Trong lúc không tìm ra kế cứu Đào Kỳ, nàng nhớ lời Phương-Dung dặn:<br />
<br />
– Khi gặp hoàn cảnh khó khăn, cứ đặt mình là quân địch mình sẽ làm gì? Thì tự nhiên ước tính được tình hình. Bây giờ nếu nàng là Trần Thanh-Nhiên, nàng sẽ không giải Đào Kỳ, Vương Phúc bằng đường rừng tới Việt-tây, rất nguy hiểm, có thể sẽ bị quân thành Tây-xương cứu ra. Vậy thì Thanh-Nhiên sẽ ngược sông Tây-khê đến Nga-biên rồi quẹo sang Hán-nguyên. Đến Hán-nguyên là địa phận của Phan Hào.<br />
<br />
Nghĩ như thế, nàng quyết định tìm cách về Mỹ-cơ, ẩn náu bên sông, xem chúng giải Đào Kỳ xuống thuyền nào, nàng sẽ tìm cách cứu ra. Nàng chuồn xuống nước trở về Mỹ-cơ, hai tay quay tròn, người trườn trong lòng sông như con Giao-long. Đến Mỹ-cơ nàng núp ở bụi cây bờ sông, nhìn sang đám thủy quân đứng cách đó không xa. Tất cả mười chiến thuyền lớn, hai mươi chiến thuyền nhỏ đậu thành hình chữ nhất rất nghiêm chỉnh.<br />
<br />
Chờ đến khuya vẫn không thấy động tĩnh gì, nàng trồi lên bờ đi về phía thành Mỹ-cơ. Nàng men theo các bụi cây quanh thành, tới cửa Bắc thì có một nguồn suối chảy ào ào từ trong thành ra ngoài. Nàng lẩm bẩm:<br />
<br />
– Thì ra thế thành này sở dĩ làm trên núi vì phía sau còn ngọn núi cao hơn, có thác nước dẫn vào, làm đường tiếp tế cho quân.<br />
<br />
Quan sát kỹ thấy chỗ suối chảy ra có một vọng canh, mấy tên quân nói chuyện với nhau, sự canh phòng không mấy nghiêm mật lắm, nàng cười thầm.<br />
<br />
– Nước chảy xiết thế này, thì cần gì phải canh phòng? Ai có thể vào thành bằng lối này được? Nhưng ta thì lại dễ dàng.<br />
<br />
Nàng chui xuống suối lội ngược theo thác nước. Nước tuy chảy xiết nhưng nàng bám theo ghềnh đá mà đi. Chỉ lát sau đã vượt qua đoạn dài đến trăm trượng. Trong thành nước chảy êm hơn bên ngoài, nàng lội một quãng nữa chỗi dậy nhìn: Nàng đang ở trong cái hồ trên đỉnh núi. Phía trên hồ là thác nước từ trên cao đổ xuống. Phía dưới hồ là thác nước chảy ra ngoài thành. Vọt lên bờ hồ, đứng nhìn địa thế, nàng tìm ra dinh Thái-thú nơi Đào Kỳ, Vương Phúc bị bắt. Hướng chỗ có ánh sáng chiếu ra, nàng lặn tới. Bên ngoài dinh thự có thiết kỵ đi lại tuần hành nghiêm ngặt. Nàng vòng ra phía sau dinh, lén vào bên trong một căn nhà có khói bốc lên, thì ra đó là nhà bếp. Ngó trước, ngó sau không có ai, nàng vọt qua cửa sổ vào bếp. Trong nhà bếp có hai người thị nữ đang làm việc cùng với ba người đầu bếp. Một thị nữ nói:<br />
<br />
– Hôm nay Trần tướng quân bắt được Bình-nam vương và một tên giặc, ngài ăn mừng. Sáng mai sẽ giải về Nga-biên. Hai người này được ngài cho ăn uống tử tế gớm!<br />
<br />
Một đầu bếp nói:<br />
<br />
– Không hiểu sao Bình-nam vương lại phản hoàng-thượng theo giặc?<br />
<br />
Thị nữ ra bộ biết nhiều hơn:<br />
<br />
– Tôi nghe thẩm vấn mới biết rằng Bình-nam vương không phải là con đẻ của hoàng-thượng. Trước đây hoàng-thượng là sư huynh của Vương Nguyên. Vương Nguyên theo Ngỗi Hiêu, được phong làm Nguyên-soái. Khi Ngỗi Hiêu bị Hán đánh thua, hoàng-thượng cử Lũng-tây vương Triệu Khuôn đi cứu. Không hiểu sau đó sự thể thế nào, Lũng-tây vương chiếm hết đất của Ngỗi Hiêu. Vương Nguyên bỏ đi mất tích. Lúc Vương Nguyên theo Ngỗi Hiêu thì ba người con bơ vơ, được hoàng-thượng đem về nuôi dưỡng phong tước vương, thế mà lại phản hoàng-thượng.<br />
<br />
– Thế còn tên giặc đi theo?<br />
<br />
– Bình-nam vương khai rằng y là tên quân hầu, theo dò thám mà thôi. Sáng nay còn một đứa con gái cùng đi theo. Bình-nam vương khai rằng y thị là vợ của ngài. Y thị nhảy xuống sông tự tử rồi.<br />
<br />
Trần Quốc nghe vậy mặt nóng bừng lên. Tuy nàng biết Vương Phúc khai láo để đánh lừa Trần Thanh-Nhiên, nhưng nàng cũng cảm thấy ngượng ngập. Nói chuyện một lúc, người tỳ nữ chạy ra ngoài dường như tìm chỗ đi tiểu. Nàng vội theo bén gót, quả nhiên tới gốc cây, y thị ngồi xuống. Trần Quốc nhảy vèo đến bịt miệng, dí dao vào cổ y thị:<br />
<br />
– Im mồm! Nếu la một tiếng, tao cắt đầu.<br />
<br />
Nàng bắt thị nữ đi vào phòng gần đó, xé vạt áo nhét giẻ vào miệng, lấy dây lưng trói lại, rồi lột quần áo mặc vào. Nàng thản nhiên đi lên sảnh đường, đứng ngoài ghé mắt nhìn vào thấy hai anh em Trần Thanh-Nhiên đang bàn truyện, cùng với một người đàn bà tao nhã, xinh đẹp. Trần Thanh-Nhiên nói:<br />
<br />
– Phu nhân, ngày mai tôi sẽ giải Vương Phúc với tên quan binh Hán về Hán-nguyên. Tôi nghe hoàng-thượng bí mật đến duyệt xét quân tình, vậy phu nhân nên đi gặp Hổ-oai đại tướng-quân, nhờ người dọ ý hoàng-thượng xem thế nào đã. Nếu hoàng-thượng nổi giận Vương Phúc thì tôi giải y về. Còn hoàng-thượng vẫn sủng ái y, thì tôi thả y đầu hàng Hán.<br />
<br />
Ngừng một lát, y thở dài đáp:<br />
<br />
– Bỗng dưng tôi gặp đại nạn. Vương Phúc đến dò thám Mỹ-cơ, tôi biết mà không bắt thì y đánh thành, tất tôi bị giết. Mà bắt y thì không biết giải quyết ra sao. Giao về hoàng-thượng, nếu mà hoàng-thượng giết y, thì tôi khó yên được với thái-hậu. Còn hoàng-thượng tha y, thì tôi cũng khó sống với y. Trăm sự tôi nhờ phu nhân lo liệu giùm, làm sao cho ổn.<br />
<br />
Người đàn bà đó là vợ Thanh-Nhiên. Trần Thanh-Nhiên xuất thân võ không cao, văn không giỏi, nhưng nhờ cơ duyên mà trờ thành tướng trấn thủ một vùng. Vợ y là con nhà danh gia. Thị có hai chị em. Người chị lấy Nguyễn Bình, lĩnh Hổ-oai đại tướng quân cho Công-tôn Thuật. Người em lấy Thanh-Nhiên. Nhiên là Vũ-vệ hiệu-úy trong cung không ai biết đến. Vì vợ y xinh đẹp lọt vào mắt Nguyễn Bình. Thế là bề ngoài là vợ Thanh-Nhiên, bề trong là tình nhân của anh rể. Trần Thanh-Nhiên biết thế, y lờ đi, để cho vợ tằng tịu với anh rể hầu mưu cầu danh lợi. Từ một chức hiệu-úy, trở thành huyện-úy, rồi huyện-lệnh. Cuối cùng y leo lên đến chức thái-thú. Nguyễn Bình giữ chức Hổ-oai đại tướng quân, chỉ huy tất cả bọn thị vệ trong cung, y lại là em ruột Hoàng-hậu Công-tôn Thuật. Y có rất nhiều thế lực.<br />
<br />
Trần Thanh-Nhiên bảo quân hầu:<br />
<br />
– Ngươi dẫn tội nhân ra đây!<br />
<br />
Quân hầu đi một lát, thì dẫn Vương Phúc, Đào Kỳ đem tới. Thanh-Nhiên chắp tay vái Vương Phúc:<br />
<br />
– Bình-nam vương-gia! Chắc vương-gia đang tự hỏi tại sao tiểu nhân biết vương-gia mà ra tay phải không? Vương-gia ơi! Có gì đâu, tôi quen mặt vương-gia quá rồi, dù vương-gia có hóa trang khác đi đôi chút, nhưng tôi vẫn nhận ra. Vì suốt thành Mỹ-cơ này, những người thợ săn đều phải làm tế-tác cho tôi, tôi biết mặt hết. Nay tự nhiên thấy vương-gia đi cùng với một thiếu niên, một thiếu nữ thì biết là tế-tác Hán. Cho nên vương-gia đòi con gấu 20 lượng bạc, tôi vẫn mua là thế. Tôi biết vương-gia võ công cao cường, không thể dùng võ bắt, mà phải dùng thuốc mê. Tôi mời vương-gia ở đây, ngày mai đưa về Hán-nguyên để hoàng-thượng xử lý. Không biết thái-hậu có cứu được vương-gia hay không?.<br />
<br />
Vương Phúc cười gằn:<br />
<br />
– Ta khen ngươi tinh tế, xứng đáng là thái-thú. Nếu ta là Phan Hào, ta sẽ ban thưởng cho ngươi.<br />
<br />
Trần Thanh-Nhiên cười nhạt:<br />
<br />
– Người ta bảo hoàng-thượng có ba người con nuôi anh hùng quả thật không sai. Vương-gia bị ta bắt mà vẫn khẳng khái, đó là Dũng, ta dùng mưu bắt người, không oán còn khen ta, đó là Lược. Biết đầu Hán để giữ địa vị, đó là Mưu. Dù làm Bình-nam vương vẫn không quên thù cha, đó là Hiếu. Nhưng Vương-gia ơi, tại sao Vương-gia lại hàng Hán?<br />
<br />
Vương Phúc thở dài:<br />
<br />
– Mỗi người một chí, ngươi như con ếch nằm đáy giếng thì biết gì mà hỏi ta. Thôi ngươi mau đem ta chém đi cho rồi. Còn ngươi không dám giết ta, thì liệu mà đầu hàng. Trần Thanh-Nhiên! Ta khuyên ngươi đầu Hán, chức vụ thái-thú chỉ có thăng chứ không có giảm đâu. Ngươi nghe lời ta đi. Còn nay ngươi giải ta cho Thuật, chưa chắc y giết ta. Thái-hậu sẽ che chở cho ta. Ngươi chẳng được công trạng gì đâu ? Còn người hàng Hán, ta hứa sẽ bảo lãnh cho ngươi làm thái-thú Mỹ-cơ, hoặc ngươi có công còn được phong thứ-sử Hán-nguyên không chừng.<br />
<br />
Trần Thanh-Nhiên nghe thuyết, biết lời Vương Phúc nói không sai, y hỏi :<br />
<br />
– Nếu như tôi đầu hàng sẽ phải làm gì ?<br />
<br />
Vương Phúc tiếp :<br />
<br />
– Người có ba đường lựa chọn : Một là ngươi bỏ cờ Thục, kéo cờ Hán đem toàn bộ binh mã đầu hàng, vẫn giữ được chức thái-thú Mỹ-cơ. Còn nếu ngươi khá hơn, khi chúng ta kéo quân đánh Việt-tây, ngươi mang quân về cứu rồi bất thần mở cửa thành, cho chúng ta vào thì ngươi được làm thứ-sử. Ngươi là người nhiều mưu trí, quyết định đi, đừng dùng dằng đại nạn đến trước mắt bây giờ !<br />
<br />
Thanh-Nhiên nghe Vương Phúc nói, tâm thần rung động, nhìn vợ rồi hỏi :<br />
<br />
– Tướng chỉ huy đạo Lĩnh-nam có đủ quyền lực cho tôi làm thứ-sử không ?<br />
<br />
Vương Phúc cười :<br />
<br />
– Tướng chỉ huy đạo này là một nhân vật lỗi lạc, Lĩnh-nam vương là anh rể của người. Phó tướng đạo Lĩnh-nam chính là vương-phi Lĩnh-nam vương. Chắc ngươi có nghe nói ?<br />
<br />
Trần Thanh-Nhiên gật đầu :<br />
<br />
– Tôi nghe Nghiêm Sơn lấy một người con gái Việt đẹp hơn Tây Thi, võ công cao cường đấu võ với vương-gia ngang tay. Nghiêm rất kính nể bà vợ này có đúng không ?<br />
<br />
Vương Phúc gật đầu :<br />
<br />
– Ngươi nói đúng đấy. Đào nguyên-soái không ham công danh. Người chỉ vì tình chị gái giúp Lĩnh-nam vương mà thôi. Ngươi thấy đó, cứ đánh đến đâu Đào nguên soái cử đô-úy, huyện-úy, huyện-lệnh, thái-thú cả thứ-sử nữa. Ta cùng người đấu chưởng hẹn rằng nếu ta thua thì phải đầu hàng. Quả nhiên ta thua, người cùng ta kết nghĩa anh em, bằng hữu rất tương đắc.<br />
<br />
Thanh-Nhiên sai người đưa Vương Phúc vào phòng giam, rồi bàn với vợ và em :<br />
<br />
– Phu nhân ! Hiền đệ nghĩ thế nào ?.<br />
<br />
Thanh-Triết hiện là đô-úy Mỹ-cơ, y biết chức vị của anh là do chị dâu tạo nên, do vậy y nói lảng :<br />
<br />
– Đại-ca nên hỏi tẩu tẩu thì hơn.<br />
<br />
Vợ Nhiên là người khôn ngoan, thị nghĩ :<br />
<br />
– Địa vị của Nhiên là do ta tạo ra, địa vị đó có vững hay không cũng do ta. Bây giờ về hàng Hán, y coi như địa vị đó do y. Y sẽ chẳng ngần ngại gì mà bỏ ta, lấy vợ khác. Ta phải cản trở mới được.<br />
<br />
Nghĩ vậy, thị nói :<br />
<br />
– Em nghĩ không nên hàng. Tướng quân bắt được Vương Phúc đem giải về cho hoàng-thượng. Hoàng-thượng tất thăng chức cho tướng-quân.Việc gì đi hàng Hán, trong khi tướng quân không có thực tài, họ sẽ không ngần ngại gì mà không giết chết tướng quân.<br />
<br />
Trần Thanh-Nhiên bị vợ điều khiển đã quen, y không dám trái ý. Y bàn :<br />
<br />
– Bây giờ thế này. Ngày mai phu nhân đến Hán-nguyên triều kiến hoàng-thượng, tâu rằng nếu chúng ta giết được Vương Phúc sẽ được thưởng gì ? Nếu ngài đồng ý giết, ta chặt đầu y đem nộp. Còn ngài chần chừ ta sẽ đầu hàng Hán, như vậy là xong.<br />
<br />
Bàn luận một lúc vợ chồng đi ngủ. Trần Quốc chờ cho chúng ngủ say, nàng mới mò đến căn nhà giam Đào Kỳ. Phía ngoài có hai tên quân cầm đao đi đi lại lại canh phòng. Nàng thản nhiên bước tới, tên quân canh cầm đuốc soi, tưởng nàng là tỳ nữ của thái-thú.<br />
<br />
– Cô nương ! Cô nương tới đây có việc gì ?<br />
<br />
Trần Quốc cố nói theo giọng Thục :<br />
<br />
– Phu nhân dặn tôi nói với hai anh coi chững tội nhân tự tử. Nếu tội nhân tự tử hai anh sẽ bị chết chém.<br />
<br />
Hai tên quân canh nhìn nhau :<br />
<br />
– Ta vào trong xem sao.<br />
<br />
Một tên đứng ngoài, một tên đi cùng Trần Quốc mở cửa bước vào nhà giam. Dưới ánh đuốc, Đào Kỳ, Vương Phúc bị trói cả chân lẫn tay nằm đó.<br />
<br />
Nàng khép cửa lại bảo tên quân canh :<br />
<br />
– Anh coi chừng chúng có cắn lưỡi chết không ?<br />
<br />
Đào Kỳ nghe tiếng Trần Quốc mừng lắm, mở mắt nhìn. Tên quân canh cúi xuống kéo môi Vương Phúc coi. Trần Quốc rút dao đâm một nhát trúng tim. Y nghẹo cổ ra sau, nằm trợn mắt, nàng vội chụp lấy bó đuốc, tay cắt dây trói cho Đào Kỳ và Vương Phúc.<br />
<br />
Đào Kỳ mừng lắm :<br />
<br />
– Sư muội làm thế nào mà người vào được đây ?<br />
<br />
Trần Quốc chỉ tay ra ngoài. Hai người mở hé cửa. Nàng lia dao một cái, tên quân canh đã bị giết chết tươi. Vương Phúc nói :<br />
<br />
– Chúng ta mau đi uy hiếp Trần Thanh-Nhiên.<br />
<br />
Ba người theo lối sau, lén vào phòng ngủ vợ chồng Thanh-Nhiên. Đào Kỳ vận âm kình đẩy mạnh một cái, cánh cửa mở tung ba người đã lọt vào phòng. Trong phòng hãy còn đèn. Vương Phúc nhảy đến dí dao vào cổ Thanh-Nhiên. Trần Quốc dí dao vào cổ vợ y. Đào Kỳ nói:<br />
<br />
– Nếu các ngươi la một tiếng, ta giết ngay lập tức.<br />
<br />
Trần Quốc đóng cửa lại. Đào Kỳ nói:<br />
<br />
– Ta là Nguyên-soái Đào Kỳ đây. Bây giờ nếu người đầu hàng, ta hứa sẽ cho người làm thái-thú như cũ. Người nghĩ sao?<br />
<br />
Trần Thanh-Nhiên nhìn vợ rồi nói:<br />
<br />
–Tôi xin quy phục.<br />
<br />
Đào Kỳ bảo y :<br />
<br />
– Bây giờ chúng ta mặc giả làm quân sĩ. Ngươi hãy lấy ngựa đi cùng ta rời khỏi đây 20 dặm, sau đó ta cho người trở về. Khi ta đem quân đến, ngươi phải mở cửa đầu hàng, nếu không thì đừng trách ta.<br />
<br />
Thanh-Nhiên sai lấy quần áo lính Thục cho ba người mặc, cùng vợ lên ngựa đi. Qua cổng thành, viên quan giữ cổng hỏi :<br />
<br />
– Thái-thú đi đâu giữa đêm khuya vậy ?<br />
<br />
Trần Thanh-Nhiên nghiêm nghị :<br />
<br />
– Ta đi dọ thám quân tình.<br />
<br />
Năm người ra khỏi cổng thành được trên 20 dặm. Đào Kỳ vận sức vào tay, phát chiêu Thiết kình phi chưởng cực kỳ mãnh liệt, đánh vào một cây lớn. Rầm một tiếng cây này đổ xuống. Thanh-Nhiên khủng khiếp đứng run run.<br />
<br />
 Đào Kỳ nói :<br />
<br />
– Trần Thái-thú, ta nói một là một, hai là hai. Ngày mai ta đem quân đánh thành Việt-tây. Người giả bộ đem quân đi cứu viện, rồi thừa dịp vào thành, đêm mở cửa cho chúng ta vào, thì ta để cho người làm thứ-sử Hán-nguyên. Thôi thái-thú về đi.<br />
<br />
Ba người phi ngựa trở về tới Tây-xương thì trời vừa sáng. Nam-hải nữ hiệp cùng Thiều-Hoa ra đón vào hỏi :<br />
<br />
– Sự thể ra thế nào ?<br />
<br />
Đào Kỳ tường thuật mọi việc.<br />
<br />
Đào Hiển-Hiệu nói :<br />
<br />
– Tam ca, em có lời muốn thưa với Tam-ca.<br />
<br />
Đào Kỳ gật đầu :<br />
<br />
– Em cứ nói.<br />
<br />
– Tam ca được Nghiêm đại ca ủy nhiệm thống lĩnh 30 vạn hùng binh Lĩnh-nam, cầm vận mệnh mấy triệu dân chúng. Trọng trách không nhỏ. Trung-tín hầu Vũ Bão-Trung đã dạy :<br />
<br />
« Đạo làm tướng, không làm cái gì. Không cái gì mà không làm được ».<br />
<br />
Có nghĩa rằng bất cứ cái gì người dưới làm được thì ủy nhiệm họ, hầu họ có dịp lập công. Nhưng cái gì cũng phải biết, phải hiểu, phải trách nhiệm đó là cái gì cũng làm. Đi thám sát Mỹ-cơ, thì Tam-ca sai bất cứ một tham-tướng nào mà không được ? Việc gì Tam-ca phải đem thân vạn thặng vào chỗ nguy hiểm? Nếu không có Giao-long nữ cứu, Tam-ca bị hại, đạo Lĩnh-nam sẽ ra sao ?<br />
<br />
Đào Kỳ đứng dậy chắp tạ lỗi :<br />
<br />
– Anh biết lỗi, từ nay không mạo hiểm nữa. Cảm ơn em.<br />
<br />
Thiều-Hoa nói:<br />
<br />
– Chắc Thanh-Nhiên không đầu hàng đâu. Có khi y mưu hại chúng ta cũng nên. Cần phải cẩn thận mới được.<br />
<br />
Đào Kỳ nhìn Vương Phúc cười. Vương Phúc nói:<br />
<br />
– Vương-phi đừng lo, chúng tôi có kế đánh Việt-tây rồi.<br />
<br />
Sáng hôm sau Đào Kỳ thăng trướng truyền lệnh:<br />
<br />
– Sư huynh Nguyễn Nhân lĩnh một vạn binh tiến đánh cửa Bắc. Sư huynh Nguyễn Nghĩa dẫn một vạn binh tiến đánh cửa Tây. Sư huynh Nguyễn Lễ lĩnh một vạn binh tiến đánh cửa Nam. Sư tỷ Hoàng Thiều-Hoa lĩnh một vạn binh đánh cửa Đông. Sư bá Nam-hải tổng chỉ huy công thành. Xin sư bá đánh cầm chừng, không cần cố chiếm thành, mục đích nhử cho Trần Thanh-Nhiên đến ứng chiến. Sư tỷ Nguyễn Giao-Chi, sư muội Trần Quốc lĩnh một vạn kỵ binh phục ở rừng Chiêu-giác. Cả hai đặt dưới quyền điều khiển của sư huynh Vương Lộc, án binh tại đây. Nếu thấy binh Mỹ-cơ đến cứu Việt-tây để cho đi qua, rồi tốc thẳng chiếm Mỹ-cơ, tuyệt đường về của chúng. Còn thấy Mỹ-cơ kéo cờ Hán, cứ vào thành an dân. Sư huynh Nguyễn Tín, Nguyễn Nghĩa mỗi người lĩnh một vạn quân phục ở Ly-ty phòng quân Hán-nguyên tiếp cứu Việt-tây.<br />
<br />
Sáng hôm sau các đội binh phát pháo đánh Việt-tây. Quân trên thành bắn tên xuống như mưa. Bên dưới bắc thang leo lên. Bên trên lăn gỗ đá xuống. Đánh đến chiều Nam-Hải nữ hiệp cho ngưng chiến nghỉ. Sáng hôm sau lại đánh tiếp. Đánh đến ngày thứ tư, khoảng trưa có thám mã báo:<br />
<br />
– Đạo quân Mỹ-cơ kéo cờ Thục đến cứu Việt-tây.<br />
<br />
Trên thành phát pháo mở toang bốn cửa ra giáp chiến. Nam-hải cho lệnh lui quân lại dàn trận. Hoàng Thiều-Hoa lui quân về phía cửa Nam. Thế là đạo quân Mỹ-cơ liên lạc được với đạo quân Việt-tây. Hai bên dàn trận dưới chân thành.<br />
<br />
Phan Hào đứng trước ngựa, bên trái là Thanh-Nhiên, bên phải là Thanh-Triết, giáp sĩ đao thương sáng ngời.<br />
<br />
Phan Hào chỉ roi sang trận Hán:<br />
<br />
– Mời Bình-nam vương ra nói chuyện.<br />
<br />
Vương Phúc phi ngựa ra đứng trước trận hỏi:<br />
<br />
– Phò-mã Phan Hào, ngươi có gì muốn nói với ta?<br />
<br />
Phan Hào cầm roi ngựa chỉ Vương Phúc nói:<br />
<br />
– Vương Phúc! Khi phụ thân ngươi mất tích, hoàng-thượng thương tình côi cút đem ngươi về nuôi dưỡng, tin dùng, phong cho ngươi đến Bình-nam vương, thế mà ngươi nỡ lòng nào phản hoàng-thượng?<br />
<br />
Vương Phúc nói lớn:<br />
<br />
– Công-tôn Thuật với phụ thân ta là chỗ sư huynh, sư đệ. Khi phụ thân ta làm đại nguyên-soái cho Ngỗi Hiêu, Công-tôn Thuật cử Triệu Khuôn mang binh sang cứu, thừa cơ đoạt đất, chiếm thành, thân phụ ta bị giết chết. Thù không trả, không được. Vì vậy ta hàng Hán. Ngươi hẳn nghe câu: Kẻ thù của kẻ thù là bạn ta.<br />
<br />
Phan Hào vọt ngựa lên hỏi:<br />
<br />
– Vương Phúc, ngươi có dám đơn đấu cùng ta không?<br />
<br />
Vương Phúc cười:<br />
<br />
– Đã là anh hùng trong thiên hạ, ta há sợ ngươi sao?<br />
<br />
Nói rồi chàng nhảy xuống đất. Phan Hào cũng nhảy xuống ngựa. Y vẫy tay cho quân lính lui lại, rồi rút kiếm đâm Vương Phúc. Vương Phúc không đỡ né mình tránh khỏi, rồi trả đòn. Đào Kỳ đứng nhìn thấy kiếm pháp hai người cùng môn hộ, cương nhu hợp nhất không có chỗ nào sơ hở. Bất giác chàng nghĩ thầm:<br />
<br />
– Đất Thục nhiều nhân tài như thế này, hèn chi Công-tôn Thuật không chống lại Hán-đế. Cũng may y hại cha Vương Phúc, nếu không làm sao mình chiếm được bốn thành nhanh như vậy.<br />
<br />
Hai người đấu với nhau trên trăm hiệp không phân thắng bại. Hoàng Thiều-Hoa quan sát rồi nói:<br />
<br />
– Về kiếm pháp ta e cả hai người đều hơn ta nhiều, nhưng chưởng pháp thì họ còn kém ta.<br />
<br />
Đào Kỳ ghé tai Thiều-Hoa, Nam-hải nữ hiệp nói mấy câu, rồi chàng phất cờ một cái. Quân Hán tràn sang như nước vỡ bờ. Hai bên đánh nhau mù trời, đến chiều thì mới thu quân.<br />
<br />
Hoàng Thiều-Hoa bảo Đào Kỳ:<br />
<br />
– Ta lượng đâu có sai, Trần Thanh-Nhiên quả không chịu hàng mà.<br />
<br />
Đào Kỳ nói:<br />
<br />
– Ta đợi hết đêm nay xem sao.<br />
<br />
Quả nhiên canh ba, trong thành lửa bốc lên đỏ rực, nhiều tiếng la hét. Bốn cửa thành mở toang. Thanh-Triết, Thanh-Nhiên đứng trên cổng thành vẫy quân Hán vào.<br />
<br />
Đào Kỳ cười:<br />
<br />
– Thằng Thanh-Nhiên giả hàng, dụ ta vào trong thành, phục cung nỏ hại ta đây. Được ta sẽ tương kế tựu kế cho chúng bây biết tay.<br />
<br />
Đào Kỳ đi đầu, dẫn quân vào trong thành. Phía sau là Nam-hải nữ-hiệp, Vương Phúc. Vừa vào trong thành, thì cổng đóng lại. Cung thủ hai bên bắn ra như mưa. Đào Kỳ quát một tiếng, rút kiếm múa như mây bay, như gió cuốn. Nhấp nhô mấy cái chàng cũng bắt được Trần Thanh-Nhiên, Vương Phúc đã bắt được Trần Thành-Triết.<br />
<br />
Nam-hải nữ hiệp đánh quật lại cùng Hoàng Thiều-Hoa đẩy lui quân giữ thành, mở tung cửa ải ra, quân Hán tràn vào như nước, hai bên đánh nhau rối loạn trong đêm. Đào Kỳ đang tả xung hữu đột, được tin báo: “Thành Việt-tây mở tung ba cửa, xua quân ra cướp trại Hán. Tình hình rất nguy ngập”.<br />
<br />
Đào Kỳ quát:<br />
<br />
– Dù gì cũng phải chiếm được thành ai lui thì chém.<br />
<br />
Quân Hán không dám lui lăn xả vào đánh. Đi đầu là Đào Kỳ, Thiều-Hoa, Nam-hải nữ hiệp, Vương Phúc. Bốn ngươi đi đến đâu bên giặc giạt ra đến đấy. Phan Hào vung chưởng đánh vào đỉnh đầu Nam-hải nữ hiệp. Bà vung chưởng đánh xéo vào hông y. Y vội đổi hướng vòng tay xuống dưới đỡ chưởng của bà. Hai chưởng gặp nhau, y cảm tưởng như đánh vào bị bông, kình lực mất tăm mất tích. Nam-hải nữ hiệp vỗ lưng ngựa một cái, con ngựa cất hai vó trước chồm đến trước mặt Phan Hào. Phan Hào ngơ ngác tự hỏi:<br />
<br />
– Trên đời sao có lối cỡi ngưạ kỳ lạ thế này? Hai bên đấu chưởng mà ngựa cất vó lên có khác nào tự tử không?<br />
<br />
Y phát một chiêu mạnh như núi lở, đánh vào bụng ngựa của bà. Nam-hải nữ hiệp là đệ nhất cao nhân của phái Sài-sơn. Tổ sư phái Sài-sơn là Phù-đổng Thiên-vương nổi danh về tài kỵ mã. Cho nên đệ tử phái này đều có thuật kỵ mã siêu việt. Bà đạp chân vọt người lên cao, hai chân biến thành móc câu chụp vào đầu Phan Hào. Y kinh hoàng bật hai tay lên đỡ câu của bà, thì con ngựa của y đã bị ngựa của bà đặt hai chân trước lên vai. Con ngựa của Phan Hào hí lên một tiếng đau đớn, ngã chúi đầu xuống đất. Phan Hào vọt khỏi mình ngựa, đáp xuống, y thấy cổ đau nhói. Biết gặp nguy hiểm, y lộn người ra sao lăn đi một vòng rồi đứng dậy, thì Nam-hải nữ-hiệp đã đứng trước mặt kiếm chỉ vào cổ.<br />
<br />
Phan Hào biết đối thủ không muốn giết mình, chứ nếu muốn thì y đã chết rồi. Y buông đao nói:<br />
<br />
– Ta giận vì học nghệ không tinh, bị thua ngươi. Ngươi giết ta đi, ta không oán hận gì cả.<br />
<br />
Nam-hải nữ hiệp thấy y hào sảng, bà thu kiếm về nói:<br />
<br />
– Phan tướng-quân hồi ta bằng tuổi người, võ công ta thua người xa. Thôi ngươi về đi. Người còn trẻ mà tài đã sớm trổ, giết đi thật uổng.<br />
<br />
Phan Hào nhặt kiếm, phóng vào đêm tối. Đào Kỳ chiếm được thành, leo lên dịch lâu coi. Doanh trại Hán lửa ngút trời. Trong bốn trại, một trại bị quân Thục tràn ngập. Còn ba trại đang giao chiến ác liệt. Chàng nói với Nam-hải nữ hiệp:<br />
<br />
– Xin sư bá ở lại giữ thành. Chúng cháu tiếp cứu trại mình.<br />
<br />
Đào Kỳ, Thiều-Hoa, Vương Phúc mở cổng thành dẫn thiết kỵ xung vào trận. Trại đầu tiên do Đào Hiển-Hiệu chỉ huy. Chàng đứng trên cao đốc chiến. Quân Thục đã đến hàng rào thứ nhì mà không tiến được nữa. Tướng Thục thấy Hán có viện binh, thì lui trở lại, hàng ngũ chỉnh tề chạy về phía Đông. Đào Kỳ sang cứu trại thứ nhì, trại này do Nguyễn Nhân chỉ huy mặt Nam, Nguyễn Nghĩa chỉ huy mặt Bắc. Chàng chưa kịp nhảy vào vòng chiến, thì Phan Hào xuất hiện. Y ra lệnh lui quân. Trước khi lên ngựa y hướng về Nam-hải nữ hiệp nói :<br />
<br />
– Xin hẹn ngày tái ngộ.<br />
<br />
Bây giờ trời đã sáng Vương Phúc bảo Phan Hào :<br />
<br />
– Phan phò mã, để ta tiễn người về Hán-nguyên, nếu không phục binh không cho người đi đâu.<br />
<br />
Phan Hào điểm lại quân còn không đầy một vạn, phần lớn bị thương. Y dẫn binh đi theo Vương Phúc.<br />
<br />
Quả nhiên đến Ly-ty thấy phục binh của Nguyễn Tín, Nguyễn Nghĩa phục ở đây. Vương Phúc chắp tay nói :<br />
<br />
– Phan Hào chùng ta là con một nhà, ngươi là rể, ta là con nuôi, mà cũng là kẻ thù của Công-tôn Thuật, vì vậy chúng ta đi hai đường. Hôm nay tiễn ngươi đi hẹn một mai gặp lại.<br />
<br />
Đào Kỳ kiểm điểm lại binh mã, thấy hao hết hai vạn, ba sư trưởng và mười bốn lữ trưởng tử thương. Số bị thương gần hai vạn. Chàng lo lắng nói :<br />
<br />
– Ta có 15 vạn quân mang từ Lĩnh-nam, trong các trận trước chỉ chết có mấy trăm người, không ngờ trận này mất hai vạn, bị thương hai vạn chỉ còn mười vạn, với bốn vạn hàng binh, làm sao vào Thành-đô được ?<br />
<br />
Đào Hiển-Hiệu thấy anh buồn, an ủi :<br />
<br />
– Trước khi xuất binh, Trưng Nhị, Phương-Dung, Vĩnh-Hoa cùng Nghiêm Sơn đã tính rằng giặc thủ, ta công, thì giặc mất một ta mất hai. Thế mà từ hôm đánh Độ-khẩu tới giờ, quân anh em Vương Phúc đầu hàng trước sau có năm vạn, quân Phan Hào chết hơn năm vạn nữa, như vậy là họ hao hết 9 vạn. Đàng lẽ ta phải mất 18 vạn, mà nay mới mất có hai vạn là đại thắng rồi. Tam ca mau viết thư về hậu cứ cho sư thúc Lương Hồng-Châu bổ sung kịp thời.<br />
<br />
 Hoàng Thiều-Hoa cũng nói :<br />
<br />
– Nhiệm vụ của chúng ta là chiếm Độ-khẩu, rồi án binh, mục đích làm náo động Ích-châu. Thế mà nay ta chiếm trước sau hơn bảy thành là quá sức rồi. Bây giờ nên án binh giữ quân chờ các đạo kia vào Thành-đô. Nếu chúng ta đánh gấp quá, Công-tôn Thuật đem đại quân đến đây, chúng ta nguy mất. Không biết hiện giờ Đinh Công-Thắng đã tiến đến đâu rồi ? Ta cần chờ tin tức đạo Kim-sơn đã.<br />
<br />
Chiều hôm đó có tin Trần Quốc báo về, đã chiếm xong Mỹ-cơ, xin cử người trấn nhậm.<br />
<br />
Đào Kỳ nói với Vương Phúc :<br />
<br />
– Vương hiền đệ, em ở đây lâu biết người nhiều, vậy em tuyển lấy những người cũ dưới quyền chỉ định thái-thú, huyện-lệnh, huyện-úy, an dân giùm ta.<br />
<br />
Vương Phúc cảm động vì Đào Kỳ mới kết nghĩa đã tin tưởng mình. Chàng khẳng khái lên đường đi Mỹ-cơ ngay.<br />
<br />
Chiều hôm đó Trần Quốc, Nguyễn Giao-Chi, vương Phúc trở về. Đào Kỳ thấy gương mặt Trần Quốc như có gì khác lạ mà chàng đoán không ra. Tay nàng cầm một khúc gỗ tươi trên có cụm phong lan trắng nở thơm ngát.<br />
<br />
Hoàng Thiều-Hoa hỏi :<br />
<br />
– Sư muội đi đánh giặc mà cũng có thì giờ cắt lan rừng chơi à ?<br />
<br />
Trần Quốc cuối đầu ngượng ngùng. Giao-Chi nói:<br />
<br />
– Vương đại-ca cắt tặng Giao-long nữ đấy chứ. Vương đại-ca bảo đó là lan Khương-thị. Hoa chỉ nở vào mùa Đông mà thôi.<br />
<br />
Liếc mắt, Thiều-Hoa đoán được cái gì đã xảy ra. Từ hôm đầu hàng tới giờ, gần như lúc nào Vương Phúc, Trần Quốc cũng ở cạnh nhau, khắng khít như đôi chim. Nàng biết mối tình chớm nở trong lòng hai người. Nàng hỏi:<br />
<br />
– Vương đệ! Lan Khương-thị là gì vậy?<br />
<br />
Vương Phúc kể:<br />
<br />
– Nguyên đời Tần Thủy Hoàng xua dân làm Vạn-lý trường-thành, người chết không biết bao nhiêu mà kể. Bấy giờ có một cặp vợ chồng trẻ mới cưới. Chồng bị bắt đi dân công. Vợ là Khương-thị ở nhà chờ đã 5 năm. Nàng bỏ nhà lên ải Bắc tìm chồng. Nàng đi suốt một giải thành tuyết phủ vạn dặm, đi từ trại này sang trại khác, không thấy chồng đâu. Khi đến một hòn núi cao, bão tuyết mịt mù. Nàng bưng mặt khóc như mưa bão, thì núi tuyết rung động mãnh liệt rồi lở xuống. Trong khe núi đầy tuyết không biết bao nhiêu xác chết mà kể. Nàng lật từng xác chết. Xác nào cũng đóng băng cứng như đá. Quá uất hận nàng hát bài Hùng trĩ, giọng điệu thê lương. Tiếng hát dứt thì một xác chết ứa máu ra ở miệng. Nàng đến coi, thì ra là xác chồng. Nàng ôm chồng khóc thê thảm. Uất khí bốc lên, tuyết lại lở xuống. Chôn nàng với chồng trong lòng núi.<br />
<br />
Chàng ngừng một lát lại tiếp:<br />
<br />
– Từ ngày ấy, về mùa Đông, cứ ngày tuyết lạnh nhất trong năm, thì trên những cành cao, cành nào hướng về phía Bắc đều mọc một thứ phong lan, hoa nở trắng rất đẹp và thơm. Người ta gọi loại phong lan đó là Lan Khương-thị.<br />
<br />
Vương Phúc tiếp:<br />
<br />
– Tiểu đệ kể chuyện tình Khương-thị đó cho Trần cô nương nghe. Trần cô nương đã sáng tác ngay bản tiêu, tên là Truyện tình Khương-thị.<br />
<br />
Nam-hải nữ hiệp là đại sư-bá của Trần Quốc, bà cũng như các Thái-bảo Sài-sơn đều thông âm nhạc, nghe Phúc kệ bà hỏi:<br />
<br />
– Trần sư điệt con đưa bản nhạc cho sư-bá coi nào?<br />
<br />
Trần Quốc bẽn lẽn, hai tay cung kính đưa bản nhạc lên. Nam-hải nữ hiệp cầm ống tiêu thổi. Tiếng nhạc thì thầm hiu hắt khi bổng khi trầm, khi thủ thỉ như cặp tình nhân mới yêu nhau, khi thê lương ảm đạm như thiếu phụ phòng không, khi thì mịt mờ như Khương-thị đang đứng trước cảnh gió tuyết của Trường-thành.<br />
<br />
Khúc nhạc dứt, mà mọi người còn cảm thấy như dư thoang thoảng bên tai. Nam-hải đưa trả khúc nhạc cho Trần Quốc:<br />
<br />
– Cháu diễn tả được hết câu chuyện tình Khương-thị, nhưng bản nhạc cũng như câu truyện buồn quá.<br />
<br />
Đào Kỳ hỏi:<br />
<br />
– Vương hiền đệ! Hiền đệ có biết bản Hùng trĩ mà Khương-thị hát trên đường tìm chồng không?. Bài hát này có liên quan gì đến bài thơ Hùng trĩ  trong phần Quốc-phong Kinh-Thi không?<br />
<br />
Vương Phúc nhìn Đào Kỳ, suy nghĩ trong lòng:<br />
<br />
– Đào đại-ca chỉ hơn ta mấy tuổi là cùng. Võ công vô địch là vì võ công Lĩnh-nam tuyệt thế. Còn Kinh-thi là văn học của Trung-nguyên, sao đại-ca cũng thông thạo như một văn nhân?<br />
<br />
Chàng đáp:<br />
<br />
– Đúng đấy! Nàng lấy bài Hùng trĩ  trong Kinh-thi phổ thành nhạc. Khúc nhạc lưu truyền khắp Trung-nguyên. Tiểu đệ sao lại, giữ bên mình. Nay nhân tiện có sư-bá Nam-hải, mong người không tiếc công chỉ điểm cho.<br />
<br />
Đoạn chàng lấy bản nhạc, hai tay cung kính đệ lên trước mặt Nam-hải nữ hiệp. Nam-hải vẫy tay gọi Trần Quốc, Giao-Chi:<br />
<br />
– Cháu gái lại đây, cùng coi.<br />
<br />
Ba người xuất thần, coi một lượt. Bà nói:<br />
<br />
– Khúc hát thật tuyệt, ta e người soạn bản này tài không thua gì Trương Chi, Tiêu Sử, Tư mã Tương-Như. Nào bây giờ tiếng hát Giao-Chi ngọt ngào, êm nhe,ï giọng cao vút, cháu ca lần đầu. Tiếp theo giọng Trần Quốc trầm ấm, cháu ca lần thứ nhì. Ta đánh đàn bầu, Giao-Chi kéo nhị, Trần Quốc đánh sênh. Nguyễn Nhân đánh trống cơm, Nguyễn Nghĩa đánh đàn nguyệt, Nguyễn Lễ đánh đàn kìm, Nguyễn Trí, Nguyễn Tín thổi tiêu. Còn Vương Phúc cháu tấu đàn tỳ-bà được không? Chúng ta thử hòa hợp nhạc khí Lĩnh-nam với Trung-nguyên xem có hay không?<br />
<br />
Các tướng là những người cầm gươm lên ngựa, đánh dư trăm trận, bây giữa trướng Chinh-viễn đại-tướng quân bày ra cuộc tấu nhạc. Tự tiền cổ chưa bao giờ họ nghe nói tới.<br />
<br />
Trần Quốc đánh sênh, coi như người điều khiển, nàng xuống tay trước. Một loạt các âm thanh đồng cất lên. Tiếng tiêu của Nguyễn Trí cộng Nguyễn Tín, pha lẫn nội lực, bốc lên cao vút, truyền đi rất xa. Tiếng đàn tỳ-bà nỉ non, ai oán, hòa với tiếng đàn Bầu kéo dài, âm thanh rung động không gian, làm não lòng người nghe.Tiếng đàn nguyệt, đàn kìm ngân, hòa tiếng nỉ non của tiếng nhị như khóc như thương.<br />
<br />
Âm thanh hòa được một lần thì Giao-Chi cất tiếng hát. Nàng là người có hoa tay, nấu ăn nức tiếng, giọng ca của nàng êm nhẹ, mà cao vút, ai cũng tưởng sẽ tắc, mà nàng lướt qua dễ dàng.<br />
<br />
<i>Hùng trĩ vu phi,<br />
Duệ duệ kỳ vũ,<br />
Ngã chi hoài hĩ,<br />
Tự di y trở.<br />
<br />
<br />
Hùng trĩ vu phi,<br />
Hạ thượng kỳ âm,<br />
Triển hỹ quân tử,<br />
Thực lao ngã tâm.</i><br />
<br />
Lối tấu nhạc thời Lĩnh-nam, cứ sau một khúc thì ngưng hát, nhạc sĩ tiếp tục tấu nhạc thêm ba lần nữa, rồi mới hát khúc tiếp theo. Lợi dụng khoảng trống Đào Kỳ giảng cho Hoàng Thiều-Hoa nghe. Đoạn này ý nói :<br />
<br />
<i>Con chim Trĩ trống bay về phương xa,<br />
<br />
Đập cánh phành phạch trên cánh đồng,<br />
Em nhớ anh, lòng ẩn ức không nguôi,<br />
Mối sầu càng dập, càng nồng.<br />
<br />
Con chim trống bay về phương xa,<br />
<br />
Tiếng hót bi thương khi cao, khi thấp,<br />
Lòng em thương nhớ anh dài miên miên vô tận,<br />
Nhớ nhớ, thương thương, lòng quặn đau.<br />
</i><br />
Giao-Chi lại cất tiếng ca:<br />
<br />
<i>Chiêm bỉ nhật nguyệt,<br />
Du du ngã tư,<br />
Đạo chi vân viễn,<br />
Yết vận năng lai.<br />
Bách nhĩ quân tử,<br />
Bất tri đức hạnh,<br />
Bất ký bất cầu,<br />
Hà dụng bất tang.</i><br />
<br />
Đào Kỳ lại giảng :<br />
<br />
<i>Nhớ anh, em lại nhìn lên mặt trời, mặt trăng,<br />
Ruột đứt từng khúc, máu rướm trong tim,<br />
Nghìn trùng xa cách núi non ngăn trở,<br />
Biết bao giờ anh lại về bên em.<br />
Trên cao bạo chúa cai trị nào hiểu,<br />
Sao không biết tu sửa đức hạnh,<br />
Đau lòng, nhưng ta vẫn không thù, không oán ghét ai,<br />
Sao ngươi không biết thuận với lòng dân.<br />
</i><br />
<br />
<i>Ghi chú<br />
<br />
Bản dịch của Kim Y Phạm Lệ Oanh.<br />
<br />
    Trĩ kia bay liệng tung trời,<br />
    Cất cao đôi cánh khoan thai nhẹ nhàng.<br />
    Hỡi người lòng thiếp vấn vương,<br />
    Vì đâu nỡ để Sâm, Thương cách vời.<br />
    Kìa trông con trĩ bay hoài,<br />
    Bổng trầm cất tiếng khoan thai hữu tình.<br />
    Hỡi người quân tử chân thành,<br />
    Lòng em gửi gấm bao tình nhớ thương.<br />
    Kìa xem ngày tháng ruổi mau,<br />
    Lòng ta dằng dặc mối sầu tương tư.<br />
    Đường xa thăm thẳm mịt mù,<br />
    Bao giờ trở lại quê xưa hởi chàng?<br />
    Những người quân tử xưa nay,<br />
    Ai không biết giữ thẳng ngay làm đầu?<br />
    Chẳng ghen ghét, chẳng tham cầu,<br />
    Hẳn là sẽ gặp nhiều câu tốt lành.<br />
<br />
(Thi Kinh Quốc Phong, bản dịch của Kim Y Phạm Lệ Oanh, Q1, trg.115-118, Cành-nam Hoa-kỳ xb.)<br />
</i><br />
Giao-Chi ca xong lần đầu, thì Trần Quốc ca lần thứ nhì. Tiếng Trần Quốc trầm ấm, đôi khi lanh lảnh vang đi rất xa. Nàng dứt tiếng hát, thì tiếng tấu nhạc cũng ngừng.<br />
<br />
Các tướng sĩ cùng vỗ tay vang dội. Nam-hải nữ hiệp đọc được nét buồn trên mặt Thiều-Hoa, Đào Kỳ, Đào Hiển-Hiệu. Bà biết bọn trẻ từ Lĩnh-nam sang Bắc viện, tuy họ giữ chức đại tướng-quân, võ công cao cường, nhưng bản chất vẫn là thiếu niên. Quan sơn cách trở, hàn huyên không đạt được, họ bị tiếng nhạc, tiếng ca gợi lại nhớ thương. Thiều-Hoa nghĩ lại những buổi chiều cùng Nghiêm Sơn thả thuyền trên sông Hồng-hà ngắm mặt trời lặn. Đào Kỳ nghĩ đến Phương-Dung trên đường từ Lục-hải về Long-biên. Còn Đào Hiển-Hiệu thì nhớ đến nét mặt thanh tú, vẻ đẹp huyền ảo như có như không của Đinh Hồng-Thanh.<br />
<br />
Trần Quốc phá tan bầu không khí tịch mịch của ba người. Nàng nói với Vương Phúc :<br />
<br />
– Vương đại-ca, đại ca cho phép muội sao bản nhạc này được không ?<br />
<br />
Vương Phúc hai tay nâng lên ngang mày :<br />
<br />
– Của quý dành tặng quý nhân. Trần cô nương, Vương Phúc tôi kính tặng cô nương, khúc nhạc này.<br />
<br />
Hết Hồi 44</div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://tvvn.org/forum/forumdisplay.php?f=135">Fiction</category>
			<dc:creator>Phượng Hoàng 7</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3922</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Động Đình Hồ Ngoại Sử - Quyển I - Hồi 43 - Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ</title>
			<link>http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3921&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Thu, 19 Nov 2009 21:55:57 GMT</pubDate>
			<description>HỒI THỨ BỐN MƯƠI BA 
 
Cái Bóng Của PHÙ ĐỖNG THIÊN VƯƠNG 
  
 
Trưng Nhị bảo Hồ Đề : 
 
– Em nhớ lúc nào cũng phải duy trì đội Thần-phong bảo vệ cho...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><b>HỒI THỨ BỐN MƯƠI BA</b><br />
<br />
<i>Cái Bóng Của PHÙ ĐỖNG THIÊN VƯƠNG</i><br />
 <br />
<br />
Trưng Nhị bảo Hồ Đề :<br />
<br />
– Em nhớ lúc nào cũng phải duy trì đội Thần-phong bảo vệ cho mình và các Sún ở dưới thành. Riêng Sún Lé thì đã có chị bảo vệ.<br />
<br />
Hồ Đề chỉ Sún Lé :<br />
<br />
– Sún Lé có tài leo dây, leo cây còn hơn khỉ, vậy khi sư tỷ leo lên thành, nó cũng leo được như thường, chị khỏi lo cho nó. Cần nhất kiếm cho nó một cây cao, để nó leo lên đó dùng tù-và chỉ huy Thần-ưng. Chị cần đề phòng địch dùng tên bắn mà thôi. Chứ trên đời này ngoài những đệ tử Tây-vu ra, không ai có thể đuổi bắt được nó trên cây.<br />
<br />
Đặng Vũ tuyên bố giải tán. Các tướng lục đục ra đi. Trưng Nhị dẫn Phật-Nguyệt, Hồ Đề cùng các Sún theo quân đến cửa Đông. Chờ đúng canh hai, Trưng Nhị nổ pháo lệnh, quân sĩ các mặt tấn công vào thành. Quân Thục lại dùng tên đá bắn xuống như mưa.<br />
<br />
Trưng Nhị đứng nhìn quân Thục chiến đấu, lòng đầy khâm phục, nói nhỏ với Phật-Nguyệt, Hồ Đề :<br />
<br />
– Các sư muội thấy không, quân Thục chiến đấu dũng cảm vô cùng, trách chi Đặng Vũ, Cảnh Yểm, Tế Tuân và Mã Vũ là những đại tướng, những cao thủ vào sinh ra tử hàng hai chục năm, mà cũng bị thua. Vì sự nghiệp Lĩnh-nam ta phải đánh họ, chứ thực sự trong lòng, ta muốn kết bạn với họ. Đánh họ trong hoàn cảnh này thật đáng buồn.<br />
<br />
Hồ Đề phất tay ra hiệu, Hoàng Long đưa ống tiêu lên miệng thổi, âm thanh nhu hòa vọng đi rất xa. Từ xa có tiếng vù vù, càng lúc nàng gần, rồi một đàn ong bầu đen thui bay đến rợp trời, nhào xuống tấn công quân quân Thục. Quân Thục kinh hoảng ngã lăn trên mặt thành, ôm đầu chạy. Viên tướng trấn thủ hô lớn :<br />
<br />
– Đốt lửa lên !<br />
<br />
Y vừa ra lệnh, vừa vung đao gạt ong, nhưng đoàn Thần-phong đã lọt lưới đao, đốt y. Đao pháp của y bị rối loạn, người y bị hàng trăm ong bầu bu vào. Y nghiến răng chịu đựng chỉ huy sĩ tốt đốt lửa.<br />
<br />
Dưới thành Sún Lé đã chuẩn bị. Thấy quân trên mặt thành rối loạn, nó huýt một tiếng sáo, có năm Thần-ưng ngậm một đầu dây bay lên cao, chúng lượn bốn vòng quanh cây trụ trên mặt thành cho dây quấn chặt vào. Phật-Nguyệt cầm dây giật thử thấy chặt, nàng bám vào đầu dây tung mình leo lên, vèo một cái đã tới mặt thành. Nàng chưa kịp đứng vững, thì một loạt tên hàng trăm mũi từ dưới thành bắn vào nàng. Nàng rút kiếm, ánh thép loang loáng chém đứt loạt tên. Bấy giờ nàng mới nhìn thấy bên dưới, hàng trăm cung thủ núp sau ụ đất hướng lên trên thành. Họ thi nhau bắn, nhưng kiếm pháp của Phật-Nguyệt cực kỳ linh diệu, không mũi tên nào trúng được nàng.<br />
<br />
Nàng gọi lớn :<br />
<br />
– Cho một người chỉ huy Thần-phong lên đây.<br />
<br />
Vừa nói nàng vừa vung kiếm gạt tên. Thấp thoáng, đã thấy một người đứng sau nàng cầm vòi thổi tu tu. Đàn Thần-phong từ trên cao nhào xuống tấn công đám xạ thủ. Chúng ôm đầu chạy tán loạn. Bấy giờ Phật-Nguyệt mới nhìn lại phía sau, thì Hồ Đề, Trưng Nhị, Sún Lé, Hoàng Phong đã lên mặt thành. Hoàng Phong chỉ huy đoàn Thần-phong tấn công đám cung thủ. Bây giờ quân Thục đã đốt lửa lên rồi. Hoàng Phong thổi ống tre cho đoàn Thần-phong trở về.<br />
<br />
Trên mặt thành, Hồ Đề, Trưng Nhị, Hoàng Phong thả dây xuống mặt thành. Bọn dũng sĩ Hán leo lên, rồi họ lại thả dây khác xuống. Chỉ một lát sau hơn một trăm người lên được.<br />
<br />
Quân Thục chiến đấu như một đàn sư tử, dù họ gặp những cao thủ như Phật Nguyệt, Trưng Nhị tấn công.<br />
<br />
Sún Lé vừa lên mặt thành, nó đã nhìn thấy gần chân thành một cây khá cao. Nó quăng sợi dây vào cành cây rồi đu mình sang. Nó còn lơ lửng trên không, một mũi tên xé gió bắn đứt sợi dây. Nó rơi xuống như một quả mít rụng. Vừa xuống đất, một binh Thục lia đao chém vào đầu nó. Nó lăn đi một vòng tránh khỏi. Người đội trưởng nhảy đến ôm lấy nó định bắt sống. Nó kinh hoảng huýt lên tiếng sáo. Lập tức trong cái túi bên hông nó, một con trăn vọt ra quấn lấy viên đội trưởng. Thoát nạn, nó bám lấy cây leo lên cao. Hai binh sĩ Thục chạy đến lia đao chặt chân, thì nó đã lên tới ngọn. Hai tên này tên này định tìm cách leo lên cây giết nó. Nhưng vèo một cái, hai tên cung thủ bị đánh một chưởng bay ngược trở lại, chết ngay tại chỗ. Nó nhìn xuống, thì ra Trưng Nhị phóng chưởng cứu nó. Nó nhe răng cười :<br />
<br />
– Cám ơn sư tỷ.<br />
<br />
Nó leo lên tít trên cao, lấy đá châm vào ngọn đuốc rồi hỏi Trưng Nhị :<br />
<br />
– Sư tỷ, kho lương ở đâu ?<br />
<br />
Trưng Nhị trỏ về phía trước :<br />
<br />
– Chín dẫy nhà kia kìa.<br />
<br />
Sún Lé cầm tù-và thổi, phất ngọn đuốc về phía dẫy nhà kho lương thực. Đoàn Thần-ưng đang bay lượn trên không, hướng về phía đó thả những bó cỏ tẩm dầu xuống. Bên dưới Trưng Nhị tả xung, hữu đột tiến về phía kho lương định đốt. Nhưng quân Thục vây kín như tường đồng vách sắt. Sún Lé ngồi trên ngọn cây tiếp tục chỉ huy Thần-ưng thả cỏ khô. Cỏ đã thả xong rồi nhưng Trưng Nhị, Phật-Nguyệt đang bị vây kín. Kiếm pháp Phật-Nguyệt tinh diệu, nàng đi đến đâu đầu rơi đến đó, nhưng quân Thục không lùi bước. Trưng Nhị chưởng lực cực mạnh, nàng tiến tới đâu, người đổ tới đó. Bỗng vòng vây mở ra, Vũ Chu đã xuất hiện. Y vung chưởng đánh Trưng Nhị. Trưng Nhị biết y là một đại cao thủ bên Thục không dám coi thường vội vận sức đỡ. Trưng Nhị là một đại cao thủ của phái Tản-viên. Nàng chỉ thua có Trần Đại-Sinh, Lê Đạo-Sinh, Đặng Thi-Kế và Nguyễn Thành-Công mà thôi, nên chưởng lực rất mạnh. Bùng một tiếng Vũ Chu khựng lại, y cảm thấy cánh tay tê buốt, còn Trưng Nhị thì khí huyết đảo lộn. Nàng chợt nhớ lời Trần Năng thuật lúc đối chưởng với Vũ Chu. Nàng dùng Phục-ngưu thần chưởng chỉ đấu được có 6 chưởng, sau đó nàng dùng chưởng pháp Cửu-chân thì thắng. Trưng Nhị biết thế, nàng thử vận Phục-ngưu thần chưởng, đánh chiêu thứ nhì, quả nhiên nàng phải lui hai bước, còn Vũ Chu thản nhiên như không. Võ công nàng cao hơn Trần Năng lại nhiều mưu trí, nên chiêu sau chưa phát ra, nàng đã lùi lại nói :<br />
<br />
– Vũ tướng quân là anh hùng vô địch, nhưng Thành-đô bị bao vây, Dương-bình quan, Kiếm-các đã mất, đầu hàng đi thôi.<br />
<br />
Vũ Chu không trả lời vung chưởng đánh nữa. Trưng Nhị vận sức phóng ra một chiêu Phục-ngưu thần chưởng đỡ chưởng của y, lần này nàng lùi đến ba bước, tới bên cạnh Phật-Nguyệt. Phật-Nguyệt vội đâm một nhát kiếm về phía y, y phải lùi lại ba bước mới tránh khỏi kiếm quang. Y vội rút kiếm giao đấu với Phật Nguyệt.<br />
<br />
Sún Lé ngồi trên cây cao thấy Phật-Nguyệt, Trưng Nhị bị vây, nó nghĩ được một kế, bóp miệng hú. Năm Thần-ưng đến đậu quanh nó. Nó lấy đuốc châm vào năm bó cỏ của Thần-ưng rồi chỉ về phía trước. Năm Thần-ưng bay về phía kho lương, thả năm bó cỏ lửa xuống. Phút chốc năm nơi lửa bốc cháy ngun ngút. Sún Lé thích chí huýt sáo gọi Thần-ưng đến nữa, lần này mỗi Thần-ưng đậu trước mặt nó, nó châm lửa, lại bay đi. Chốc lát trong thành Bạch-đế lửa bốc dậy ngút trời.<br />
<br />
Sún Lé hỏi xuống dưới :<br />
<br />
– Kho lương cháy rồi, vậy đốt ở đâu nữa bây giờ ?<br />
<br />
Trưng Nhị vừa chiến đấu, vừa nói :<br />
<br />
– Cứ tiếp tục đốt kho lương nữa đi.<br />
<br />
Sún Lé hú lên, từng đoàn trăm Thần-ưng đến đó thả cỏ tẩm dầu xuống. Chốc lát cả chín dẫy nhà chứa lương thảo biến thành biển lửa.<br />
<br />
Bên dưới Hồ Đề cùng các võ sĩ Hán mở cổng vào phía Đông thành, quân Hán có voi yểm trợ, tiến vào thành. Trong thành tuy quân Thục quyết tâm chiến đấu, nhưng bị voi tấn công mạnh quá, hàng ngũ rối loạn. Rồi các cửa thành khác cũng mở toang ra, quân Hán ào ào tiến vào.<br />
<br />
Sún Lé thích chí cười ha hả. Bỗng một mũi tên xé gió bay đến trước mặt. Nó tránh nhưng không kịp, mũi tên trúng người, nó đau quá la lên một tiếng lớn, rồi rơi từ trên xuống như một trái cây rụng. Trưng Nhị nghe tiếng nó kêu biết sự không lành, vội bỏ trận tuyến lại đưa tay hứng lấy nó. Sức nó rơi mạnh quá, làm nàng cũng ngã chúi về phía trước. Trần Năng nhảy xuống ngựa, bồng Sún Lé lên cấp cứu. Nàng mổ mũi tên ra, lấy thuốc rịt lại cho nó. Lục Sún là những đứa trẻ mồ côi được Hồ Đề đem về nuôi dạy từ nhỏ, chúng nó rất can trường. Dù mũi tên cắm sâu vào thịt, Sún Lé cũng nghiến răng chịu, chứ nó không kêu, không khóc.<br />
<br />
Xưa nay Lục Sún sống với nhau như anh em, chúng vội chạy lại hỏi Trần Năng rối rít lên. Trần Năng thấy mũi tên trúng vào mông không nguy hiểm lắm, an ủi :<br />
<br />
– Các Sún cứ yên tâm không sao đâu.<br />
<br />
Sún Rỗ chửi thề :<br />
<br />
– Đ.m. nó bọn Thục, chúng ông phải tìm thằng nào bắn để trả thù mới được.<br />
<br />
Nó nhìn về phía trước, thấy Thần-ưng từng đoàn một lao xuống tấn công một người. Chúng nhận ra là Công-tôn Thiệu. Sún Rỗ nói :<br />
<br />
– Anh em ơi ! Thằng Công-tôn Thiệu bắn Sún Lé, Thần-ưng đang đánh trả thù, chúng ta mau tiến lên bắt thằng này cho chim ưng ăn thịt.<br />
<br />
Năm Sún cùng hội lại bên Sún Lé hỏi mưu kế. Sún Lé nói:<br />
<br />
– Mỗi đứa chúng ta đều mang theo một con trăn, hãy dùng trăn mà bắt thằng Thiệu mới được.<br />
<br />
Nguyên bọn Sún đi đâu cũng mang theo một con trăn để trong túi vải đeo bên mình. Bọn trăn này được huấn luyện thành thục để làm vũ khí, Sún Rỗ nói nhỏ với các Sún, rồi cả năm đứa cùng tiến vào vườn hoa gần đó.<br />
<br />
Cuộc hỗn chiến tới sáng thì Hán chiếm được toàn thành. Trưng Nhị sai đánh chiêng thu quân, mở rộng bốn cửa thành, cho quân ra đóng bên ngoài chỉ để lại một lữ kị binh để bảo vệ tướng soái. Nàng cho các tướng sĩ kiểm soát bắt hết tàn quân giặc, cứu hỏa những nơi còn đang cháy. Đến sáng mọi việc mới tạm yên.<br />
<br />
Trưng Nhị rất quan tâm đến Sún Lé, hỏi Trần Năng:<br />
<br />
– Thế nào?<br />
<br />
Trần Năng đáp:<br />
<br />
– Không sao mũi tên trúng mông xuyên tới xương. Tôi đã lấy ra và buộc thuốc. Sún Lé phải nghỉ ít nhất một tháng không được dụng võ mà thôi.<br />
<br />
Sún Lé nói:<br />
<br />
– Em là con cháu Phù-đổng Thiên-vương, em không sợ chết. Nếu em chết thì Thần-ưng với các Sún trả thù cho em.<br />
<br />
Trần Năng bồng Sún Lé giao cho Hồ Đề, dặn:<br />
<br />
– Không cho Sún Lé hoạt động nhiều, vì hoạt động vết thương sẽ vỡ ra.<br />
<br />
Trưng Nhị cùng mọi người kiểm điểm nhân mã, cho kỵ binh bao vây kín soái phủ Công-tôn Thiệu, chờ Đặng Vũ về sẽ quyết định thái độ đối với vợ con y.<br />
<br />
Nàng thấy vắng bóng Lục Sún, hỏi Hồ Đề:<br />
<br />
– Bọn Sún đi đâu mất rồi vậy?<br />
<br />
Hồ Đề tủm tỉm cười:<br />
<br />
– Chúng nó là trẻ con, chắc chạy chơi quanh đây chị khỏi cần lo, cứ thấy đàn Thần-ưng đâu là chúng nó ở đó. Tìm chúng nó đâu có khó gì?<br />
<br />
Đến gần trưa Đặng Vũ về cùng với hàng vạn tù binh bị bắt. Đặng Vũ chắp tay hướng về đám anh hùng Lĩnh-nam:<br />
<br />
– Đại tư-mã Đại-Hán xin kính cẩn đa tạ các vị nữ hiệp Lĩnh-nam ra tay trợ giúp, ơn này đời đời chúng tôi không quên.<br />
<br />
Trưng Nhị chỉ phủ Công-tôn Thiệu nói:<br />
<br />
– Tôi cho kỵ binh bao vây phủ Trường-sa vương, đợi Tư-mã trở về kiểm điểm tài sản, ban quyết định đối với vợ con y.<br />
<br />
Kiến-oai đại tướng quân Cảnh Yểm nói:<br />
<br />
– Việc này quan trọng lắm, trước đây Đại tư-mã hứa rằng, nếu ai bắt được Công-tôn Thiệu hoặc chiếm được soái phủ đầu tiên thì cho trấn thủ thành Bạch-đế và cho cả kho tàng của thành này. Không biết đã ai vào được chưa? Trong phủ còn ai không?<br />
<br />
Đặng Vũ cùng Trưng Nhị tiến vào cổng soái phủ, lá cờ của Công-tôn Thiệu biến mất, trên cột cờ phất phới lá cờ của 72 động Tây-vu. Bất giác mọi người quay lại nhìn Hồ Đề.<br />
<br />
Đặng Vũ hỏi:<br />
<br />
– Hồ cô nương. Thì ra cô nương đã chiếm nơi này trước rồi à?<br />
<br />
Hồ Đề cũng ngạc nhiên:<br />
<br />
– Tôi luôn ở cạnh sư tỷ Trưng Nhị, không rời nhau nửa bước, làm sao chiếm được phủ này. Có lẽ một trong anh em của Tây-vu vào đây. Không chừng là Vi Đại-Lâm, Vi Đại-Sơn chỉ huy Thần-ngao, cũng có thể em tôi là Hồ Hác chỉ huy đội Thần-tượng. Ừ... không chừng là Lục-phong quận chúa cũng nên.<br />
<br />
Đặng Vũ tiếp tục đi qua năm sáu dãy dinh thự to lớn, tới một dinh cao nhất, trên cửa đại sảnh có chữ sơn son thiếp vàng:<br />
<br />
Trường-sa vương soái phủ.<br />
<br />
Đặng Vũ đẩy cửa bước vào. Bất ngờ mọi người cùng oà một tiếng, đứng dừng lại há hốc miệng nhìn. Vì trên trướng của Công-tôn Thiệu nghễu nghện ngồi trên là Sún Lé, năm ghế bên cạnh có năm Sún ngồi. Sún Lé làm như người lớn, đứng dậy chắp tay mời mọi người:<br />
<br />
– Tiểu tướng Sún Lé, trấn thủ thành Bạch-đế, xin Đại tư-mã ghé gót thịt vào quý phủ ăn bữa cơm mặn mà.<br />
<br />
Lục Sún ở cùng với Hồ Đề, sống với thiên nhiên, nói năng giản dị. Từ hôm tòng chinh đến giờ, nó bắt đầu học được lối nói khách sáo của người Hán, nhưng trong lúc vội vàng, đáng lẽ nói gót ngọc, nó thấy mình đi chân đất nên nói là gót thịt. Người ta tự xưng phải nói là tệ phủ, đây nó nói lộn ra quý phủ. Dùng bữa cơm đạm bạc nó nói là mặn mà.<br />
<br />
Hồ Đề quát lớn:<br />
<br />
– Các Sún không được đùa, đây là quân lệnh. Vô phép ta chặt đầu. Mau đứng dậy nhường chỗ cho Đại tư-mã và các sư bá, sư tỷ.<br />
<br />
Sún Lé vẫy tay, các Sún đồng đứng dậy. Sún Lé nói :<br />
<br />
– Quân trung bất hí ngôn. Đặng đại tư-mã đã từng truyền hịch : ai bắt được Công-tôn Thiệu thì thưởng cho kho tàng của y. Ai vào thành đầu tiên thì cho làm trấn thủ, có đúng thế không ? Sao bây giờ lại nuốt lời?<br />
<br />
Đặng Vũ gật đầu :<br />
<br />
– Quả đúng như em nói. Ta đã hứa là phải thi hành.<br />
<br />
Sún Rỗ chỉ Sún Lé nói :<br />
<br />
– Sún Lé từ mặt thành nhảy xuống đầu tiên, có đúng thế không ? Ở đây có sư tỷ Trưng Nhị, Phật-Nguyệt làm chứng.<br />
<br />
Trưng Nhị gật đầu:<br />
<br />
– Lên mặt thành đầu tiên là sư tỷ Phật-Nguyệt, nhưng nhảy xuống đất đầu tiên là Sún Lé.<br />
<br />
Sún Lé nói :<br />
<br />
– Ai đã chiếm soái-phủ Công-tôn Thiệu ? Thưa Sún Lé này chứ ai? Chứng cớ là Sún Lé đã treo cờ 72 động Tây-vu và hạ cờ soái của Công-tôn Thiệu xuống đầu tiên, rồi Lục Sún vào chiếm soái phủ. Nhảy vào thành đầu tiên là Sún Lé, chiếm soái phủ là Lục Sún, hạ cờ soái Công-tôn Thiệu là Sún Lé. Vậy Lục Sún phải được hưởng kho tàng của Công-tôn Thiệu và trấn thủ thành Bạch-đế. Đã là tướng phải giữ lời hứa với người dưới. Chúng tôi là người dưới, xin đừng dối chúng tôi. Đại tư-mã phải giữ lời hứa. Hơn nữa người lớn không được lừa trẻ con. Vả lại trong các tướng đánh thành Bạch-đế. Lé tôi suýt bỏ mạng, công ấy không nhỏ.<br />
<br />
Đặng Vũ nhìn Trưng Nhị không biết trả lời sao, y nói :<br />
<br />
– Kho tàng có thể cho các Sún, nhưng các Sún còn nhỏ tuổi quá, thì làm sao có thể làm tổng trấn thành này ?<br />
<br />
Sún Rỗ cười ầm lên :<br />
<br />
– Được mạnh đi chứ lị ! Được đứt đuôi con nòng nọc đi chứ lị. Có luật nào cấm trẻ con làm trấn thủ đâu ? Bảo chúng tôi là trẻ con ư, sao bắt chúng tôi xuất trận ?<br />
<br />
Sún Lùn tiếp :<br />
<br />
– Trong trận đánh thủy quân, chúng tôi lập công đầu. Chiếm thành Bạch-đế cũng là chúng tôi. Nếu bảo chúng tôi không công là ăn hiếp trẻ con. Chúng tôi cũng phải được hưởng chứ? Vả lại ngày xưa Phù-đổng Thiên-vương còn nhỏ tuổi cũng cầm quân đánh giặc, tại sao Lục Sún không được trấn thủ thành này ? Bên Trung-nguyên trước đó có cậu bé 12 tuổi là Cam La làm Tể-tướng được, thì chúng tôi cũng làm tổng trấn được chứ ?<br />
<br />
Đặng Vũ không biết nói sao, nhìn Trưng Nhị cầu cứu. Trưng Nhị nhìn Hồ Đề, nàng cũng lắc đầu.<br />
<br />
Lâu-thuyền tướng-quân Đoàn Chí nói :<br />
<br />
– Trong hịch nói rằng ai bắt được Công-tôn Thiệu mới được làm trấn thủ thành Bạch-đế, vậy mấy Sún có bắt được y không đã ?<br />
<br />
Đặng Vũ cũng nói :<br />
<br />
– Đúng đấy, các Sún có bắt được Công-tôn Thiệu không nào ?<br />
<br />
Sún Lé nhìn các bạn rồi cùng cười :<br />
<br />
– Được Đại tư-mã hứa như thế phải không ?<br />
<br />
Đặng Vũ gật đầu :<br />
<br />
– Tôi hứa chắc như vậy, nếu các em bắt được Công-tôn Thiệu, ta cho các em làm tổng trấn thành này.<br />
<br />
Sún Lé vỗ tay một cái, Sún Lùn, Sún Rỗ mở cửa phòng bên cạnh, dẫn một người bị trói, mình đầy thương tích, đầu bịt một tấm khăn. Sún Lé mở khăn trùm đầu, thì ra là Công-tôn Thiệu.<br />
<br />
Trưng Nhị giật mình :<br />
<br />
– Các sư đệ, làm sao các sư đệ bắt được y ?<br />
<br />
Sún Lùn nói :<br />
<br />
– Khi Công-tôn Thiệu bắn Sún Lé, chúng em chui trong bụi cây đuổi theo y về đến đây. Y vào phủ điều khiển gia đình rút lui, rồi mới đeo kiếm định đốc thúc quân tiếp tục chiến đấu. Mỗi đứa chúng em mang theo một con trăn. Chúng em đồng quăng ra quấn y. Y hết dẫy nổi, chúng em mới trói lại, chiếm phủ này.<br />
<br />
Sún Rỗ tiếp :<br />
<br />
– Bây giờ kho tàng của y thuộc về Lục Sún. Lục Sún đồng trấn thủ thành Bạch-đế. Ha, ha...<br />
<br />
Sún Lé vỗ tay :<br />
<br />
– Thành Bạch-đế này có bốn cửa, mỗi Sún trấn một cửa. Trung ương thì Sún Rỗ thống lĩnh. Sún Lé này làm quân sư. Binh sĩ có thêm 600 thần-ưng. Tuyệt hảo, tuyệt hảo.<br />
<br />
Sún Cao tiếp :<br />
<br />
– Chúng ta sẽ vẽ hình lên cờ. Cờ của ta thì có một Sún cao nghệu, còn cờ Sún Rỗ thì có hình tổ ong.<br />
<br />
Cứ thế, mỗi Sún một câu, làm Đặng Vũ không biết làm sao trả lời cho xuôi. Trưng Nhị tìm ra một lối giải quyết, nàng muốn trêu Đặng Vũ, nháy Hồ Đề nói :<br />
<br />
– Có lẽ phải cho Lục Sún trấn thủ thành Bạch-đế mới được. Vì trong hịch đã hứa như vậy. Nếu bảo Lục Sún không đủ tài trấn thủ, thì Lục Sún sẽ không chịu, vì chúng đã xuất trận hai lần đều thành công. Nếu bảo chúng còn nhỏ, thì tại sao lại cho chúng lâm trận.<br />
<br />
Nàng nói với Đặng Vũ :<br />
<br />
– Xin Đặng đại tư-mã cho biết sẽ đề cử ai làm phó tướng cho Lục Sún, vì chúng chưa đủ kinh nghiệm trị quân.<br />
<br />
Đặng Vũ càng luống cuống nói với Trưng Nhị :<br />
<br />
– Trưng cô nương, cô nương là quân sư, việc này xin để cô nương quyết định.<br />
<br />
Trưng Nhị thấy để Lục Sún đùa vui như vậy cũng đủ. Nàng biết Lục Sún hơn ai hết : Cái gì cũng phải có lý, không được coi chúng là trẻ con thế thôi. Nàng nghĩ : Không cho chúng làm Tổng trấn thì muôn ngàn lần chúng không chịu. Chi bằng đem cái sở đoản của chúng ra dọa. Lục Sún là những đứa trẻ ồn ào, sợ cô độc. Vậy hãy đem cái cô độc ra dọa chúng.<br />
<br />
– Đặng tư-mã đồng ý cho Lục Sún trấn thủ thành Bạch-đế. Vậy Tham-tướng đâu hãy lấy sổ sách ra, bàn giao thành cho Tây-vu Thiên-ưng lục tướng.<br />
<br />
Tham tướng bưng ra một chồng sổ sách gần một trăm cuốn nói :<br />
<br />
– Đây là sổ ghi chép lương thảo của thành. Xin Tiểu tướng quân ghi nhớ trong đó chép gạo, muối, cá khô, bò, trâu, lợn, gà nuôi quân.<br />
<br />
Sún Lé cầm lên coi, nó chỉ đọc được hai chữ trên bìa cuốn sổ. Nó lắc đầu nói với Sún Đen :<br />
<br />
– Đen ơi ! Hỏng rồi mày thử đọc xem.<br />
<br />
Sún Đen lắc đầu :<br />
<br />
– Mày học giỏi nhất, cũng chỉ biết được, mười tám, mười chín chữ, mà còn chịu thua thì tao làm sao mà đọc được.<br />
<br />
Viên Tham tướng đưa tiếp cuốn sổ ghi quân số, tên tuổi từng binh sĩ một. Cuốn sổ dày hơn gang tay. Tiếp theo là cuốn ghi kế hoạch phòng thủ.<br />
<br />
Lục Sún nhìn nhau ngẩn người. Sún Rỗ nói với Sún Lé :<br />
<br />
– Mày khôn nhất trong bọn, mày giữ sổ sách. Bọn tao chỉ biết Ục nhau thôi.<br />
<br />
Viên Tham-tướng trình bày gần hai mươi loại sổ sách. Lục Sún ngơ ngẩn nhìn nhau chưa biết nói sao.Trưng Nhị tiếp :<br />
<br />
– Sau đây bọn ta vào Thành-đô. Các sư đệ ở lại thành Bạch-đế cho đến già.<br />
<br />
Lục Sún vào thành Bạch-đế bắt được Công-tôn Thiệu, đòi làm Tổng-trấn cho vui, chứ thật sự chúng đâu có thích làm quan. Bây giờ nghe Trưng Nhị bảo chúng nó phải ở lại đây cả đời. Sáu đứa nhìn nhau, sợ hãi ra mặt. Sún Hô là đứa nghĩ xa nhất, nó hỏi Hồ Đề :<br />
<br />
– Sau khi đánh xong Thục, sư tỷ có về qua đây không ?<br />
<br />
Hồ Đề lắc đầu :<br />
<br />
– Bọn ta theo ngã Độ-khẩu về Lĩnh-nam. Mười năm sau, ta cho người đến thăm các sư đệ.<br />
<br />
Sún Cao là đứa nhát nhất, nó nói :<br />
<br />
– Thôi chúng mày ở lại mà làm Tổng trấn. Tao theo sư tỷ đánh Thành-đô rồi trở về rừng Tây-vu. Chứ ở đây chỉ có sáu đứa, buồn bỏ mẹ đi í! Mười năm sau sư tỷ mới đón về Lĩnh-nam thì chết bỏ bu !<br />
<br />
Sún Lùn, Sún Rỗ, Sún Hô, Sún Đen cũng nói :<br />
<br />
– Thôi bọn tao cũng không ham cái chức Tổng trấn đâu. Đã không biết chữ thì làm sao mà đọc sổ sách.<br />
<br />
Sún Lé hỏi Đặng Vũ :<br />
<br />
– Thưa Đại-tư-mã, luật nhà Hán có cho phép nhường chiến công cho nhau không ? Ví như anh em chúng tôi có công có thể nhường cho một tướng khác chẳng hạn ?<br />
<br />
Đặng Vũ gật đầu :<br />
<br />
– Các em muốn tặng cho ai ?<br />
<br />
Sún Lé nhìn các bạn nó rồi nói:<br />
<br />
– Chúng mày ạ! Tao nghĩ rằng chúng mình còn nhỏ quá không làm Tổng-trấn được, chi bằng nhường công lao cho một vị đại tướng-quân nhà Hán thì hay hơn?<br />
<br />
Đặng Vũ gật đầu tỏ vẻ hài lòng:<br />
<br />
– Thế các em muốn nhường chức Tổng-trấn lại cho ai nào?<br />
<br />
– Các đại-tướng ở đây nhiều quá, ai cũng làm Tổng-trấn được. Nhưng tao thấy ông Bô-lỗ đại-tướng quân Mã Vũ là người nhân từ, biết thương dân, vậy chúng mình nhường cho ông ấy quách.<br />
<br />
Lục Sún cùng reo lên. Sún Lé nói với Đặng Vũ:<br />
<br />
– Đại tư-mã! Chúng tôi muốn nhường chức Tổng-trấn thành Bạch-đế cho Bô-lỗ đại tướng quân Mã Vũ, vì ông ấy hiền lành lắm.<br />
<br />
Nguyên Bô-lỗ đại tướng quân là người nhu nhã, học thức. Ông có hai đứa con trai bị chết trong chiến tranh. Nếu hai con ông còn sống, tuổi cũng ngang Lục-Sún. Vì vậy từ hôm Lục Sún tới Kinh-châu, ông thường sang lều bọn chúng trò chuyện. Ông dạy chúng cách hành quân, bố trận, xung phong, hãm địch. Chúng học lấy thuật đó áp dụng vào việc chỉ huy Thần-ưng. Cho nên cả Lục Sún đều thích ông. Nay chúng đề nghị nhường công trạng cho ông. Đặng Vũ nói:<br />
<br />
– Được, vậy Bô-lỗ đại-tướng quân ở lại làm Tổng-trấn thành Bạch-đế, Xuyên-khẩu. Còn tài sản của Công-tôn Thiệu vẫn để cho Lục Sún.<br />
<br />
Lục Sún đồng ý đề nghị của Đặng Vũ, chúng lục lọi hết các phòng trong phủ Trường-sa vương, lấy không biết bao nhiêu đồ quý giá. Chúng nó đều là trẻ con ở rừng núi, đùa nghịch với thiên nhiên, không biết giá trị vàng bạc châu báu. Sún Lé bảo Hồ Đề:<br />
<br />
– Sư tỷ, chúng em biếu, sư tỷ đấy.<br />
<br />
Hồ Đề thì xuất thân từ một cô gái Mường ở Tây-vu, nhờ tài thao lược, võ công tuyệt vời và nhất là tính tình giản dị, mà từ một Động-chủ nàng tiến lên làm Thống-lĩnh 72 động. Nàng lấy thú rừng săn bắn, hoa cỏ, dạy giỗ thú vật làm vui, tuyệt không thích những đồ nữ trang. Còn vàng bạc, nàng cũng thấy không cần thiết, nên dửng dưng trước kho tàng lớn lao. Nàng nói với Trưng Nhị:<br />
<br />
– Xin sư tỷ cho kiểm điểm lại, em dùng voi cho chở về Lĩnh-nam. Những thứ này, chúng ta cần đến nó sau này.<br />
<br />
Trưng Nhị hiểu rằng, với kho tàng, sau này sẽ dùng để phục quốc, nàng sai đóng thành thùng.<br />
<br />
Không biết Sún Lé nghĩ sao, lựa lúc người lớn không chú ý, bốc lấy một ít châu ngọc, vàng bạc cho vào một túi nhỏ, đeo bên hông, nó nháy các bạn rồi cùng cười.<br />
<br />
Trong những anh hùng Lĩnh-nam tham dự trận đánh. Lục Sún là trẻ con, chỉ thích nghịch ngợm, ăn vặt mà không thiết đến tiền bạc. Chúng ở rừng lấy cây cỏ, thú vật làm tiêu khiển, được Hồ Đề nuôi nấng, dạy dỗ, thân nàng là lãnh chúa, mà coi bọn chúng như em, nên chúng thấy sung sướng, không còn ước vọng gì nữa. Hồ Đề dạy chúng những gì là yêu nước, là Âu-lạc, là Văn-lang, khiến máu trẻ của chúng sôi sục việc nước. Tuổi chúng còn nhỏ, được tham dự những việc người lớn, chúng thích chí. Còn tiền bạc chúng không biết để lãm gì?<br />
<br />
Thiên-thủ viên hầu Lại Thế-Cường nói nhỏ với Trưng Nhị, Trần Năng:<br />
<br />
– Lĩnh-nam mình đến hồi đại-phúc rồi thì phải. Trên từ Trưng Nhị cho đến Lê Chân, Trần Năng, Phật-Nguyệt, dưới đến Lục Sún, người nào thấy vàng bạc, châu báu cũng chẳng thiết gì. Đàn bà con gái ai cũng thích vàng bạc, châu báu đeo đầy người. Còn các cháu đây nhan sắc cũng diễm lệ như bất cứ ai. Võ công còn hơn ta, mưu trí trùm hoàn vũ, thế mà trông thấy kho châu báu, chả cần xem xét, chả cần một món gì, khác với bọn tướng Hán, người nào cũng hau háu nhìn vàng ngọc, nhất định Lĩnh-nam sẽ được phục hồi.<br />
<br />
Trưng Nhị cũng đồng một ý tưởng như Lại Thế-Cường. Hôm sau nàng gọi em trai Hồ Đề là Hồ Hác đến dặn rằng:<br />
<br />
– Chị cho em về Giao-chỉ trước. Em mang theo một số đệ tử Tây-vu giúp đỡ. Em tải mấy thùng châu báu về Tây-vu cất giấu cẩn thận. Việc này chỉ có chị Hồ Đề, Trần Năng, Phật-Nguyệt, Lê Chân và sư thúc Lại Thế-Cường biết mà thôi, còn ngoại giả em dấu hết. Những thùng châu báu, ta sẽ dùng đến mai sau.<br />
<br />
Hồ Hác vâng lệnh lên đường.<br />
<br />
Trong khi Đặng Vũ cho quân sĩ nghỉ dưỡng sức, thì Lục Sún, Mã Vũ ngày ngày cỡi ngựa ngao du thành Bạch-đế. Các Sún nhận thấy dân chúng khóc lóc tiếc thương vì Thục bị Hán đánh. Họ than thở rằng hồi sống dưới chế độ Công-tôn Thiệu sung sướng hơn chế độ nhà Hán nhiều.<br />
<br />
Một buổi chiều Sún Lé bàn với các Sún:<br />
<br />
– Tao đề nghị chúng mình vào nhà tù thăm Công-tôn Thiệu hỏi xem y cai trị cách nào mà dân chúng khoan khoái hơn Mã Vũ cai trị? Dân không vui là tội chúng mình, vì chúng mình lập công cho Quang-Vũ, làm họ khổ sở, tao nghĩ lỗi ở tại chúng mình.<br />
<br />
Lục Sún đồng ý, chúng đòi đến nhà tù thăm Công-tôn Thiệu. Sún Cao nói:<br />
<br />
– Sư tỷ Hồ Đề dạy rằng, dù đối với tù nhân, cùng nên lấy lòng hiệp nghĩa. Công-tôn Thiệu là ông vua con, bị tù chắc khổ sở lắm. Chúng ta mang rượu thịt vào thăm ông ấy mới phải.<br />
<br />
Chúng lấy một bình rượu, một con gà nướng, rồi đến nhà tù. Viên quan coi tù biết chúng là những đại tướng-quân. Làm mất lòng chúng, chúng hú lên một tiếng, y sẽ bị chim ưng nhá thịt liền. Y mở cổng nhà tù nói:<br />
<br />
– Thiên-ưng lục tướng muốn thăm nhà tù xin cứ tự nhiên.<br />
<br />
Lục Sún đến nhà giam Công-tôn Thiệu. Y bị giam trong căn nhà đá, chân tay bị xích. Sún Lé ra bộ ta đây lịch sự:<br />
<br />
– Công-tôn đại hiệp, mấy hôm nay chắc người khó chịu lắm nhỉ? Chúng tôi mang rượu thịt đến mời đại-hiệp xơi đây!<br />
<br />
Công-tôn Thiệu thản nhiên rót rượu ra uống, cầm con gà quay lên ăn. Ăn xong, y hỏi:<br />
<br />
– Sáu chú em đại danh là gì ? Sáu chú dùng trăn bắt ta, thực giỏi. Ta bị bắt, chẳng đáng tiếc. Điều đáng tiếc là các chú còn trẻ, có tài, tại sao đi giúp Quang-Vũ ? Triều đình nhà Hán đâu có đem lại hạnh phúc cho dân ?<br />
<br />
Sún Rỗ nói :<br />
<br />
– Chúng tôi định đến hỏi ông điều này đấy. Mấy hôm nay, chúng tôi đi dạo chơi khắp nơi, dân chúng than tiếc cho ông. Họ nói ông cai trị thì trăm họ sung sướng. Còn Hán cai trị thì họ khổ vô cùng. Ông có thể cho chúng tôi biết cách cai trị của ông như thế nào không ?<br />
<br />
Công-tôn Thiệu nói :<br />
<br />
– Được chứ ! Tôi nói cho các chú nghe cũng chẳng sao. Chúng tôi là bảy người sư huynh, sư đệ, được đời tặng cho danh hiệu là Thiên-sơn thất hùng. Nhân thời loạn, Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán, chúng tôi khởi binh, đem tinh thần hiệp sĩ cứu dân, lập ra nước Thục. Vì bất đắc dĩ chúng tôi phải xưng đế, xưng vương, chứ có ai muốn công danh đâu ? Chúng tôi ban hành luật lệ rộng rãi, vì vậy dân chúng hạnh phúc. Còn Mã Vũ cũng có lòng nhân từ, nhưng luật lệ nhà Hán hà khắc, thì sao dân chúng sung sướng được ?<br />
<br />
Lục Sún là những đứa trẻ ngay thẳng, chúng nghe Công-tôn Thiệu nói vậy, đồng gật đầu công nhận là đúng. Sún Đen nói :<br />
<br />
– Hôm trước Trưng sư tỷ họp với chúng mình đưa ra ý kiến. Chúng mình giúp Hán đánh Thục là giúp kẻ ác đánh người nhân. Bây giờ chuyện đã như thế này thì làm sao đây ? Tao đề nghị đêm nay chúng mình thả Công-tôn đại-hiệp ra để tạ tội với dân chúng đất Thục.<br />
<br />
Sún Cao là đứa nhát, nó nói :<br />
<br />
– Tao không dám đâu, lỡ sư tỷ biết thì chết đòn.<br />
<br />
Sún Lé hỏi Công-tôn Thiệu :<br />
<br />
– Công-tôn đại-hiệp, dường như đại hiệp viết thư cho Trưng sư tỷ nói rằng đại-hiệp là bạn thân với đại-ca Đặng Thi-Sách phải không ?<br />
<br />
Công-tôn Thiệu đáp:<br />
<br />
– Cách đây hơn hai mươi năm, Đặng đại-ca theo hầu Thái sư-thúc là Khất đại-phu. Tôi theo hầu Thái sư-phụ là Thiên-sơn lão tiên, cùng lên đỉnh Kim-sơn chơi. Chúng tôi kết nghĩa huynh đệ. Tôi lớn tuổi hơn là anh. Chúng tôi thề cùng hợp tác với nhau mưu đồ hạnh phúc cho trăm họ. Vì vậy chúng tôi mới lập ra nước Thục. Đặng đại-ca lập lại Lĩnh-nam. Thục, Lĩnh-nam liên kết với nhau chống Hán.<br />
<br />
Sún Đen nói :<br />
<br />
– Bây giờ muốn biết đúng hay sai, xin Công-tôn đại hiệp viết cho Đặng đại-ca một bức thư, kể hết sự tình. Tôi cho Thần-ưng đem về Lĩnh-nam. Nếu Đặng đại-ca công nhận những lời đại-hiệp là đúng, chúng tôi đánh Hán giúp Thục.<br />
<br />
Nó lấy bút mực cho Công-tôn Thiệu viết thư. Thư viết xong, nó bỏ vào một ống tre dưới chân thần-ưng, rồi ra hiệu, dặn dò. Thần-ưng bay bổng lặn trời, hướng phía Nam.<br />
<br />
Lục Sún trở về nghỉ. Bốn hôm sau Thần-ưng trở lại. Chúng mở ống tre dưới chân Thần-ưng có đến bốn tờ giấy. Một tờ viết đầy chữ, ba tờ vẽ rất nhiều hình. Hình thứ nhất vẽ hai lão ông trên tuyết uống rượu. Chúng nhận ra một ông giống Khất đại-phu. Cạnh hai ông có hai người đeo kiếm đứng hầu, chúng nhận ra là Đặng Thi-Sách và Công-tôn Thiệu.<br />
<br />
Sún Hô nói :<br />
<br />
– Như vậy lời nói của Công-tôn Thiệu là đúng rồi đó.<br />
<br />
Nguyên mười năm trước, Khất đại-phu lên Kim-sơn thăm người bạn già là Thiên-sơn lão tiên. Ông mang Đặng Thi-Sách theo để dạy thêm kinh nghiệm cho chàng. Thiên-sơn lão tiên cũng mang theo một đồ tôn là Công-tôn Thiệu. Giữa đỉnh núi tuyết hai lão tiên đánh cờ, uống rượu. Còn hai đồ tôn bàn chuyện mưu đồ hạnh phúc cho dân. Hai người ý hợp, tâm đầu, họ kết làm huynh đệ, trước sự chứng kiến của hai đại tôn sư võ học. Công-tôn Thiệu định chiếm Đông-xuyên, Tây-xuyên, Kinh-châu rồi quay mặt lên phía Bắc chống với Hán. Còn Đặng Thi-Sách định lập lại Lĩnh-nam. Hai người thề sẽ cứu ứng lẫn nhau.<br />
<br />
Cách đây mấy tháng Đặng Thi-Sách được Trưng Trắc cho biết, anh hùng Lĩnh-nam theo Nghiêm Sơn sang Trung-nguyên đánh Công-tôn Thuật. Ông không ngờ Công-tôn Thuật là anh Công-tôn Thiệu, nên không có ý kiến gì. Vì anh hùng Lĩnh-nam cố theo tòng chinh mới đem được 30 vạn quân Hán ra khỏi đất nước mình, cuộc nổi dậy mới dễ thành công. Bây giờ được thư Công-tôn Thiệu, ông mới bật ngửa ra rằng Công-tôn Thiệu là Trường-sa vương của Thục. Thục đang lâm nguy vì đám anh hùng Lĩnh-nam. Ông vội sai Trưng Trắc lên đường thuyết phục anh hùng Lĩnh-nam phản Hán trợ Thục. Trợ Thục có lợi. Lĩnh-nam, Hán, Thục chia ba thiên hạ. Thục và Lĩnh-nam cứu ứng lẫn nhau mới mong tồn tại. Chuyện giúp Hán để đem 30 vạn quân rời Lĩnh-nam thì đã xong rồi. Một mặt ông viết bức thơ cho Công-tôn Thiệu dặn dò phải kín đáo. Ông muốn viết thư cho Lục Sún, nhưng chúng không biết chữ thì làm thế nào ? Sư muội Nguyễn Quý-Lan đề nghị ông nên vẽ hình, Lục Sún cũng hiểu được câu chuyện.<br />
<br />
Bức tranh thứ nhì vẽ một người khổng lồ đầu có sừng, hai răng nanh dài, định bắt dân chúng ăn thịt. Phía trước có bảy người dùng kiếm đánh người khổng lồ. Trong bảy người đó, có một người giống hệt Công-tôn Thiệu.<br />
<br />
Sún Hô nói :<br />
<br />
– Đặng đại-ca ví Quang-Vũ như con quỷ ăn thịt người. Còn đây là Thiên-sơn thất hùng đánh quỷ cứu dân.<br />
<br />
Bức thứ ba vẽ sáu người con gái, cạnh sáu đứa trẻ và đàn chim đứng giúp con quỷ mọc sừng đánh lại năm người cầm kiếm.<br />
<br />
Sún Hô nói :<br />
<br />
– Đặng đại-ca nói Trưng sư tỷ với bọn mình trợ giúp Quang-Vũ đánh Thục, là giúp quỷ hại dân.<br />
<br />
Bức thứ tư vẽ bảy người cầm kiếm bị thua chạy, một người bị bắt trói, người đó là Công-tôn Thiệu. Bức thứ năm vẽ Công-tôn Thiệu bị trói nằm trong tù. Lục Sún cầm búa chặt xích cứu y.<br />
<br />
Sún Hô bàn :<br />
<br />
– Đặng đại-ca bảo chúng mình cứu Công-tôn Thiệu, chúng mày có đồng ý làm không ?<br />
<br />
Sún Lé nói :<br />
<br />
– Làm thì làm chứ sợ đíu gì Đặng Vũ. Tao đề nghị thế này : Lát nữa tao ra mượn thợ rèn làm cho cái búa với mấy cái cưa nhỏ. Chúng mình quay một con ngỗng thực lớn, rồi bỏ búa, cưa vào gửi cho Công-tôn Thiệu. Lúc y ăn thịt ngỗng, thấy búa cưa, y sẽ dùng để cắt xích, trốn đi. Sư tỷ Hồ Đề, Trưng Nhị không thể nào nghi ngờ bọn ta đã thả tù. Chúng mày nghĩ sao ?<br />
<br />
Lục Sún đồng ý. Sún Lé lên ngựa ra chợ.<br />
<br />
Chiều hôm đó Sún Lé mang một con ngỗng quay thực lớn, nặng đến mười cân (5 kg) và một bình rượu vào nhà tù thăm Công-tôn Thiệu. Nó lấy bức thư của Đặng Thi-Sách viết đưa cho Công-tôn Thiệu. Công-tôn Thiệu đọc cho nó nghe :<br />
<br />
« Công-tôn đại-ca,<br />
<br />
Từ hồi Kim-sơn cách biệt, đã hơn mười năm, chúng mình không gặp nhau. Gần đây, mãi lo phục hồi Lĩnh-nam, nên nhiều lúc muốn lên Thiên-sơn yết kiến Thiên-sơn lão tiên, gặp lại đại-ca, anh em hàn huyên mà không được. Hôm nay nhận được thư đại ca do Thần-ưng mang đến, em biết Thiên-sơn thất hùng đã làm nên sự nghiệp Nghiêu, Thuấn ở Trung-nguyên. Em cho Trưng Trắc lên đường thực hiện lời hứa của anh em mình cách đây mười năm. Lục Sún sẽ cứu đại-ca tai qua, nạn khỏi. Thư bất tận ngôn, ngày tháng còn dài, anh em mình sẽ còn gặp nhau. <br />
<br />
Tiểu đệ Đặng Thi-Sách cẩn bút ».<br />
<br />
Sún Lé nói nhỏ :<br />
<br />
– Trong con ngỗng quay này có cái búa và cái cưa. Đêm nay Công-tôn đại-hiệp cắt xích mà về Thục. Thôi tôi đi đây.<br />
<br />
Sáng hôm sau có tin báo với Đặng Vũ rằng : Công-tôn Thiệu vượt ngục. Đặng Vũ, Sầm Bành, Trưng Nhị đến tận nơi điều tra, thấy ba tên cai ngục bị đánh trọng thương nằm đó, các dây xích khóa chân tay Thiệu bị cắt đứt. Đặng Vũ cười :<br />
<br />
– Công-tôn Thiệu có vượt ngục cũng chẳng ngại, vì tinh thần quân đội Thục đã tan vỡ, vậy chúng ta tiến quân cho mau. Trước hết chia quân làm hai đạo. Một đạo theo giòng sông Trường-giang chiếm Võ-lăng, thuận thế chiếm Bồ-lăng, Bích-sơn để phòng giặc đánh chận hông. Còn một đạo phải đánh chiếm Lương-bình, Quảng-an và Phong-khê. Đến Phong-khê thì thì Thành-đô ở trước mặt rồi.<br />
<br />
Trưng Nhị bàn :<br />
<br />
– Đạo đánh Vũ-lăng thì tôi xin lĩnh mệnh điều khiển. Tôi tiến tới hợp với đạo quân Lĩnh-nam ở Long-xương. Như vậy Đại-tư mã tiến quân tới đâu cũng không sợ gì nữa. Tôi chỉ cần đem các tướng Lưu Long, Đoàn Chí, Lê Chân là đủ. Còn lại thì do tướng quân thống lĩnh. Tới Long-xương, tôi ngược Nê-giang tiến về Thành-đô. Không biết ý tướng quân thế nào ?<br />
<br />
Ý của Đặng Vũ là tiến vào Thành-đô càng sớm càng tốt. Nay được Trưng Nhị đề nghị đánh vào phía trái cản các đạo quân đánh vào Thành-đô thì còn gì bằng nữa. Y chia cho Trưng Nhị toàn bộ thủy quân với mười vạn quân bộ. Dự định hôm sau tiến quân.<br />
<br />
Các thành chiếm được giao cho Phục-ba tướng quân Mã Viện trấn giữ.<br />
<br />
Chiều hôm đó quân vào báo :<br />
<br />
– Có sứ giả của Chinh-viễn đại tướng quân Đào Kỳ tới.<br />
<br />
Từ hôm rời Đào Kỳ đến giờ, Đặng Vũ, Trưng Nhị không được tin tức gì, nay mới nhận được sứ giả.<br />
<br />
Cửa trướng mở, sứ giả bước vào làm mọi người bật cười, vì sư giả là Giao-long nữ Trần Quốc cùng với năm con trai của Nguyễn Tam-Trinh là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín và Giao-Chi. Họ mặc giống nông dân đất Thục, lưng đeo bảo kiếm trông rất oai vệ. Đặng Vũ chưa biết đám này, đưa mắt nhìn Trưng Nhị. Trưng Nhị giới thiệu từng người một, rồi hỏi :<br />
<br />
– Có phải các em giả làm dân Thục, đi đường sông đến đây không ?<br />
<br />
Giao-Chi gật đầu :<br />
<br />
– Chúng em phải đi như vậy, chứ đi vòng, phải mất mấy tháng thì lâu quá. Dọc đường thủy quân Thục không tra xét gì, đến Cổ-lăng mới bị quân Hán tra xét, chúng em phải đưa thẻ bài mới được đến đây.<br />
<br />
Giao-long nữ cười:<br />
<br />
– Chị Trưng Nhị, chị tiến quân chậm quá, hôm nay mới chiếm được có hai thành thôi à? Bọn em chiếm được Độ-khẩu, Mễ-dương, Đức-xương, Phổ-khách, Việt-tây và Mỹ-cơ. Sư bá Triệu Anh-Vũ, Đinh Công-Thắng, chiếm được Xích-khẩu, Giang-an, Long-xương rồi. Hai đạo quân đã bắt tay được với nhau. Không chừng bây giờ vào Thành-đô rồi cũng nên.<br />
<br />
Đặng Vũ thất kinh hồn vía hỏi:<br />
<br />
– Thế thì khi cô nương lên đường, Đào tướng-quân đã tiến tới đâu rồi?<br />
<br />
Giao-long nữ nói:<br />
<br />
– Đào đại-ca ngưng tiến quân vào Thành-đô mà tiến phía Tây chiếm Cửu-long Nhã-giang và Càn-định. Đào đại-ca bảo để dành cho Đặng tư-mã vào Thành-đô trước. Đào đại-ca sợ thủy quân Thục mạnh, sai chúng em đến trợ chiến. Sư-tỷ, đi dọc đường em nghe quân Thục phía Đông bị đánh tan rồi phải không?<br />
<br />
Đặng Vũ nghe Giao-long nữ nói, y mừng run người lên nghĩ:<br />
<br />
– Đào Kỳ là người tốt với ta. Y đánh giặc không cần lập công, quan chức, y nhường cho ta chiếm Thành-đô đây.<br />
<br />
Trưng Nhị hỏi:<br />
<br />
– Em hãy thuật cho chị nghe chi tiết việc đạo quân Lĩnh-nam đánh như thế nào mà thành công mau như vậy.<br />
<br />
Giao-long nữ chỉ một tướng quân trẻ tuổi, khí vũ hiên ngang, mặt sậm đen, phong thái ôn nhu:<br />
<br />
– Đào đại ca giữa trận kết bạn với Vương đại-ca, nguyên Vương đại-ca là Bình-nam vương của Ích-châu. Đại-ca theo hàng Lĩnh-nam nên mới đánh mau thế. Còn đánh như thế nào em để chị Giao-Chi kể. Vì Đào đại-ca bảo tính em hay đùa không được kể truyện.<br />
<br />
Đoạn này thuật cuộc tiến quân của Đào Kỳ, cùng thời gian với cuộc tiến quân của Trưng Nhị<br />
<br />
Sau Nghiêm Sơn, Phương-Dung lên đừng đi Kinh-châu, thì đạo-quân của Triệu Anh-Vũ, Đinh Công-Thắng cũng lên đường. Đào Kỳ, Hoàng Thiều-Hoa đi Vĩnh-nhân. Giao-long nữ Trần Quốc đi cạnh Thiều-Hoa cười nói huyên thuyên. Nàng là cô gái mồ côi, không cha, không mẹ bị đời hiếp đáp cơ cực, may được Trần Quốc-Hương nuôi dạy coi như con đẻ, được cưng chiều được dạy võ, dạy văn, dạy âm nhạc, nên giữa tuổi thơ tính tình nàng mở rộng vô cùng. Từ khi còn ở Thiên-trường, nàng được đọc sách nói về người xưa cầm quân đánh giặc, thường mơ màng ngày nào đó nàng cũng ruổi ngựa, chỉ huy thủy quân xông pha mặt trận. Không ngờ bây giờ giấc mơ là đây. Sau lần đấu với Đào Kỳ trên sông Thiên-trường, không những Đào Kỳ không buồn mà càng sủng ái nàng như một cô em gái, biết trọng dụng tài của nàng, nên nàng cao hứng cực điểm. Nàng nhìn Thiều-Hoa rồi hỏi:<br />
<br />
– Chị Thiều-Hoa này, người ta nói Mỵ Nương đẹp lắm, Trương Chi say mê nàng đến điên đảo, vậy không biết Mỵ Nương có đẹp bằng chị không?<br />
<br />
Thiều-Hoa cười:<br />
<br />
– Mị-Nương đẹp thế nào chị không biết. Nhưng có điều chị biết rõ là nàng chỉ có mối tình cho Trương Chi, chứ nàng không có mối tình yêu nước như Giao-long nữ.<br />
<br />
Giao-long nữ hỏi Đào Kỳ:<br />
<br />
– Sư tỷ Thiều-Hoa khen quá, làm em sợ. Em nghĩ tại sao mình đi đánh Thục làm gì? Chi bằng ta đem quân về Giao-chỉ giết Tô Định, chiếm hết sáu quận lập Nghiêm đại-ca làm hoàng-đế. Chúng ta đánh sang Trung-nguyên, bắt Hoàng-đế Trung-nguyên phải triều cống mình có phải hơn không?<br />
<br />
Đào Kỳ lắc đầu:<br />
<br />
– Trong chúng ta có ai muốn làm vua đâu? Chỉ mong phục quốc rồi ruổi ngựa ngao du ngắm cảnh hùng vĩ của đất nước mà thôi.<br />
<br />
Hoàng Thiều-Hoa nghe Trần Quốc nói, nàng mới tỉnh ngộ:<br />
<br />
– Ừ nhỉ! Sau khi phục được Lĩnh-nam thì ai sẽ làm vua? Hoặc giả sư phụ ta? Ta thấy Khất đại-phu, Nam-hải sư bá đều là người hiệp nghĩa, tiêu dao tự tại, chả ai muốn làm vua chi cho khổ thân. Không chừng sư phụ mình phải làm vua cũng nên. Nếu sư phụ mình phải làm vua thì... ta phải cản mới được. Ta không muốn người phải chịu khổ sở suốt đời. Ta đọc sách thấy vua lúc nào cũng lo lắng, ăn ngủ không yên, sao bằng làm lạc-hầu tiêu dao núi rừng sướng hơn nhiều.<br />
<br />
Bỗng Giao-long nữ nhớ ra việc gì, bảo Đào Kỳ:<br />
<br />
– Em đọc binh thư nói rằng: “Binh quý hồ tốc”, nghĩa là dùng binh phải cần cho mau. Lại cũng nói: “Xuất kỳ bất ý, công kỳ vô bị”, nghĩa là binh chúng ta xuất hiện ở chỗ giặc không biết, đánh vào chỗ giặc không phòng bị. Nay chúng ta đã mạo hiểm đánh ở phía Nam Thục như thế này, cũng giống như ngày xưa Hàn Tín giả bộ một mặt sửa chữa Sạn- đạo, một mặt đổ quân đánh Trần Thương, làm cho Hạng Võ không đề phòng.<br />
<br />
Hoàng Thiều-Hoa thấy mới chỉ gần Đào Kỳ, Phương-Dung có một năm mà Giao-long nữ đã am tường binh pháp thì mừng lắm, nàng nói:<br />
<br />
– Sư nếu muội là Đào Kỳ, thì em sẽ làm gì?<br />
<br />
Giao-long nữ mở lớn mắt cười:<br />
<br />
– Em ra lệnh cho ngựa lưu tinh báo các huyện đường mở sẵn cửa ải để quân đi qua. Tuyệt đối không cho dân chúng biết có binh tướng từ Lĩnh-nam lên, như vậy Tế-tác giặc không biết được. Một mặt em ra lệnh cho Trấn-nam tướng quân Trần Huệ ở Vĩnh-nhân triệu tập quân, chuẩn bị đi Kinh-châu trợ chiến. Tai mắt giặc tại đó thiếu gì, chúng tin là thực, chúng ta xuất quân đánh bất thần như sét nổ, thì lấy Độ-khẩu dễ như trở bàn tay.<br />
<br />
Đào Kỳ mở to mắt nhìn Giao-long nữ, chàng chỉ thấy đó là một cô gái xinh đẹp, lưng thon, ngón tay trắng như búp măng, đang cầm ống tiêu thổi khúc Cổ loa di hận... Không ngờ trong đầu lại nghĩ được một kế tuyệt diệu như vậy. Chàng hướng vào Giao-long nữ nghiêm trang chắp tay vái ba vái:<br />
<br />
– Đa tạ sư muội chỉ dạy.<br />
<br />
Giao-long nữ vội chắp tay đáp lễ:<br />
<br />
– Nghĩa phụ em thường nói: Đào hầu dạy con và đệ tử giống như Khổng-Tử dạy học trò, lúc nào cũng phải giữ lễ. Nghĩa phụ em dạy con và đệ tử thì cho phát triển tự do, em mới được lý lắc với người.<br />
<br />
Đào Kỳ cầm lệnh tiễn giao cho viên Tham-tướng dặn dò mấy câu. Y vâng dạ ruổi ngựa như bay. Vì vậy khi quân qua các quận, huyện, dân chúng, quan chức coi như chàng dẫn binh lính đi tập trận, không phải đón tiếp, cung ứng lương thực như thường lệ.<br />
<br />
Mấy hôm gần tới Vĩnh-nhân, chàng cho quân nghỉ ngơi, rồi sáng hôm sau lên đường, để quân sĩ tới nơi vào lúc chập choạng tối. Trấn-nam tướng-quân Trần Huệ chuẩn bị sẵn, tiếp rước chàng vào trướng trong thành.<br />
<br />
Phó tướng Ngô Đạt nói:<br />
<br />
– Ty chức tiếp được lệnh tiễn của Nguyên-soái, ra lệnh cho quân sĩ chuẩn bị lương thực, lừa ngựa. Họ tưởng rằng sẽ lên Kinh-châu trợ giúp Đại tư-mã. Họ đang chờ lệnh.<br />
<br />
Trần Huệ, Ngô Đạt kinh ngạc, vì thấy bọn Đào Kỳ có 16 người, thì hết 8 là những thiếu nữ xinh đẹp tuyệt vời, tuổi còn trẻ.<br />
<br />
Đào Kỳ chỉ Hoàng Thiều-Hoa giới thiệu:<br />
<br />
– Đây là Vương-phi Lĩnh-nam vương, lĩnh chức Tả tướng-quốc cũng là sư tỷ của tôi.<br />
<br />
Trần Huệ nghe nói Lĩnh-nam vương-phi là người đẹp sắc nước hương trời, nên khi thấy Hoàng Thiều-Hoa đẹp như tiên nữ, y không ngạc nhiên. Y chỉ ngạc nhiên khi thấy nàng cũng là một võ tướng mà thôi.<br />
<br />
Đào Kỳ giới thiệu những người khác:<br />
<br />
– Đây là sư muội Trần Quốc, biệt hiệu là Giao-long nữ, Trần tướng quân đã gặp rồi.<br />
<br />
– Đây là sư tỷ Nguyễn Giao-Chi cùng với năm sư huynh Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín đều thuộc thủy quân, sẽ giúp chúng ta vượt sông, như hôm trước chúng tôi đã làm.<br />
<br />
Trần Huệ mừng lắm:<br />
<br />
– Hôn trước chỉ một mình Nguyên-soái cùng với Trần đô-đốc cũng sang sông dễ dàng, bây giờ chúng ta thêm 6 vị nữa cùng với đội Giao-long binh, thì càng mau hơn.<br />
<br />
– Đây là Ngũ-long công chúa, chỉ huy đội Thần-long tập kích thủy quân Thục.<br />
<br />
Giao-long nữ hỏi:<br />
<br />
– Trấn-nam tướng quân, người với tôi cùng họ, chắc tướng quân biết. Họ Trần ở bất cứ đâu đều giỏi bơi lội ca. Tôi còn mang theo đội Giao-long hơn 100 sư huynh, sư đệ nữa. Vì vậy chúng ta qua cùng một lúc 100 người, chăng 100 sợi dây, chỉ lát sau 100 nữa qua sông thành 200 sợi. Cứ như thế chỉ cần nửa giờ, chúng ta có 600 sợi dây. Với 600 sợi dây, chúng ta bắc cầu phao trong nửa giờ là xong. Liệu như vậy đã đủ chưa?<br />
<br />
Trần Huệ thấy cô bé xinh đẹp, tính toán phân minh, thì tiếp:<br />
<br />
– Nữ Đô-đốc tính thế thì tuyệt. Dù khi chúng ta mới sang sông tại Độ-khẩu giặc biết, tập họp quân tiến ra đánh cũng phải mất một giờ. Bấy giờ chúng ta đã bắc cầu phao, hơn một Sư sang sông, giặc chỉ có đường chạy.<br />
<br />
Đào Kỳ ra lệnh:<br />
<br />
– Ngay bây giờ, Đô-đốc Giao-long nữ chỉ huy đội Giao-long binh Thiên-trường. Giao-Chi chỉ huy các huynh đệ Cối-giang chăng dây ngầm dưới sông trước. Qua bên kia thì trấn thủ bảo vệ đầu cầu.<br />
<br />
– Phấn-oai đại tướng quân Minh-Giang chỉ huy đánh chiếm đồn Hoa-bình và thành Độ-khẩu. Về đồn Hoa-bình thì sư huynh Nguyễn Nhân dẫn một lữ bộ-binh sang Hoa-bình tất kéo quân về cứu, bấy giờ đổ quân ra đánh.<br />
<br />
Ngưng một lát chàng tiếp:<br />
<br />
– Thành Độ-khẩu có bốn cửa, hai cửa quay mặt ra sông, do thủy quân trấn giữ. Hai mặt này không thuộc bổn phận của Phấn-oai tướng quân.<br />
<br />
– Sư huynh Nguyễn Nghĩa chỉ huy một lữ bí mật qua sông, đến trấn ngay phía Tây Độ-khẩu. Khi thấy pháo lệnh nổ thì đánh thành.<br />
<br />
– Sư huynh Nguyễn Lễ, Nguyễn Trí, Nguyễn Tín mỗi người chỉ huy một lữ, cho bắc cầu phao thượng khẩn. Sau khi cầu phao bắt rồi, Trấn-nam tướnng quân chỉ huy bản bộ quân mã tuần hành trên sông, giữ cầu, bảo đảm việc tiếp tế cho các đạo tấn công cửa Bắc thành Độ-khẩu.<br />
<br />
– Sư tỷ Hoàng Thiều-Hoa, sư đệ Đào Hiển-Hiệu mỗi người dẫn một vạn binh, năm ngàn kỵ binh cùng tiến đánh Mễ-dịch. Chiếm Mễ-dịch xong giao thành cho sư huynh Nguyễn Nhân trấn giữ. Sư tỷ tiến đánh Đức-xương. Sư đệ tiến đánh Phổ-khách.<br />
<br />
– Sau khi sang sông bắc xong cầu dây, Giao-long nữ trở về chỉ huy đội Giao-long cùng Ngũ-long công chúa, thủy quân Vĩnh-nhân đánh chiếm cửa Nam Độ-khẩu.<br />
<br />
Người ngậm tăm không lên tiếng, ngựa buộc miệng tháo nhạc, âm thầm lên đường. Tới quãng bờ sông đêm trước. Giao-long nữ vẫy tay, lập tức đội Giao-long Thiên-trường, cùng đội đệ tử Cối-giang xuống bờ, rồi đóng cọc. buộc một đầu dây vào. Sau đó Đào Ky, Giao-long cùng mọi người nhảy xuống nước bơi qua. Trời tháng mười một lạnh thấu xương, nhưng người nào cũng có thuốc chống lạnh của Khất đại-phu, họ không sợ. Tới bờ bên kia, họ buộc dây vào các gốc cây, giật mạnh. Ở bên này, một số người lại bám dây lội qua, chăng thêm một số dây. Bấy giờ Đào Kỳ mới cho họ đào lỗ, đóng cọc. Bọn người làm việc âm thầm, bỗng có tiếng nhạc ngựa reo. Đào Kỳ ra lệnh im lặng, nép mình xuống đất. Từ xa, một đội quân binh khoảng hai mươi người cầm đuốc đi tới, có lẽ đây là đội tuần tiễu.<br />
<br />
Đội quân tới gần, thấy dây, gỗ ngổn ngang thì ngạc nhiên. Viên chỉ huy nói:<br />
<br />
– Tại sao có gỗ với dây thế này?<br />
<br />
Đào Kỳ phất tay ra hiệu, đám anh hùng Lĩnh-nam cùng vùng dậy, chỉ vài hiệp bắt sống cả hai mươi binh sĩ. Đào Kỳ sai trói lại, rồi ra hiệu cho mọi người tiếp tục chăng dây, đóng cọc.<br />
<br />
Chàng quay lại thẩm vấn viên chỉ huy:<br />
<br />
– Mi tên gì ? Thuộc cơ đội nào? Nếu nói thực ta tha cho. Bằng ngập ngừng là ta giết liền.<br />
<br />
Tên này tỏ vẻ quật cường :<br />
<br />
– Ngươi là ai ?<br />
<br />
– Ta là Lĩnh-nam đại tướng quân được lệnh đánh Độ-khẩu.<br />
<br />
– Nếu ngươi uy hiếp ta, thì ta không nói. Còn nếu ngươi hứa cho ta hàng như hịch Lĩnh-nam vương ta sẽ nói.<br />
<br />
– Ta hứa nếu sai lời sẽ bị chết dưới muôn ngàn mũi tên.<br />
<br />
– Được ! Ta là lữ trưởng Kỵ trong Độ-khẩu tên là Vũ Gia.<br />
<br />
– Trong thành Độ-khẩu có biết cuộc tấn công của ta không ?<br />
<br />
– Không ! Vì không ai ngờ trời lạnh thế này mà các ngươi dám qua sông.<br />
<br />
– Ngươi đi đâu đây ?<br />
<br />
– Ta đến đồn Hòa-bình kiểm soát.<br />
<br />
– Tướng trấn thủ thành Độ-khẩu tên là gì ? Võ công y có cao không ?<br />
<br />
– Y là con nuôi của Công-tôn Thuật, võ công rất cao. Y tài kiêm văn võ, được Công-tôn Thuật phong làm Bình-nam vương. Hôm qua y đi Việt-tây không biết để làm gì ? Hiện giờ người trấn thủ trong thành là Lê Hữu-Đức, võ công tầm thường. Y mới cưới vợ thứ năm hôm nay. Giờ này có lẽ y đang động phòng hoa chúc. Hôm qua Tế-tác báo rằng quân ở đồn Vĩnh-nhân sắp lên đường đi Kinh-châu, sẽ có quân mới tới, sáng mai bàn giao. Tuyệt không ngờ là đánh úp Độ-khẩu.<br />
<br />
Đào Kỳ hỏi mật khẩu đêm nay cùng chi tiết trong thành. Vũ Gia trả lời rõ ràng. Chàng bảo y :<br />
<br />
– Nếu đúng như lời người nói, sau khi hạ Độ-khẩu, ta cho ngươi làm lữ trưởng kỵ binh như cũ.<br />
<br />
Đến đây thì ba lữ đã theo cầu phao qua sông. Đào Kỳ dặn Hoàng Thiều-Hoa :<br />
<br />
– Sư tỷ cẩn thận, tại Việt-tây có Công-tôn Phúc, con nuôi Công-tôn Thuật, võ nghệ rất cao cường.<br />
<br />
Giao-long nữ bảo Đào Kỳ :<br />
<br />
– Đại-ca, bây giờ chúng em trở về đánh cảng Độ-khẩu.<br />
<br />
Rồi nàng cùng đội Giao-long Thiên-trường với đám huynh đệ Cối-giang trở về Độ-khẩu. Tới nơi, tướng sĩ thủy quân chờ đợi ứng chiến. Trần Quốc móc trong túi ra một cái hộp lớn nói:<br />
<br />
– Đây là thuốc chống lạnh, mỗi người phải uống một viên. Như vậy chúng ta có thể chịu lạnh được trong ba giờ. Chỉ cần ba giờ, chúng ta chiếm được Độ-khẩu rồi.<br />
<br />
Phó tướng Ngô Đạt hỏi:<br />
<br />
– Hiện tại đây chúng ta có 50 chiến thuyền lớn, 50 chiến thuyền nhỏ. Giặc có 100 chiến thuyền lớn, 50 chiến thuyền nhỏ. Vậỵ tại đây chúng ta đông hơn. Cần phải đánh thắng ngay trong đêm nay, nếu chậm trễ, đội Mễ-dương kéo tới thì nguy.<br />
<br />
Giao-long nữ truyền lệnh:<br />
<br />
– Đô đốc Vĩnh-nhân cùng các thuyền chờ sẵn bên này. Khi thấy bên kia sông có lửa cháy, hỗn loạn thì cho chiến thuyền sang đánh. Mọi người đều phải thoa lưu huỳnh với rượu vào chân tay, nếu không sẽ bị đội Thần-long cắn chết.<br />
<br />
Nói xong nàng cùng đội Giao-long binh, đội đệ tử Cối-giang đeo giây vào lưng trườn xuống nước, lặn sang bên kia bờ. Tổng số đội Giao-long binh trên 200 người, chăng được 200 sợi dây. Bên này Ngô Đạt cho thủy quân cùng bám dây qua sông.<br />
<br />
Chỉ lát sau hơn 500 người qua sông. Giao-long nữ cùng đội Giao-long binh lặn xuống nước đục thuyền địch. Nàng ra lệnh cho họ đục những lỗ lớn gần bằng cái mâm, nhưng chỉ đục gần lủng thì ngừng lại. Giữa miếng ván đục, đóng một cái đinh lớn, đầu đinh buộc sợi dây. Đang khi giao chiến thì giật dây cho ván bật khỏi thuyền.<br />
<br />
Ngũ-long công chúa đã sang sông cùng với mấy cái bè chở Thần-long. Thần-long theo đầu cầu bò lên chiến thuyền địch.<br />
<br />
Bấy giờ Giao-long nữ mới cho lệnh chiến thuyền Hán rời bến sang sông. Thuyền tới bên này bờ, Ngô Đạt đốt pháo lệnh, quân sĩ tràn vào thành. Bấy giờ thủy quân Thục mới thức giấc. Việc đầu tiên họ thấy trong chiến thuyền đầy rắn. Bước đến chỗ nào cũng đầy rắn, thuyền thì lủng những lỗ lớn, nước tràn vào ào ào. Họ kinh hồn táng đởm, bỏ thuyền nhảy xuống sông bơi trốn. Thế là phút chốc các chiến của họ chìm xuống đáy sông.<br />
<br />
Quân Thục tuy anh dũng, nhưng giật mình thức giấc, các cửa thành đã mở, quân Hán tràn vào chiếm mất rồi, thành ra họ chỉ còn một nước là đầu hàng.<br />
<br />
Dù sao Đào Kỳ vẫn chưa quen cách tiếp quản đồn trại, canh giữ, phỏng vấn tù binh. Song Minh Giang là người chỉ huy đánh Độ-khẩu, chàng đã ở trong quân ngũ hai chục năm, rất thạo việc đánh thành, chiếm đất. Nên khi đội quân của Trần Quốc, Ngô Đạt đánh các cửa Đông, Nam. Các đội của Nghĩa, Lễ, Trí, Tín đánh phía Tây, Bắc, cùng tràn vào thành. Minh Giang truyền thu quân, tiếp quản doanh trại, phân loại, thẩm vấn tù binh, chỉ một lát là xong.<br />
<br />
Trời sáng Đào Kỳ chỉ huy tiếp thu xong Độ-khẩu, Hoa-bình, Mễ-dương. Đến trưa được tin Đào Hiển-Hiệu đã chiếm thành Phổ-khách. Không thấy tin tức Hoàng Thiều-Hoa, chàng hồi hộp lo nghĩ cho sư tỷ.<br />
<br />
Đến chiều Trần Huệ đã thực hiện xong hai chục cầu phao. Đại quân Cửu-chân, Quế-lâm, Tượng-quận qua sông hết. Mười lăm vạn quân đổ vào đất Thục chiếm ba thành.<br />
<br />
Bỗng Thần-ưng mang thư của Hoang Thiều-Hoa về, Đào Kỳ mở ra xem:<br />
<br />
“Ta cùng sư đệ Hiển-Hiệu chiếm Mễ-dịch dễ dàng. Hiển-Hiệu đem quân đánh Phổ-khách, ta đánh Đức-xương vào thành giờ Mùi. Sang giờ Thân thì Bình-nam vương Công-tôn Phúc mang quân từ Tây-xương trở lại. Ta xuất thành giao chiến, bất lợi. Thành Đức-xương bị địch chiếm lại. Ta bị vây ở Kim-xuyên”.<br />
<br />
Đào Kỳ thăng trướng truyền lệnh:<br />
<br />
– Quân sĩ đánh Độ-khẩu, Hoa-bình, Mễ-dịch thuộc đạo Tượng-quận cho nghỉ ở nhà dưỡng sức. Nay tuyển quân sĩ đạo Cửu-chân đi tiếp cứu Lĩnh-nam vương-phi. Còn binh sĩ đạo Quế-lâm làm trừ bị.<br />
<br />
– Đại tướng-quân Trần Huệ trấn đóng Vĩnh-nhân bảo vệ đầu cầu bên kia bảo đảm cho việc tiếp tế an toàn. Phó tướng Ngô Đạt chỉ huy Thủy-quân bảo vệ mặt thủy. Phấn-oai đại tướng-quân Minh Giang trấn thủ Độ-khẩu, Hoa-bình, Mễ-dương.<br />
<br />
– Đô-đốc Trần Quốc, sư tỷ Giao-Chi, chỉ huy đội Giao-long binh và đoàn đệ tử Mai-động dùng chiến thuyền vượt sông Nhã-long lên chặn đường rút lui của quân Thục từ Đức-xương trở về Tây-xương.<br />
<br />
– Các sư huynh Nhân, Nghĩa mỗi người lĩnh một vạn Kỵ binh đi làm tiền đội. Tôi với sư huynh Lễ dẫn một vạn Kỵ binh đi đội thứ nhì. Sư huynh Trí, Tín dẫn hai vạn Bộ binh đi tiếp ứng.<br />
<br />
– Ngũ-long công chúa trấn thủ dọc Kim-sa giang.<br />
<br />
Từ Độ-khẩu đến Kim-xuyên phải mất hai giờ sức ngựa. Đào Kỳ, Nguyễn Lễ tới nơi thấy Hoàng Thiều-Hoa đóng quân ở trên đồi Kim-xuyên. Binh sĩ nấp sau các gốc cây, hốc đá phòng thủ uy nghiêm. Quân Thục bao vây phía dưới, không tiến được. Chàng ra lệnh cho Nguyễn Nhân, Nghĩa, Lễ dẫn ba vạn Kỵ-binh vây vòng ngoài quân Thục. Quân Thục bị đánh từ trong ra, vây từ ngoài vào mà vẫn không rối loạn, dàn thành trận thế dựa lưng trên sông, lập trận.<br />
<br />
Đào Kỳ nói với anh em Nhân, Nghĩa, Lễ:<br />
<br />
– Tướng Thục dùng binh đến như thế kia, tôi e Lĩnh-nam mình không quá hai người theo kịp. Hãy trông kia: Họ chỉ có hơn vạn quân, đang bao vây sư tỷ Thiều-Hoa. Chúng ta kéo đến ba vạn kỵ-binh. Họ lui lại bắt chước Hàn Tín bối thủy lập trận, tỏ ý quyết chiến với ta. Được ta không tấn công vội. Giặc cùng cố vây, ta sẽ bị tổn hại nhiều.<br />
<br />
Đạo quân Đào Kỳ đã bắt tay được với đạo quân Hoàng Thiều-Hoa. Nàng mừng lắm nói:<br />
<br />
– Sư đệ vừa đến kịp. Quân ta thức suốt đêm qua đánh Mễ-dịch, Đức-xương, người ngựa mỏi mệt, thì tướng Thục đem quân từ Tây-xương đến. Quân họ đông hơn ta một chút, song tinh lực khỏe, ta bị sút kém, nên rút lên đồi cố thủ.<br />
<br />
Chàng cùng Thiều-Hoa tiến lại trước trận Thục. Tướng chỉ huy Thục tuổi khoảng 21-22, uy vũ hiên ngang, ngồi trên mình ngựa lên tiếng hỏi:<br />
<br />
– Nữ tướng kia là ai? Tướng kia là ai? Có thể cho ta biết tên không? Ta là Bình-nam vương Công-tôn Phúc đây.<br />
<br />
Đào Kỳ chỉ Thiều-Hoa:<br />
<br />
– Người này là Lĩnh-nam vương-phi sư tỷ của ta. Họ Hoàng tên Thiều-Hoa. Còn ta là Chinh-viễn đại tướng quân Đào Kỳ.<br />
<br />
Công-tôn Phúc nói:<br />
<br />
– Ta nghe nói Lĩnh-nam vương Nghiêm Sơn, giao cho một tướng trẻ, người Việt võ công cao cường chỉ huy đạo Lĩnh-nam 30 vạn quân. Thì ra là ngươi. Ta khâm phục ngươi. Địa thế Độ-khẩu, bốn con sông nước chảy như thác, mùa Đông lạnh thấu xương mà ngươi đánh úp được. Ngươi giỏi hơn Đặng Vũ, Ngô Hán, Mã Viện nhiều. Hiện ta chỉ có vạn rưỡi quân mà ngươi mang đến ba vạn Kỵ binh, một vạn rưỡi Bộ binh, kỵ binh của sư tỷ ngươi nữa, thì quân số ngươi gấp bốn ta. Song đã là anh hùng, thì sợ gì ?<br />
<br />
Đào Kỳ thấy tướng trẻ, khí vũ tiêu sái, lời lẽ đầy khí phách anh hùng, thì chàng sinh lòng mến phục nói :<br />
<br />
– Không phải vậy đâu. Ta còn ba vạn bộ binh sắp tới nữa. Ta lấy đông áp chế ngươi, thiếu vẻ anh hùng. Vậy nếu ngươi muốn, ta mở đường cho ngươi rút binh. Tiếc ơi là tiếc !<br />
<br />
Công-tôn Phúc hỏi :<br />
<br />
– Ngươi tiếc gì ?<br />
<br />
– Ta tiếc vì ta với ngươi bị đặt vào thế đối nghịch. Nếu không chúng ta kết thành bạn, chẳng thú lấm ư !<br />
<br />
Công-tôn Phúc nói :<br />
<br />
– Được, bây giờ thế này : Ta với ngươi đấu chưởng. Nếu ngươi thắng, ta xin đầu hàng. Nếu ta thắng ngươi, ngươi phải rút hết quân mã khỏi Thục. Cả hai trường hợp, chúng ta đều kết bạn như vậy được không ?<br />
<br />
Hoàng Thiều-Hoa bảo Đào Kỳ :<br />
<br />
– Sư đệ cẩn thận, ta đã đấu với y trước sau mười chưởng. Chưởng của y ngang với sư thúc Đào Thế-Hùng chứ không tầm thường đâu. Ta dặn sư đệ cẩn thận chứ không phải ta sợ sư đệ thua, mà sợ sư đệ đả thương y. Y dùng binh giỏi, võ công cao, khí vũ hiên ngang, giết chết thật uổng..<br />
<br />
Thiều-Hoa nói với Đào Kỳ, anh em Mai-động ngũ đều nghe thấy, họ nói nhỏ với nhau :<br />
<br />
– Đệ tử Cửu-chân có khác. Khí phách anh hùng của sư tỷ, sư đệ họ giống nhau, thấy người hào kiệt, là yêu tài. Dù hào kiệt đó là kẻ đối đầu với mình.<br />
<br />
Đào Kỳ xuống ngựa đến trước khu đất trống. Công-tôn Phúc cũng xuống ngựa. Đào Kỳ nói :<br />
<br />
– Công-tôn vương-gia ! Nào chúng ta xuất chiêu. Ta lớn tuổi hơn ngươi. Vậy ngươi xuất thủ trước đi.<br />
<br />
Công-tôn Phúc vận khí phát chưởng. Chưởng chưa ra, Đào Kỳ đã biết chưởng đó là chưởng dương-cương. Chàng vận nội công âm nhu đỡ. Bốp một tiếng. Chưởng của Công-tôn Phúc mất tích. Y ngẩn người ra, vận khí phát chiêu thứ nhì. Chưởng phong ào ào chụp xuống. Đào Kỳ phát chiêu Ngưu hổ tranh phong. Bùng một tiếng. Công-tôn Phúc lảo đảo lui lại. Người y muốn tê liệt. Đào Kỳ thấy chưởng của y nang với Phong-châu song quái. Chàng đợi y phục hồi sức lực mới vận đủ mười thành công lực phát chiêu Hải triều lãng lãng. Công-tôn Phúc thấy chưởng quái ác, vội vận khí chống đỡ. Binh một tiếng y bay bổng lên cao. Hoàng Thiều-Hoa vội vọt người lên nắm cổ áo y nhảy sang bên cạnh, thì lớp thứ nhì của chiêu Hải triều lãng lãng đã tới. Bình một tiếng, cây thông to bằng bắp đùi bên đường gẫy làm đôi đổ xuống. Lớp thứ ba ào ào phát ra. Đào Kỳ hướng vào ụ đất bên đồi. Ầm một tiếng đất đá bay mịt mù. Đến lớp thứ tư chàng hướng vào một tảng đá. Lớp này mạnh gấp 16 lần lớp đầu. Tảng đá lớn hơn người ôm bật lên cao. Chàng đánh tiếp lớp thứ năm. Tảng đá bay đến trúng một cây lớn hơn bắp đùi. Cây gẫy gục xuống.<br />
<br />
Công-tôn Phúc được Hoàng Thiều-Hoa cứu mạng. Y đứng nhìn năm lớp chưởng của Đào Kỳ mà kinh hồn động phách.<br />
<br />
Y chắp tay hướng Đào Kỳ:<br />
<br />
– Đào đại-ca, tiểu đệ chịu phục rồi.<br />
<br />
Đào Kỳ chạy lại nắm tay Công-tôn Phúc. Hai người quỳ giữa đồi, cùng hướng lên trời làm lễ, cùng khấn:<br />
<br />
“Chúng tôi là Đào Kỳ và Vương Phúc xin kết làm huynh đệ. Một lòng sống chết có nhau. Nếu ai ăn ở hai lòng thì trời tru, đất diệt”.<br />
<br />
Đào Kỳ hỏi Công-tôn Phúc:<br />
<br />
– Thì ra tiểu đệ họ Vương chứ không phải họ Công-tôn sao?<br />
<br />
Hai người lên ngựa thủng thỉnh dẫn quân về Đức-xương. Vương Phúc nói:<br />
<br />
– Tướng trấn thủ Đức-xương là em thứ nhì của đệ là Vương Lộc. Tướng trấn thủ Tây-xương là em thứ ba của đệ là Vương Thọ. Truyện đệ là con nuôi của Công-tôn Thuật rất dài, để đệ tường thuật cho đại ca nghe. Nguyên phụ thân đệ tên là Vương Nguyên, đứng hàng thứ sáu trong Thiên-sơn thất hùng.<br />
<br />
Hoàng Thiều-Hoa ngắt lời:<br />
<br />
– Có phải lệnh-tôn trước kia làm Đại tư-mã cho Ngỗi Hiêu không?<br />
<br />
– Đúng thế.<br />
<br />
– Thiên-sơn thất hùng là những ai?<br />
<br />
– Thiên-sơn thất hùng là bảy người sư huynh, sư đệ thuộc phái Thiên-sơn.<br />
<br />
Đào Kỳ xen vào:<br />
<br />
– Tôi nghe Khất đại-phu nói đến một lần. Khất đại-phu là bạn thân của Thiên-sơn lão tiên. Vậy Thiên-sơn lão tiên có phải là sư phụ của Thiên-sơn thất hùng không?<br />
<br />
Vương Phúc lắc đầu:<br />
<br />
– Không! Thiên-sơn lão tiên là Thái sư phụ của Thiên-sơn thất hùng. Thất hùng gồm: Công-tôn Thục hiện là Thục-đế. Công-tôn Khôi là Bắc-bình vương hiện giữ quyền Tả tướng-quân. Người thứ ba là Trường-sa vương Công-tôn Thiệu trấn thủ Kinh-châu mới bị thua, lui về giữ Xuyên-khẩu, Bạch-đế. Người thứ tư là Điền Sầm tước phong Tần-vương, lĩnh chức Tư-không. Người thứ năm là Tạ Phong tước Tề-vương, lĩnh chức Tư-đồ. Người thứ sáu là gia phụ. Người thứ bảy là Triệu Khuôn tước Lũng-tây vương lĩnh chức Tể-tướng. Khi mới khởi đại nghiệp, phụ thân đệ võ công cao nhất, laị thi đỗ Hiếu-liêm, văn võ toàn tài, giữ chức Tể-tướng. Không ngờ Công-tôn Khôi lòng lang, dạ thú, thấy gia mẫu xinh đẹp, muốn cướp, mới vu cho gia phụ làm phản, bất thần đem quân đến vây bắt cả nhà. Gia phụ thoát thân được.<br />
<br />
Công-tôn Thuật khám phá ra mưu đồ độc ác của em mình. Y truyền vào ngục đem ba anh em đệ về nuôi dưỡng, nhận làm con nuôi. Bấy giờ đệ mới ba tuổi, em Thọ mới ba tháng. Anh em đệ mơ mơ màng không biết gì. Thuật bịa chuyện rằng: Phụ thân đệ là tướng thuộc quyền y, chết trận, y đem về nuôi. Lớn lên Thuật phong đệ tước Bình-nam vương, cùng hai em trấn thủ vùng Nam Ích-châu. Khi đệ tới đây trấn thủ, thì người nhũ mẫu của đệ khi xưa xuất hiện, kể cho chúng đệ biết mọi sự.<br />
<br />
Thiều-Hoa hỏi:<br />
<br />
– Vì vậy sư đệ mới hàng Hán, mượn tay Hán trả thù nhà giùm phải không?<br />
<br />
Vương Phúc nói:<br />
<br />
– Đúng thế, đệ sẽ viết thư cho hai em tôi cùng về hàng. Tình hình bên Thục đệ biết hết. Ngày mai chúng ta tiếp thu Tây-xương rồi tiến đánh Việt-tây, Mỹ-cơ. Sau đó đến Hán-nguyên là vào Thành-đô được rồi.<br />
<br />
Hết Hồi 43</div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://tvvn.org/forum/forumdisplay.php?f=135">Fiction</category>
			<dc:creator>Phượng Hoàng 7</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3921</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Động Đình Hồ Ngoại Sử - Quyển I - Hồi 42 - Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ</title>
			<link>http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3920&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Thu, 19 Nov 2009 21:47:19 GMT</pubDate>
			<description>HỒI THỨ BỐN MƯƠI HAI 
 
Thiên Ưng Lục Tướng 
  
 
Trưng Nhị kiểm điểm lại, ước tính bên Thục tổn thất khoảng trên một vạn người. Lối tính cổ cứ một...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><b>HỒI THỨ BỐN MƯƠI HAI</b><br />
<br />
<i>Thiên Ưng Lục Tướng</i><br />
 <br />
<br />
Trưng Nhị kiểm điểm lại, ước tính bên Thục tổn thất khoảng trên một vạn người. Lối tính cổ cứ một bị bắt, có 4 vừa bị thương, vừa bị chết. Còn bên Hán chỉ có hơn ba nghìn chết, khoảng một vạn bị thương. Binh tướng bên Hán đồn đại Trưng Nhị, Phương-Dung có tài như Khương Thái-Công, Tôn Tử, Ngô Khởi; Hồ Đề, Phật-Nguyệt có phép tiên.<br />
<br />
Ngược lại trong lòng Đặng Vũ ẩn tàng một mối lo nghĩ rằng hắn không bắt được Công-tôn Thuật, không làm chúa được đất Thục. Hắn nghĩ cách, làm cách nào vào Thành-đô trước, nhưng nghĩ hoài không ra. Binh tướng được nghỉ ngơi dưỡng sức.<br />
<br />
Nghiêm Sơn tổ chức cuộc khao quân thật lớn, thăng cấp những tướng sĩ có công, phủ tuất những gia đình tử sĩ. Trong tiệc khao quân, tướng sĩ Hán uống rượu ăn thịt vui vẻ hơn bao giờ hết. Vì đã từ lâu đạo Kinh-châu của Đại tư-mã Đặng Vũ và Phiêu-kỵ đại tướng quân Sầm Bành đánh nhau với Công-tôn Thiệu bị bại mấy trận, binh sĩ chết không được bổ sung. Bây giờ Nghiêm Sơn mang các anh hùng Lĩnh-nam sang trợ chiến. Trận đầu, không dùng bất cứ một tướng nào bên Hán, mà thắng Thục oanh liệt.<br />
<br />
Trước trận họ thấy tuyệt diệu nhất là Hồ Đề, một cô gái người Mường, trang phục xanh, đỏ kỳ lạ, nói tiếng Hán không sõi, tính tình bộc trực, võ công không cao, nhưng với đội Thần-ưng của nàng làm cho cả hai bên đều kinh hoảng. Rồi nàng dùng ngựa Ô cho đớp hai quả cật ngựa của Công-tôn Thiệu. Nàng lại phóng ám khí làm Công-tôn Thiệu phải lột quần áo, còn dùng trăn trói tướng Thục. Họ thấy cô gái ẻo lả, thâm trầm ít nói như Phật-Nguyệt, mà đánh bại đại tướng quân bên Thục là Vũ Chu.<br />
<br />
Trong tiệc, Nghiêm Sơn nhận thấy đám anh hùng Lĩnh-nam dường như không vui vẻ, chỉ ăn uống lấy lệ. Vương cố tìm hiểu nguyên do. Đợi tan tiệc, vương cùng Phương-Dung đến trại anh hùng Lĩnh-nam, thì tất cả đang họp. Bên ngoài Vi Đại-Lâm cùng đội Thần-ngao canh phòng rất nghiêm mật. Trên trời một đoàn Thần-ưng bay lượn, tuần phòng. Sún Lé đứng trên đài cao chỉ huy. Nghiêm Sơn nói với Phương-Dung:<br />
<br />
– Sư muội Trưng Nhị có tài đế-vương chứ không phải người thường. Năm nay nàng mới 24 tuổi mà tài đã muốn hơn ta, nếu cứ đà tiến triển này trong vòng hai năm nữa, trong thiên hạ không ai địch nổi nàng.<br />
<br />
Phương-Dung cười:<br />
<br />
 – Như đại-ca thấy, võ công cao nhất là Khất đại-phu, đạo đức nhất là Nam-hải nữ hiệp, yêu nước nhất là Đào-hầu Cửu-chân, thế mà em không hiểu sao tất cả đều quy phục Trưng Trắc, Trưng Nhị. Chính em, võ công cao hơn Nhị Trưng; điều binh mưu trí, em hơn Trưng Nhị, nhưng tự thấy mình quy phục Trưng sư tỷ, sư tỷ nói gì em không dám cãi. Ngay sư tỷ Hồ Đề làm nữ chúa 72 động trên vùng Tây-vu, sống với thiên nhiên, coi trời nhỏ bằng cái vung, thế mà Trưng sư tỷ nói gì cũng nghe răm rắp.<br />
<br />
 Nghiêm Sơn cười:<br />
<br />
– Để ta phân tích cho sư muội nghe. Về xung phong hãm trận, hành quân đánh giặc, các vị như Đào Thế-Kiệt, Đinh Đại, Lại Thế-Cường, Đinh Công-Thắng, Triệu Anh-Vũ, Lương Hồng-Châu thực là đại tài. Nhưng họ chỉ là chiến tướng, chứ không phải đại tướng. Phàm làm đại tướng, trên phải thông thiên văn, dưới phải thông địa lý; lại biết mình, biết người, biết điều khiển các chiến tướng. Sư muội, Đào Kỳ, Vĩnh-Hoa, Trưng Nhị, Trưng Trắc đều có cả. Nhưng Vĩnh-Hoa thiên về mưu và kế. Sư muội giỏi dùng binh hơn. Sư muội giỏi hơn cả ta, nên ta để sư muội làm Tổng quân sư. Đặng Vũ, Ngô Hán đều có tài đại tướng, họ không biết kết hợp giữa mưu và trí, thành tài dụng binh, vì vậy ta để Trưng Nhị với Vĩnh-Hoa làm quân sư cho họ, ta để Khất đại-phu, Phật-Nguyệt theo tòng chinh giúp họ. Chỉ riêng có Đào tiểu sư đệ, y có đủ tài. Y biết kết hợp mưu với trí, giỏi dụng binh, y vừa là đại tướng vừa là quân sư. Võ công y rất cao, ta dạy y kỹ về xung phong, hãm trận, không cần người theo giúp y về võ lực. Ta sợ y trẻ quá, có điều gì quá đáng chăng. Ta để Hoàng sư tỷ đi bên cạnh. Ta biết trên đời này y chỉ vui lòng nghe lời có ba người: Đào hầu, Đinh hầu và Hoàng sư tỷ.<br />
<br />
Nghiêm Sơn tiếp:<br />
<br />
– Có một điều, chỉ Nhị Trưng là có tài thu phục nhân tâm. Tài đó là tài đế vương. Chính vì vậy mà những người ngỗ nghịch như sư muội, như Hồ Đề đều khuất phục.<br />
<br />
Phương-Dung cười:<br />
<br />
– Còn đại ca! Đại ca biết điều khiển các tướng, biết thu phục nhân tâm, nên mới là Lĩnh-nam vương. Em như đại ca, em kéo quân về Lĩnh-nam xưng là Hoàng-đế. Trưng Nhị sư tỷ làm Thừa-tướng, Đào tam lang làm Tư-mã, em làm Tư-đồ.<br />
<br />
Câu nói đó của Phương-Dung, đối với Nghiêm Sơn là câu nói đùa của một thiếu nữ vô tư, vương cười khì bỏ qua. Vương đâu có biết Trưng Nhị, Phương-Dung đã bàn với nhau, hầu dò ý vương.<br />
<br />
Nghiêm Sơn cười:<br />
<br />
– Con chim thích bay trên trời cao, con nai thích gặm cỏ bên bờ suối. Nghĩa huynh Quang-Vũ của ta thích làm hoàng-đế, còn ta, ta thích cùng Hoàng sư tỷ, ruổi ngựa ngao du bốn phương, ngắm cảnh đẹp của tạo hóa mà thôi.<br />
<br />
Phương-Dung gật đầu:<br />
<br />
– Hoàng sư tỷ cũng muốn thế, hôm trước em gọi Hoàng sư tỷ bằng vương-phi, sư tỷ nhíu mày lại, tỏ ý không thích. Em nghĩ kiếp trước đại ca với sư tỷ là Sào Phủ với Hứa Do thì đùng hơn.<br />
<br />
Vi Đại-Lâm đến trước mặt Nghiêm Sơn hỏi;<br />
<br />
– Lĩnh-nam vương gia! Ngài có việc gì không? Lão còn vào báo với Trưng cô nương.<br />
<br />
Nghiêm Sơn gật đầu:<br />
<br />
– Lão tướng vào báo với Trưng sư muội rằng có ta với Dung muội cần gặp anh hùng Lĩnh-nam.<br />
<br />
Vi Đại-Lâm trở vào một lúc thì Trưng Nhị ra đón. Nghiêm Sơn khen:<br />
<br />
– Trưng muội bố phòng như thế này, đến con kiến cũng không lọt vào được, huống hồ là gian tế giặc.<br />
<br />
Mặt Trưng Nhị lạnh lùng mời Nghiêm Sơn vào trướng, để ngồi lên thủ vị cao nhất. Nghiêm Sơn thấy không khí lạnh lùng, vương hỏi:<br />
<br />
– Từ hơn năm nay, Đặng Vũ đánh Thục bị thất trận liên tiếp. Cho nên thiên tử mới triệu ta về đánh giặc. Chiến thắng đầu tiên hoàn toàn nhờ các vị sư thúc, sư bá, sư huynh, sư đệ. Nhưng trong buổi tiệc khao quân này, ta thấy các vị đều có ý không vui. Vì vậy ta đến đây tìm hiểu tại sao. Trong chúng ta là tình huynh đệ, chứ không phải một vị Lĩnh-nam vương đối với tướng sĩ.<br />
<br />
Hồ Đề liếc nhìn Trưng Nhị hỏi ý kiến. Trưng Nhị gật đầu tỏ ý ưng thuận. Hồ Đề đứng lên nói:<br />
<br />
– Khi rời Lĩnh-nam, tiểu muội được biết rằng trước đây Công-tôn Thuật là một mệnh quan của nhà Hán. Trấn giữ sáu quận, rồi nhân lúc Vương Mãng cướp ngôi, mà xưng đế đất Thục, chiếm 41 quận Tây-xuyên, sau tiến chiếm 9 quận Kinh-châu và 34 châu quận Hán-trung. Công-tôn Thiệu hợp với Ngỗi Hiêu chiếm Lũng-hữu cùng xưng đế. Hán-đế dẹp yên Ngỗi Hiêu, đất Lũng-hữu yên. Duy còn đất Thục là mối loạn, nên chúng ta giúp Hán-đế dẹp Công-tôn Thuật.<br />
<br />
Nghiêm Sơn gật đầu:<br />
<br />
– Thì bây giờ sư muội thấy đúng rồi đó.<br />
<br />
Thiên-thủ viên hầu Lại Thế-Cường tiếp lời Hồ Đề:<br />
<br />
– Qua trận đánh vừa rồi, cũng như khi xem xét dân tình, tôi thấy Công-tôn Thuật sở dĩ xưng đế, đánh bại Hán vì y xuất thân võ lâm. Võ đạo của y rất cao, y là một trong Thiên-sơn thất hùng. Nước Thục trên từ vua, xuống dưới tướng sĩ, đối xử với nhau như đám Lĩnh-nam chúng ta. Dân chúng Ích-châu sung sướng hơn dân Kinh-châu. Tôi hỏi dân Kinh-châu họ nói rằng thời Tây-Hán họ không khổ, không sướng. Đến khi Xích Mi, Vương Mãng chiếm, họ khổ vô cùng. Sau khi Thục chiếm họ rất sung sướng. Bây giờ lại thuộc Hán, họ khổ như hồi Xích Mi cai trị. Cho nên chúng tôi có cảm tưởng mình giúp kẻ bất nhân, đánh người nhân. Do đó trong tiệc chúng tôi không vui, họp nhau đây tìm hiểu sự thực.<br />
<br />
Nghiêm Sơn ngẫm nghĩ một lúc rồi nói:<br />
<br />
– Ta rời Quang-Vũ sang Lĩnh-nam đúng lúc chiếm Kinh-châu, nên không biết sau đó việc nội trị thế nào. Chúng ta là nghĩa hiệp, các vị nghiên cứu xem Thục có điều gì khiến dân chúng sung sướng; Hán có điều gì khiến dân chúng đau khổ, chúng ta bỏ những điều khổ cho dân, làm những gì hạnh phúc cho dân. Đặng Vũ tuy thống lãnh đạo quân này, nhưng ta ở trên. Thiên tử cho ta trọn quyền thay người, các vị đề nghị gì, ta sẵn sàng theo. Thiên tử là ta, ta là các vị. Vậy các vị đề nghị đi.<br />
<br />
Vi Đại-Sơn tiếp:<br />
<br />
– Ngoài trận lão thấy Vũ Chu anh hùng khí phách hiên ngang. Tướng sĩ Thục bị bắt, đều chịu chết chứ không chịu hàng. Họ giống chúng ta, chúng ta chẳng nên đánh.<br />
<br />
Trần Năng lắc đầu:<br />
<br />
– Lão bá nói thế thì đúng rồi, nhưng chúng ta cần giúp Quang-Vũ để phục hồi Lĩnh-nam. Vì vậy dù biết đánh người nhân cũng phải ra tay. Phục hồi đất nước trên hết.<br />
<br />
Câu nói của Trần Năng làm mọi người tỉnh ngộ.<br />
<br />
Sáng hôm sau Nghiêm Sơn gọi Đặng Vũ đến nói:<br />
<br />
– Đặng đại tư-mã tài ba lỗi lạc, hãy lo chiếm Xuyên-khẩu vào Thành-đô. Ta với quân sư Phương-Dung đi Hán-trung ngay, hầu gặp Xa-kỵ đại tướng quân Ngô Hán, duyệt xét tình hình thế nào mới được. Việc quan trọng nhất ta muốn nói với Đại tư-mã rằng: Đất Ích-châu là nơi trước đây Cao-tổ nhà Hán ẩn náu, sau quật khởi đánh Sở bá vương. Vì vậy tướng quân đi đến đâu cũng phải lấy nhân nghĩa đối với trăm họ, đó là điều cần thiết vậy.<br />
<br />
Đặng Vũ, Trưng Nhị tiễn Nghiêm Sơn, Phương-Dung lên đường. Thông thường các tướng soái đi đâu, binh tướng theo hầu cả hàng vạn để bảo vệ. Nhưng Nghiêm Sơn, Phương-Dung là người võ công cao cường, không cần hộ tống. Vương chỉ mang theo mấy thần ưng làm phương tiện liên lạc, với mười tiễn thủ của phái Hoa-lư.<br />
<br />
Tiễn Nghiêm Sơn đi rồi, lúc trở về Hồ Đề nói với Đặng Vũ:<br />
<br />
– Ngày mai mình chuẩn bị đánh thành Xuyên khẩu. Ở không buồn quá!<br />
<br />
Đặng Vũ rùng rình chưa muốn tiến công, cho tới một hôm tế tác báo cho biết Thành-đô đang rúng động vì đạo quân phía Nam đã tiến tới Long-xương, Hán-nguyên. Đạo Lĩnh-nam tạm ngừng tiến công để kinh lược các thành trì, thiết lập hệ thống cai trị, đồn ải cho an toàn mới vào Thành-đô. Còn đạo quân Tây-xuyên đã đánh được Dương-bình quan, chia làm hai tiến đánh Ba-trung, Kiếm-các. Thành-đô vội đưa binh tướng ra trấn thủ mặt Nam, Bắc. Công-tôn Thuật lo lắng vô cùng. Đặng Vũ nghe báo cuống cuồng, vội tập họp tướng sĩ đánh Bạch-đế, Xuyên-khẩu càng gấp càng tốt. Trưng Nhị biết tâm lý y, nàng nên cứ rùng rình không lên tiếng.<br />
<br />
Đặng Vũ hỏi:<br />
<br />
– Trưng quân sư, bây giờ chúng ta phải tiến quân cho mau mới được.<br />
<br />
Trưng Nhị giả vờ:<br />
<br />
– Được, vậy chúng ta chiếm Xuyên-khẩu, rồi chia quân ra làm ba. Một đánh Bạch-đế, một đánh Vũ-khê, một đánh Vũ-lăng được chăng?<br />
<br />
Đặng Vũ muốn đánh nhanh, không đồng ý:<br />
<br />
– Theo ý tôi, ta tiến đánh Xuyên-khẩu rồi vây thành Bạch-đế cầm chân giặc. Ta tiến dọc theo sông Trường-giang đánh Bồ-lăng. Tới Bồ-lăng chia làm hai, một theo sông Bồ-giang, một theo sông Nê-giang, tiến đến uy hiếp Thành-đô.<br />
<br />
Trưng Nhị càng đủng đỉnh:<br />
<br />
– Đánh như vậy thì mau đấy, nhưng những ải phía sau ta chặn đường tiếp tế, ta kẹt ở giữa thì nguy đấy. Chi bằng ta cứ thong thả mặc cho hai đạo quân kia vào Thành-đô trước.<br />
<br />
Đặng Vũ tức đến đỏ mặt lên, nhưng y vì cần Trưng Nhị nên phải nín nhịn, y nói ngọt:<br />
<br />
– Trưng cô nương, xin cô nương giúp tôi... Trọn đời tôi nguyện không quên ơn cô nương.<br />
<br />
Trưng Nhị thấy đùa như vậy đã đủ rồi, nàng nói:<br />
<br />
– Thôi được, hôm nay chúng ta đánh chiếm Xuyên-khẩu, bao vây thành Bạch-đế. Như vậy Đại-tư-mã vừa ý chứ?<br />
<br />
Đặng Vũ mừng cuống cuồng lên, bưng ấn kiếm hai tay đưa trước mặt Trưng Nhị:<br />
<br />
– Xin Trưng quân sư điều binh cho.<br />
<br />
Đặng Vũ sai đánh trống triệu tập quân sĩ đến nghe lệnh. Trưng Nhị lên trước trướng ngồi:<br />
<br />
– Hôm Đặng đại-tư mã muốn chúng ta đánh Xuyên-khẩu, nhất quyết giờ Tý đêm nay phải vào trong thành. Tướng sĩ nào lui thì chém đầu làm hiệu lệnh dù cấp nào cũng quyết không tha.<br />
<br />
Các tướng Hán nghe nói, mặt nhìn mặt ngẩn ngơ. Kiến-oai đại tướng quân Cảnh Yểm đứng lên thưa:<br />
<br />
– Thưa quân sư trận đầu quân sư không dùng đến chúng tôi, chỉ dùng các tướng Lĩnh-nam mà thắng giặc. Hôm trước giặc cùng ta dàn trận thì dễ, chứ bây giờ tướng giặc võ công cao, quân sĩ tinh luyện, chúng nhất quyết thủ trong thành làm sao mà đánh vào được. Trước đây Đại tư-mã đã cùng anh em chúng tôi đánh bao phen, chỉ chết uổng sĩ tốt mà thôi. Bây giờ quân sư bắt phải vào thành giờ Tý đêm nay, thì thực không thể nào được.<br />
<br />
Trưng Nhị nhìn Đặng Vũ cười:<br />
<br />
– Đại hội quân ở Quế-lâm, quân sư Phương-Dung đã định sẵn kế sách. Chúng ta đánh bại các cao thủ bên giặc, cần thắng một trận để cho giặc mất nhuệ khí, bấy giờ sẽ đánh thành. Hai vấn đề đầu tiên, chúng ta đã thành công. Bây giờ đánh thành không khó khăn gì nữa. Trước kia, các vị thua vì binh sĩ chết không được bổ sung, khí thế giặc mạnh. Bây giờ ngược lại khí thế ta mạnh, binh giặc không được bổ sung.<br />
<br />
Nàng cầm binh phù nói:<br />
<br />
– Nữ tướng Phật-Nguyệt, chỉ huy toàn bộ hải quân đánh chiếm cảng Độ-hà. Nữ tướng Hồ Đề cho Phật-Nguyệt mượn đội Thần-ưng. Khi hai bên dàn quân đánh nhau, cho Thần-ưng xuất trận làm địch phải rối loạn. Hải-quân giặc bỏ chạy không cần đuổi xa, đến bên Cổ-lăng thì đóng lại, bao vây mặt sau thành Bạch-đế.<br />
<br />
 Hồ Đề hỏi :<br />
<br />
– Thần-ưng của tôi có một Lữ, gồm 600 con, chia thành từng Lượng 25 con. Cho mượn hết hay chỉ mượn một vài Tốt ? Sau khi đuổi giặc thì trả về hay vẫn mang theo bao vây thành Bạch-đế ?<br />
<br />
Trưng Nhị đáp :<br />
<br />
– Đánh nhau dưới nước, vũ khí quan trọng là cung tên. Khi Phật-Nguyệt dùng cung tên bắn giặc tất nhiên giặc bắn lại. Nếu ta dùng Thần-ưng từ trên bổ xuống đánh, địch phải dùng cung tên bắn Thần-ưng, như vậy hàng ngũ rối loạn. Khi đến Cổ-lăng, Thần-ưng vẫn được giữ để còn đánh thủy quân giặc nữa.<br />
<br />
Phật-Nguyệt hỏi :<br />
<br />
– Đô-đốc Lưu Long hiện coi thủy quân, vậy tôi là chủ tướng hay Lưu Long là chủ tướng ?<br />
<br />
Đặng Vũ đáp :<br />
<br />
– Cô nương Phật-Nguyệt làm chủ tướng.<br />
<br />
Trưng Nhị tiếp :<br />
<br />
– Kiến-oai đại tướng-quân Cảnh Yểm mang hai vạn quân đánh cửa Bắc, cần giữ vững trận tuyến không cho giặc chạy ra. Xin sư bá Lại Thế-Cường theo giúp Cảnh tướng-quân.<br />
<br />
Lại Thế-Cường hỏi :<br />
<br />
– Quân mã của Kiến-oai đại tướng-quân gồm ba vạn. Đạo quân Nhật-nam của tôi gồm bốn vạn Bộ-binh, bẩy nghìn năm trăm kỵ binh, nếu đem cả đi thì e rằng nhiều quá chăng ? Còn mang đi một phần thì mang quân của ai ?<br />
<br />
Trưng Nhị nói :<br />
<br />
– Binh lính của Cảnh đại tướng-quân đánh nhiều trận đã mệt mỏi, cho họ nghỉ dưỡng sức. Sư bá mang quân Nhật-nam xuất trận.<br />
<br />
Nàng tiếp :<br />
<br />
– Bô-lỗ đại tướng-quân Mã Vũ mang hai vạn quân đánh cửa Nam. Nếu thấy giặc bỏ chạy, thì lùi lại cho chúng thoát khỏi thành. Sư muội Lê Chân mang theo một trăm thớt voi giúp Mã tướng-quân. Cứ thẳng đường đuổi không sợ phục binh, vì giặc trong thành Bạch-đế không dám xuất ra cứu đâu, nếu chúng xuất ra, sẽ bị thủy-quân ở Cổ-lăng đánh úp thành.<br />
<br />
– Chinh-lỗ đại tướng-quân Tế Tuân mang hai vạn quân phục ở Vu-sơn, khi giặc bỏ thành chạy, chờ một nửa đi qua hãy đổ ra đánh. Tuy bắt không được tướng giặc, nhưng cũng bắt được một số quân. Sau đó tiến vào cửa Tây thành. Xin sư thúc Trần Năng theo giúp Mã tướng-quân.<br />
<br />
– Chúng ta bỏ trống cửa Tây cho giặc chạy về thành Bạch-đế.<br />
<br />
– Đặng đại-tư-mã, Sầm đại tướng-quân đánh vào cửa Đông làm nỗ lực chính. Xin Đặng đại tư-mã cho binh sĩ chuẩn bị thang, cung nỏ sẵn.<br />
<br />
Ngừng một lát, nàng nói :<br />
<br />
– Tôi nhắc lại là cung nỏ với đoản đao phải sẵn sàng. Chúng ta đánh cửa Đông gấp, giặc sẽ lên thành dùng cung nỏ bắn xuống và lăn gỗ đá. Nữ tướng Hồ Đề chuẩn bị đội Thần-phong. Khi pháo lệnh nổ, cho đội Thần-phong đánh quân trên thành. Pháo lệnh đó cũng là lệnh cho quân sĩ bắc thang lên. Chúng ta có một phần tư giờ để lên thành mà thôi. Vì chậm trễ, giặc đem lửa đốt, Thần-phong bỏ chạy, tất ta gặp nguy. Binh sĩ lên mặt thành rồi cung nỏ bắn lùi giặc, mở cửa cho đại-quân tiến vào. Đặng đại tư-mã, Chinh-di đại tướng-quân đánh vào giữa thành. Phấn-oai đại tướng-quân Lưu Hân với tôi đánh sang cửa Nam. Hổ-oai đại tướng-quân Phùng Tuấn và sư tỷ Hồ Đề đánh sang cửa Bắc. Bấy giờ giặc bỏ thành chạy, chúng ta không cần đuổi theo, vì đã có phục binh chặn đường bắt sống.<br />
<br />
Trước đây khi hội quân ở Quế-lâm, Trưng Nhị và Hồ Đề có hứa sẽ làm cho quân trên thành tê liệt trong vòng nửa giờ, giúp Đặng Vũ đánh thành. Bấy giờ Đặng Vũ hỏi rằng đạo quân mà Hồ Đề làm tê liệt quân trên thành là quân gì ? Hồ Đề không trả lời, nàng sợ lộ bị giặc biết, giặc sẽ có cách chống. Bây giờ Đặng Vũ mới biết là đội ong, nếu địch quân biết trước sẽ dùng lửa chống lại, e khó thành công.<br />
<br />
Các đạo quân lục tục lên đường. Đặng Vũ với Trưng Nhị vừa lên ngựa đi được một lát, chưa tới thành Xuyên-khẩu có thám mã về báo :<br />
<br />
– Thủy-quân giặc bỏ chạy, nữ tướng Phật-Nguyệt đang cho quân đuổi theo.<br />
<br />
Nguyên Phật-Nguyệt là người cơ mưu, võ công cao cường. Lúc nàng đến cảng thủy quân thì Lưu Long, Đoàn Chí đã chờ sẵn. Nàng ra lệnh cho Lưu Long dàn chiến thuyền, khua chiêng trống tiến lên đánh quân Thục. Thủy quân Thục đông hơn Hán lại đóng ở thượng-lưu sông, tấn công như vũ bão. Phật-Nguyệt là đệ tử yêu của Nguyễn Phan, khinh công của nàng ngang với Đào Kỳ, Phương-Dung. Nàng chỉ nhún mình mấy cái đã leo đến đỉnh cột soái thuyền quan sát. Thủy quân Thục chia làm bốn cánh, dàn ra thành đội hình như một tam giác. Phía trước ba đội : Trung quân, tả, hữu. Phiá sau là đội trừ bị. Mỗi đội phía trước có một soái thuyền rất lớn, đội phía sau có năm soái thuyền, một số thuyền nhỏ lui tới tiếp tế cho các chiến thuyền phía trước. Phật-Nguyệt ít đọc binh thư, chưa biết gì về thủy chiến, hơi bỡ ngỡ. Nàng nhìn bên Hán cũng dàn trận tương tự. Là người thông minh, nàng nghĩ:<br />
<br />
– Hai bên bắn nhau thế này mà mình ở dưới hạ lưu, địch thượng lưu thì mình yếu thế. Vậy phải cho hai bên cận chiến, thế thượng lưu của địch sẽ mất đi.<br />
<br />
Nàng gọi Sún Lé, người chỉ huy Thần-ưng hỏi :<br />
<br />
 – Sư đệ, nếu hai bên đánh lẫn nhau, Thần-ưng có cách nào phân biệt giữa ta và địch không ?<br />
<br />
Sún Lé cầm đầu Tây-vu Thiên-ưng, tính tình tinh nghịch hơn cả Hồ Đề, nhiều mưu lắm mẹo, nó nghe Phật-Nguyệt hỏi thế thì gật đầu :<br />
<br />
– Có chứ, quân Hán mặc quần áo xanh, quân Thục mặc quần áo sậm. Kể từ lúc giáp chiến đến giờ, Thần-ưng đã phân biệt được giữa ta và địch. Tùy chị muốn, em sẽ ra lệnh cho Thần-ưng chỉ tấn công những ai mặc quần áo mầu nâu sậm thôi.<br />
<br />
Phật-Nguyệt gọi Lâu-thuyền tướng-quân Đoàn Chí và đô-đốc Lưu Long lại dặn :<br />
<br />
– Bây giờ thế này, hai tướng-quân cho thuyền xuôi theo dòng nước, ryt lui nhưng vẫn giữ vững đội hình. Như vậy mình không phải xuất lực chèo. Giặc đuổi theo thì mình vẫn cứ lui từ từ, cho quân bắn cầm chừng. Cố giữ đôi bên khoản g cách một tầm tên. Chúng ta sẽ cho ba soái thuyền vọt về trước. Lưu tướng-quân đánh bên phải, tôi đánh vào giữa. Đoàn tướng-quân đánh vào bên trái. Khi thấy soái kỳ của giặc bị tôi chặt gãy, sư đệ Sún Lé cho Thần-ưng bay lên tấn công. Đợi hàng ngũ địch loạn mới cho quân đuổi theo.<br />
<br />
Nàng dặn Sún Lé :<br />
<br />
– Sư đệ có 600 Thần-ưng, chia thành 6 tốt phải không ?<br />
<br />
– Không em để một tốt cho sư tỷ Hồ Đề dùng. Em mang theo 5 tốt, mỗi tốt 100. Một tốt chia làm 4 lượng. Mỗi lượng 25 Thần-ưng.<br />
<br />
– Em có mấy người điều khiển Thần-ưng?<br />
<br />
– Tất cả có 5 người với em nữa là sáu. Chúng em đều nhỏ tuổi cả. Lớn nhất 16, nhỏ nhất 14.<br />
<br />
– Vậy thì tốt lắm. Em trấn nhậm trung ương. Đứng trên soái hạm chỉ huy. Đầu tiên cho bốn tốt xuất trận. Một tốt đánh vào phải, một tốt đánh vào trái, một đánh vào giữa, một đánh vào hậu quân địch. Còn một tốt cho bay lượn trên không làm trừ bị. Còn đánh cách nào thì tùy ý em.<br />
<br />
Sún Lé cười như nắc nẻ:<br />
<br />
– Có cho các tướng Thục ăn phân chim không?<br />
<br />
Phật-Nguyệt là đệ tử của Nguyễn Phan, nên tính tình hiền lành, nhu mì ít tinh nghịch như Hồ Đề, Trần Năng, nàng tát yêu Sún Lé:<br />
<br />
– Không cần, hôm trước tướng bên giặc oai phong, cho Thần-ưng thả phân xuống, làm mất thể diện chúng. Hôm nay là trận đánh sinh tử, cần cho tấn công cào mặt, móc mắt.<br />
<br />
Sún Lé hỏi:<br />
<br />
– Có bằng này lối đánh: Một là cho Thần-ưng bất thần tấn công, nhào xuống mổ mắt, cào mặt mấy cái rồi bay lên không. Địch bị thương, tất ngửa mặt lên trời theo dõi. Em cho chim bay lượn đe dọa. Thấy chúng cúi xuống, em cho Thần-ưng nhào xuống đánh. Chúng ngửa lên thì cho Thần-ưng bay lượn đe dọa, làm chúng không thể tấn công về trước. Còn lối đánh thứ nhì, thì cho từng lượng Thần-ưng một từ trên cao nhào xuống đánh, mổ mắt cào mặt, rồi lại bay lên. Tiếp theo lượng thứ nhì, cứ như vậy trên trời mỗi cánh quân đều có ba lượng, một lượng tấn công. Chị thích lối nào?<br />
<br />
Lưu Long nói:<br />
<br />
– Nên đánh lối thứ nhì hay hơn. Khi em cho Thần-ưng đánh, thì bọn tôi chèo thuyền lên tấn công, địch phải thua.<br />
<br />
Phật-Nguyệt chỉ về phía trước nói:<br />
<br />
– Em thử cho tấn công đội thứ nhì chị xem nào?<br />
<br />
Sún Lé cầm tù-và thổi một hơi dài, lập tức có năm tiếng tù-và của những Sún chỉ huy Thần-ưng ở các thuyền khác đáp lại. Sún Lé lại cầm tù-và thổi liền bẩy tiếng to nhỏ khác nhau. Lập tức soái thuyền phía sau có một thiếu niên khác nhỏ tuổi hơn Sún Lé một chút, leo lên cột buồm tay cầm năm lá cờ xanh, vàng, đỏ, trắng và đen phất, lát sau có tiếng kêu ré trên không của loài chim, rồi một đám Thần-ưng từ xa bay tới chia làm 5 đội, mỗi đội 25 con trông rất đều đặn. Đàn Thần-ưng bay vòng vòng trên trời như thao diễn.<br />
<br />
Sún Lé nói với Phật-Nguyệt:<br />
<br />
– Thằng Sún Lùn đang thao diễn dấy! Em cho lệnh tấn công đây.<br />
<br />
Nói rồi nó cầm tù-và thổi ba tiếng dài, lập tức Sún Lùn cầm cờ xanh phất một cái, đội hình Thần-ưng đi đầu kêu lên đồng loạt, từ trên cao bổ xuống chiến thuyền Thục, mỗi con tấn công một thủy thủ. Đám thủy thủ bị tấn công bất ngờ buông cung tên để gạt Thần-ưng, thì Thần-ưng lại bay bổng trên cao. Thế là thủy thủ trên một chiến thuyền Thục bị thương gần hết, giữa lúc đang luống cuống thủy quân Hán, bắn ngã gục hết rồi nhảy vọt sang chiếm lấy.<br />
<br />
Phật-Nguyệt bảo Sún Lé:<br />
<br />
– Em cho tấn công vào tất cả các chiến thuyền phía phải một lượt.<br />
<br />
Sún Lé cầm tù-và thổi năm hơi. Lập tức Sún Lùn phát cờ liên tiếp. Đoàn Thần-ưng ré đồng loạt, từ trên cao bổ xuống. Một trăm Thần-ưng tấn công vào bốn chiến thuyền, lại bay vọt lên cao. Thủy thủ Hán thích quá, bắn tên rào rào, nhảy sang cướp chiến thuyền địch.<br />
<br />
Bên Thục hỗn loạn vì mất năm chiến thuyền một lúc. Hậu quân chuyển động, rồi các chiến thuyền từ từ rút lui. Phật-Nguyệt chỉ một soái thuyền bảo Sún Lùn:<br />
<br />
– Em dùng Thần-ưng tấn công soái thuyền kia đi.<br />
<br />
Sún Lùn cầm tù-và thổi. Lập tức đoàn Thần-ưng lại kêu lên vang trời. Bốn lượng mỗi lượng 25 con vụt xuống soái thuyền. Dưới soái thuyền đã chuẩn bị, dùng tên bắn một loạt, nhưng không trúng con nào. Bọn thủy thủ dùng dao chém ngược trở lên đồng loạt, hơn 10 Thần-ưng chết văng dưới sàn. Sún Lùn cầm cờ phất ba cái, tức thì số Thần-ưng còn lại đồng loạt lao xuống tấn công. Thủy thủ Thục mải đánh nhau với Thần-ưng, thì soái thuyền Lưu Long đã đuổi kịp, Lưu Long nhảy vọt sang trước cùng quân Hán đánh nhau với Thục. Dù trên soái thuyền Thục, hết trên trăm người bị thương, số còn lại đến hơn 300 đồng chống trả. Phật-Nguyệt thấy cảnh hỗn độn bảo Sún Lé:<br />
<br />
– Không cần chị ra lệnh, chỗ nào có quân Thục, em ra lệnh tấn công thực gấp.<br />
<br />
Sún Lé cầm tù-và thổi lên liên tiếp. Trên các chiến thuyền khác đám Sún đồng phất cờ. Thần-ưng lao vùn vụt tấn công. Hàng ngũ Thục quân náo loạn cả lên, chiến thuyền Hán được dịp tràn đến bắt.<br />
<br />
Binh Thục đang hỗn loạn, thì viên đô-đốc chỉ huy hạm đội nhận ra người chỉ huy đoàn Thần-ưng là Sún Lé, y nói với tên cận vệ mấy câu. Người này phất tay ra hiệu, mười tên thủy thủ võ công cao cường theo y, tấn công đồng loạt binh Hán, rồi nhảy sang thuyền có Sún Lé. Võ công 11 người này cực cao, chỉ mấy chiêu chúng đã chiếm được chiến thuyền. Một trong bọn họ đã nhảy tới chụp Sún Lé. Sún Lé đã chuẩn bị từ trước, nó cúi đầu húc vào bụng tên này. Y ngẩn người ra, vì trên đời này khi bị tấn công, thì người ta nhảy lùi lại tránh, chứ có ai húc đầu vào đối thủ đâu. Y đưa tay túm Sún Lé, nhấc lên định trói lại thì cảm thấy bàn tay đau nhói. Y nhìn kỹ thì ớn da gà, vội buông Sún Lé ra, vì trên mu bàn tay y có đến năm con bò-cạp. Y đạp chết bò-cạp thì mu bàn tay sưng lên. Y biết phải bắt cho được Sún Lé để lấy thuốc giải độc. Nếu không chỉ trong khoảnh khắc, nọc bò-cạp chạy vào tim thì hết phương cứu chữa.<br />
<br />
Y nhặt đao chém liên tiếp mười chiêu, giết 10 thủy thủ Hán. Khi y quay lại tìm, thì Sún Lé đã leo lên chót vót cột buồm, thè lưỡi chế nhạo y.<br />
<br />
Nguyên Lục Sún là 6 đứa trẻ mồ côi. Cha mẹ chúng bị người Hán bắt giết. Hồ Đề đem về nuôi nấng dạy dỗ. Chúng sống với thú rừng, leo cây nhảy nhót như khỉ đã quen. Y chỉ chuyền mấy cái đã lên đến đỉnh cột buồm, đứng điều khiển Thần-ưng.<br />
<br />
Bọn 11 cao thủ chém hầu hết quân Hán trên thuyền Sún Lé, nhưng không làm cách nào bắt được nó. Tên trưởng toán lo sợ cuống cuồng vì tay y tím bầm sưng lớn. Y biết nọc độc đang chạy lên cánh tay, chậm thì chết, bèn gọi lớn:<br />
<br />
– Chú nhỏ kia mau đưa thuốc giải độc bò-cạp cho ta, nếu không, ta sẽ chặt cột buồm thì chú rơi xuống là hết đời.<br />
<br />
Sún Lé cười khì khì, tính tinh nghịch nổi dậy. Nó tụt quần đái xuống đầu bọn thủy thủ Thục. Bọn này vội nhảy tránh, tên cầm đầu phất tay:<br />
<br />
– Hạ cột buồm xuống!<br />
<br />
Cả mười tên xúm vào dùng dao chặt cột buồm. Sún Lé thấy nguy, vội cầm tù-và thổi, móc trong túi ra cây cờ vàng phất lia lịa xuống dưới chân.<br />
<br />
Từ xa một đoàn Thần-ưng ré lên, bay đến. Chúng thấy chúa tướng lâm nguy, đồng loạt tấn công bọn thủy thụ.. Bọn này là những cao thủ võ công đâu có dở, chúng vung đao chém. Sáu Thần-ưng bị trúng đao rơi xuống sàn. Sún Lé sợ Thần-ưng tử trận nhiều. Nó cầm cờ ra lệnh đoàn Thần-ưng không tấn công nữa, từ trên bổ xuống gần đầu quân địch lại vọt lên. Bọn thủy thủ không dám chặt cột buồm, ngửa mặt lên trời, phòng Thần-ưng tấn công.<br />
<br />
Trong khi đó gần 500 Thần-ưng như những vì sao xẹt trên trời, lao vào các chiến thuyền khác. Quân Hán được dịp tiến đánh. Một khắc sau bên Thục cho lệnh rút lui, chiến thuyền Hán cho lệnh đuổi theo ráo riết. Phật-Nguyệt thấy một thuyền Hán không người chèo lái, trên cột buồm có Sún Lé phất cờ điều khiển Thần-ưng đánh 11 thủy thủ Thục, nàng thất kinh, tự mắng:<br />
<br />
 – Mình thật sơ ý, mải lo tấn công, quên mất một chiến thuyền Hán bị cao thủ Thục đánh chiếm, trên đó có Sún Lé.<br />
<br />
 Khi hai thuyền gần nhau, nàng nhún mình một cái, nhảy qua chiến thuyền kia kêu lớn:<br />
<br />
 – Sún Lé! Có chị đây đừng sợ!<br />
<br />
Nàng lia kiếm, tên thủy thủ Thục vung đao đỡ. Choang một tiếng, Phật-Nguyệt thấy tay tê rần, thì biết đây là một cao thủ. Nàng nhớ lời sư phụ dặn:<br />
<br />
 – Kiếm pháp Long-biên lấy thần tốc làm căn bản tuyệt đối, không nên chạm nhau với vũ khí địch.<br />
<br />
Nàng thu kiếm về ánh thép chớp lên, một cái đầu thủy thủ rơi xuống. Mười tên thủy thủ reo lên tấn công Phật-Nguyệt. Nàng đảo kiếm một lần nữa, hai tên ôm ngực ngã xuống. Tám tên đang ngơ ngác, thì kiếm lại vung lên, nàng đã đâm bốn tên ngã gục. Bốn tên còn lại la lên một tiếng, nhảy xuống sông biến mất.<br />
<br />
Sún Lé bây giờ mới thoăn thoắt tuột xuống sàn thuyền. Phật-Nguyệt bảo nó:<br />
<br />
– Em cho lệnh ngừng tấn công chỉ bay theo dọa địch mà thôi.<br />
<br />
Sún Lé cầm tù-và thổi một hơi. Chỉ lát sau Thần-ưng bay thành năm đoàn, lượn vòng tròn trên trời rất đẹp mắt.<br />
<br />
Phật-Nguyệt ra lệnh đuổi theo rất gấp. Nàng đứng đầu một mũi thuyền, bên Thục bắn tên sang, nàng dùng kiếm pháp thần thông đánh dạt ra hết. Khi thuyền nàng đã đuổi kịp thuyền phó đô-đốc đi cản hậu. Nàng nhảy vọt sang lia một kiếm, đầu y rụng xuống. Nàng vung kiếm lên hơn 30 chiêu, hơn ba mươi cái đầu rụng xuống. Cứ thế, nàng nhảy từ thuyền này sang thuyền khác.<br />
<br />
Thủy quân Thục bắn nhiều quá, hết tên, chỉ còn nước bỏ chạy. Khi đuổi đến Cổ-lăng, bên Hán bắt được trên trăm chiến thuyền Thục. Phật-Nguyệt cho thu quân về bến Cổ-lăng, chiếm các cảng Vân-dương, Văn-giang.<br />
<br />
Đặng Vũ nghe tin Phật-Nguyệt đuổi thủy quân Thục thì mừng lắm. Y cho lệnh vây Xuyên-khẩu rất gấp. Quân trong thành thi nhau bắn tên, lăn đá xuống. Trưng Nhị đứng bên Hồ Đề hỏi:<br />
<br />
– Sư muội chuẩn bị xong chưa?<br />
<br />
Hồ Đề cười:<br />
<br />
– Lúc nào mà chả xong.<br />
<br />
Trưng Nhị sai đốt pháo lệnh. Quân ngoài ải tiến vào đến chân thành.<br />
<br />
Hồ Đề quay lại ra hiệu. Sáu thiếu nữ xinh tươi, cỡi ngựa dàn phía sau nàng, cầm ống tre thổi lên những tiếng nhạc du dương. Thì phía sau năm cái xe lớn có hàng triệu con ong bay rợp trời. Chúng chia làm sáu đội khác nhau, tấn công quân trên thành. Quân sĩ trên thành bị ong đốt bất ngờ, ngã lăn xuống dưới hoặc ôm đầu bỏ chạy. Lập tức quân Hán bắc thang leo lên. Tới mặt thành, họ dùng cung tên bắn vào quân bên trong. Hồ Đề vẫy tay ra hiệu, Lục-phong nữ chỉ huy Thần-phong, cầm ống tre thổi lên. Thần-phong là là bay trở về xe đậu phía sau trận.<br />
<br />
Quân Hán trèo lên mặt thành như kiến, chỉ một lát sau cổng thành mở. Đặng Vũ phi ngựa vào trước, sau đó đến Hồ Đề, Trưng Nhị.<br />
<br />
Hồ Đề chỉ huy đội quân đánh sang phía Bắc gặp Vũ Chu đang chỉ huy quân chống cự. Y múa đao chém nàng. Hồ Đề tự biết mình không phải là đối thủ của y, vội giật cương ngựa tránh né. Vũ Chu từ mình ngựa lao vút trên cao chụp bắt. Hồ Đề thất kinh, rút kiếm chém. Y không coi nàng vào đâu, y xuyên tay qua kiếm chụp cổ nàng. Hồ Đề kinh hoàng vội bỏ ngựa lăn xuống đất. Vũ Chu đáp trên mình ngựa, phóng một kiếm vào ngực Hồ Đề. Nàng thấy bên cạnh đó có một cây vội leo lên. Nàng ở vùng núi lâu năm, leo cây nhanh như vượn. Vũ Chu vận sức đánh một chưởng, cây rung động thực mạnh. Vừa lúc đó đám đệ tử Tây-vu tới nơi, người thì quăng trăn, người ném rắn ra. Vũ Chu hoảng hốt bỏ chạy. Hồ Đề thổi còi gọi ong. Ong từ ngoài thành bay vào. Nàng cho Thần-phong bay là là rượt theo binh Thục tới cửa Tây mới ngừng lại.<br />
<br />
Hồ Đề đủng đỉnh đi vào tới giữa thành gặp Đặng Vũ với Trưng Nhị. Nàng kể lại trận đánh kinh khủng vừa rồi cho hai người nghe. Trưng Nhị dặn:<br />
<br />
– Từ nay em phải cẩn thận chớ có khinh địch như vậy nữa. Đi đâu cũng mang theo đám sư đệ và đội Thần-phong theo đề phòng.<br />
<br />
Trưng Nhị kiểm điểm lại, hàng quân trên một vạn, kho tàng, lương thảo đầy ăm ắp. Đặng Vũ sai mở cửa thành cho các đoàn quân phía ngoài vào. Tổng hah dinh của Đặng Vũ cũng di chuyển vào thành.<br />
<br />
Trưng Nhị gọi Sầm Bành, Mã Vũ, Hồ Đề:<br />
<br />
– Phiền các vị đem một đội Thiết-kỵ, một đội Thần-tượng ra tiếp viện Trần Năng. Vì ta e nếu Trần Năng không địch lại Vũ Chu và Công-tôn Thiệu thì nguy to.<br />
<br />
Ba người vọt lên ngựa đi liền. Đuổi theo một quãng thấy quân Hán đang giao chiến với quân Thục. Tướng Thục quả nhiên là Vũ Chu đang tả xung hữu đột đánh cản hậu. Còn Trần Năng đứng trên đồi cao, cầm cờ chỉ huy. Sầm Bành chỉ cho Mã Vũ, nói:<br />
<br />
– Chúng mình học binh pháp từ nhỏ đánh đư trăm trận đã đành. Còn thiếu nữ này không biết học binh pháp từ bao giờ, mà tài chỉ huy không thua gì bọn mình.<br />
<br />
Vũ Chu tả xung hữu đột, đi đến đâu quân Hán dạt ra đến đó. Mồ hôi ướt đẫm chiến bào, người y đã mệt nhoài. Nếu cứ như thế này thì chỉ một lát nữa, y kiệt lực chết mất. Y ngẩng mặt nhìn lên sườn đồi thấy có nữ tướng cầm cờ đỏ phất ra hiệu cho quân Hán vây y. Bất giác y tỉnh ngộ:<br />
<br />
– Thì ra nữ tướng này đang chỉ huy quân vây ta. Ta phải giết thị mới mong thoát chết.<br />
<br />
Y rút kiếm chém xả mấy nhát, vòng vây dãn ra. Y nhảy nhót mấy cái lên đỉnh đồi, vung chưởng đánh Trần Năng liền. Trần Năng vận sức chống lại. Bùng một tiếng, nàng cảm thấy lồng ngực muốn nổ tung ra, tai kêu vo vo. Biết gặp đối thủ, nàng hít hơi một cái, nàng phát chiêu Ngưu nhập thanh điền trong Phục-ngưu thần chưởng. Vũ Chu trả một chiêu vào đầu Trần Năng. Y tưởng với chưởng đó Trần Năng sẽ tan xương nát thịt. Trần Năng biết nguy hiểm. Khi rời Lĩnh-nam, sư phụ có dặn nàng. Nếu gặp đối thủ dùng sức dương-cương hùng mạnh thì vận khí trở về Đốc-mạch, rồi phát lực ra huyệt Trung-xung ở đầu ngón tay giữa, rồi biến thành chỉ tấn công. Chỉ này ông với Đào Kỳ vừa mới phát minh ra.<br />
<br />
Trần Năng thấy chưởng chụp xuống đầu, nàng xuống đinh tấn, chĩa ngón tay chỏ xuyên vào chưởng của Vũ Chu. Vũ Chu cảm thấy một luồng lực đạo xuyên qua chưởng lực chạy vào người, ngực y đau nhói lên. Y nhăn mặt lui lại. Còn Trần Năng bị chưởng của y đánh bay vọt lại phía sau.<br />
<br />
Sầm Bành, Mã Vũ thấy chiêu thức Trần Năng kỳ diệu, họ chưa muốn nhập cuộc, đứng ngoài quan sát.<br />
<br />
Vũ Chu lại phát chưởng tấn công. Trần Năng hít hơi, vận sức phóng chỉ ra huyệt Thiếu-trạch ở đầu ngón tay út. Véo một cái, chỉ xuyên vào giữa chưởng của Vũ Chu, cả hai cùng lui lại.<br />
<br />
Quân sĩ hai bên dãn ra. Đúng ra với công lực của Trần Năng không thể nào thắng Vũ Chu. Nhưng một là y hoảng hốt vì bị vây, hai là Lĩnh-nam chỉ pháp quá tinh diệu, nên nàng mới chống nổi. Đấu đến chiêu thứ năm, bấy giờ Trần Năng đã bắt đầu thấm mệt. Cứ mỗi chiêu, nàng phải lui lại hai bước. Vũ Chu biết thế, vận sức đánh ra một chiêu cực kỳ thâm hậu. Trần Năng luống cuống phát bừa một chiên, đó là chiêu dương-cương Hải triều lãng đãng của phái Cửu-chân. Chiêu này Đào Kỳ đã dạy nàng và Hùng Bảo. Chưởng phong ào ào phát ra. Vũ Chu thấy chưởng kỳ lạ vội phất chiêu đỡ. Bùng một tiếng, cả hai lùi lại. Trần Năng chỉ hơi khó chịu. Còn Vũ Chu thì lui lại hai bước. Chính Trần Năng cũng không ngờ được như thế, vì chưởng pháp Cửu-chân xưa nay vẫn thua Phục-ngưu thần chưởng. Thế mà nàng đấu với Vũ Chu sáu chưởng, chưởng nào cũng nàng cũng kém thế. Vậy mà bây giờ mới đánh có lớp thứ nhất của Cửu-chân chưởng, Vũ Chu đã lui lại hai bước, kém thế rõ ràng là tại sao ?<br />
<br />
Thực ra Phục-ngưu thần chưởng do Sơn-Tinh chế, sau được Vạn-tín hầu Lý Thân bổ sung cực kỳ tinh vi. Nhưng vì công lực của nàng với Vũ Chu cách nhau xa, nên nàng bị thua. Còn Cửu-chân chưởng là do Thục An-Dương vương và Trung-tín hầu Vũ Bảo-Trung chế, mục đích khắc chế võ công Trung-nguyên, nên Trần Năng đánh ra, thì khắc được chưởng của Vũ Chu. Vấn đề ngoắt ngoéo như vậy làm sao Trần Năng hiểu nổi? Nàng phóng một hơi phát lớp thứ nhì, lớp này mạnh gấp hai lần lớp trước, Vũ Chu vung chưởng đỡ. Bùng một tiếng, y thấy đầu óc choáng váng, vội hít hơi giữ thăng bằng thì lớp thứ ba tới mạnh gấp đôi lớp thứ nhì. Vũ Chu kinh hãi nhảy vọt lên trên cao, y rút kiếm chém Trần Năng. Trần Năng kinh hoảng rút kiếm đỡ. Choảng một tiếng, kiếm của nàng bay vọt lên cao. Vũ Chu chém kiếm thứ nhì, nàng vội lăn tròn dưới đất tránh. Vũ Chu chém thêm nhát nữa, thì thấy vật gì lạnh toát chui vào cổ. Y kinh hãi thò tay lấy ra, thì bị vật gì cắn vào ngón tay đau thấu tâm can. Y nhìn lại thì là một con rắn lục bằng ngón tay. Y bóp chết con rắn rồi thì tai, rồi mũi, mắt, đầu nhức không thể tưởng tượng được. Y nhìn lên một đàn ong đang xúm vào đốt. Y vội vung kiếm mở một con đường máu chạy biến vào rừng.<br />
<br />
Trần Năng thoát nạn, đứng dậy thì thấy Hồ Đề đang cười thì biết là nàng đã cứu mình. Chị em mừng mừng tủi tủi nắm tay nhau, ra lệnh thu quân trở về thành. Trong khi Sầm Bành, Mã Vũ xua binh đuổi quân Thục.<br />
<br />
Trưng Nhị truyền chư tướng vào nhận lệnh :<br />
<br />
– Phép dùng binh, khi giặc thua cần đánh tiếp không cho chúng nghỉ. Chư quân dự trận Xuyên-khẩu được nghỉ ở hậu quân. Những vũ khí, lương thảo thu được của giặc sung vào làm của công. Còn trâu bò, của cải binh tướng giặc thì thưởng cho tướng sĩ hữu công.<br />
<br />
Quân sĩ reo hò mừng rỡ. Vì họ theo Hán có hàng chục năm nay, mỗi khi thắng trận, chỉ được ăn một bữa khao quân hoặc thăng cấp là cùng. Còn những của cải thì tướng soái lấy hết có bao giờ đến lượt họ đâu. Hôm nay họ thấy vị nữ quân sư này ra lệnh thưởng cho họ tất cả, họ không reo mừng sao được.<br />
<br />
Đặng Vũ nói :<br />
<br />
– Bây giờ chúng ta đánh thành Bạch-đế. Thành này là kho tàng của Thục tại miền Đông. Thành cao, hào sâu khó đánh. Công-tôn Thiệu cất vàng bạc châu báu tại đây. Nếu ai vào thành trước tiên, những gì lấy được của Thiệu, ta thưởng cho hết, lại cho trấn thủ thành này.<br />
<br />
Các tướng sĩ biết Công-tôn Thiệu là em Công-tôn Thuật, tước phong Trường-sa vương, làm đại nguyên-soái, tiền của giàu có súc tích. Nếu ai vào thành Bạch-đế trước tiên, sẽ thành đại-phú, sống đến mấy chục đời mới hết.<br />
<br />
Trưng Nhị đáp :<br />
<br />
– Thành Bạch-đế có bốn cửa, cửa Tây và Nam bị thủy quân vây hãm, chắc y không chạy qua ngã đó. Phía Đông thành thì đại-quân ta đóng, vậy chắc chắn y sẽ chạy về phía Bắc. Binh thư nói rằng : Giặc cùng khó đánh, chớ đuổi. Lại cũng nói : Một người liều mạng, mười người khôn địch. Chúng ta chỉ cần vây hãm làm cho binh tướng giặc kinh hoảng bỏ chạy, hơn là cố đánh thành, chết nhiều vô ích.<br />
<br />
Đặng Vũ góp ý :<br />
<br />
– Theo ý tôi chúng ta cần phải đánh thành gấp mới được, trễ thì chúng ta vào Thành-đô sau hai đạo kia mất.<br />
<br />
Trưng Nhị thấy Đặng Vũ muốn đánh gấp, nàng nghĩ :<br />
<br />
– Y muốn thì ta để y làm. Chết là chết quân Hán, chứ có chết người Việt đâu ?<br />
<br />
Nàng nói với Đặng Vũ :<br />
<br />
– Đặng đại tư-mã đánh dư trăm trận, nhiều kinh nghiệm công thành, xin Tư-mã đích thân điều động mới được.<br />
<br />
Đặng Vũ không lui được, y phân phối :<br />
<br />
– Đô-đốc Lưu Long chỉ huy thủy quân đánh dọc theo sông Trường-giang, để giặc không chạy qua sông. Xin Phật-Nguyệt cô nương theo giúp Lưu đô-đốc, đề phòng Vũ Chu với Công-tôn Thiệu.<br />
<br />
– Kiến-oai đại tướng-quân Cảnh Yểm đánh cửa Bắc. Xin phu nhân Trần Năng, cô nương Lê Chân theo giúp.<br />
<br />
– Bô-lỗ đại tướng-quân Mã Vũ, đánh cửa Tây. Xin đại-hiệp Lại Thế-Cường theo trợ giúp.<br />
<br />
– Chinh-lỗ đại tướng-quân Tế Tuân, anh hùng Lĩnh-nam cùng với chúng tôi công thành.<br />
<br />
Đặng Vũ sai đốt pháo lệnh, chư quân reo hò, tiến đánh. Thành Bạch-đế là thành cổ, hào sâu, quân trong cố thủ, quân ngoài bắc thang leo lên. Quân trong thành dùng cung tên bắn xuống. Công thành hơn một ngày, binh lính chết hơn vạn người. Thây chất hàng chục đống lớn, mà vẫn không lấy được thành. Đặng Vũ đành cho lệnh rút ra xa bao vây.<br />
<br />
Y thăng trướng hỏi Hồ Đề :<br />
<br />
– Hồ cô nương. Cô nương có thể dùng Thần-phong giúp tôi một tay chăng ? Binh sĩ chết nhiều quá rồi !<br />
<br />
Hồ Đề đưa mắt nhìn Trưng Nhị hỏi ý kiến. Trưng Nhị nói :<br />
<br />
– Thần-phong chỉ dùng được một lần mà thôi. Bây giờ dùng nữa, giặc dùng lửa đốt lên, Thần-phong phải bỏ chạy. Tuy nhiên tôi vẫn có kế đánh được thành.<br />
<br />
Nàng quay lại hỏi Hồ Đề ;<br />
<br />
– Sư muội một Thần-ưng có thể mang được bao nhiêu cân ?<br />
<br />
Hồ Đề ngẩn người ra nói :<br />
<br />
 – Em chưa thử nhưng chúng thường bắt gà. Chúng tha một con gà đực lớn dễ như không.<br />
<br />
Trưng Nhị gật đầu :<br />
<br />
– Như vậy chúng có thể mang nổi bốn cân (2kg ngày nay). Em cho truyền tin gọi đoàn Thần-ưng về đây ngay, đêm mai chúng ta chiếm thành.<br />
<br />
Hồ Đề nhìn Trưng Nhị tủm tỉm cười. Đặng Vũ ngẩn người ra. Tuy nhiên vì tự ái, y không hỏi Trưng Nhị sẽ dùng kế gì. Y vội cho ngựa lưu tinh đến cảng Cổ-lăng, xin Phật-Nguyệt cho đội Thần-ưng về trợ chiến. Sáng hôm sau bọn Sún Lé lục tục trình diện. Chúng là trẻ con, chẳng biết quân pháp, chẳng biết chủ soái là gì, miệng cứ bô bô kể cho Hồ Đề nghe đám Thần-ưng đánh giặc. Đặng Vũ nhìn sáu đứa trẻ mặt mũi lem luốc. Y bật cười hỏi Sún Lé :<br />
<br />
– Em đã cho Thần-ưng ăn chưa ?<br />
<br />
Sún Lé cười :<br />
<br />
– Chúng nó nhá thịt binh Thục no rồi không cần ăn nữa. Bây giờ tập họp chúng lại, không cho ăn. Mai chúng đói, xuất trận thì tuyệt hảo. Chúng sẽ đớp thịt binh Thục cho Đặng đại tư-mã coi.<br />
<br />
Hồ Đề hỏi Sún Lé :<br />
<br />
– Em có thể cho Thần-ưng tha một sợi dây lên cao, bảo chúng cột dây vào cây cột được không ?<br />
<br />
– Dễ quá, cứ để vật đó trước mắt, em thổi tù-và, chúng dùng chân cặp. Em thổi hai tiếng chúng bay lên. Em thổi hai tiếng lớn, một tiếng nhỏ, chúng bay vòng quanh, dây cuộn vào cột.<br />
<br />
Trưng Nhị gật đầu:<br />
<br />
– Đêm nay chúng ta dùng hỏa công đốt thành Bạch-đế. Chúng ta có 600 Thần-ưng, mỗi Thần-ưng một lần mang bốn cân, hai lần là tám cân, cộng chung có khoảng 4000 cân tẩm dầu, thả vào thành rồi dùng tên lửa bắn, thì thành Bạch-đế thành tro, thành than.<br />
<br />
Sún Đen hỏi:<br />
<br />
– Sư tỷ, vậy là đêm nay bọn em nướng chả Công-tôn Thiệu với Vũ Chu phải không? Phàm là anh hùng Lĩnh-nam làm việc gì cũng quang minh chính đại. Em muốn báo cho tướng sĩ trong thành biết trước. Hoặc họ đầu hàng, hoặc họ bị nướng chả. Chị bảo có nên không?<br />
<br />
Đặng Vũ bế bổng Sún Đen lên:<br />
<br />
– Bọn chúng ta là tướng soái đánh dư trăm trận mà thua một chú bé 16 tuổi. Sún Đen, em nói đúng đó, bây giờ ta cho thư-lại chép mấy trăm tờ hịch của Lĩnh-nam vương cho quân bắn vào thành, như vậy biết đâu quân Thục không sợ mà buông gươm đầu hàng.<br />
<br />
Sún Lé tiếp:<br />
<br />
– Đặng đại tư-mã muốn cho quân Thục sợ mà buông gươm đầu hàng ư? Dễ lắm, bây giờ Đặng đại tư-mã viết thêm một đoạn vào hịch của Nghiêm đại-ca rằng Thành-đô bị Đào đại-ca bao vây. Phía Bắc Ngô Hán tiến sát Thành-đô. Thành Bạch-đế bị cô lập vì mất Trường-giang. Thủy quân bỏ chạy, mặt Đông thì bị chúng ta bao vây. Tiến không được mà lui thì hết đất sống. Chi bằng đầu hàng được bảo toàn tính mệnh, hoặc muốn cũng được giữ nguyên quan chức.<br />
<br />
Đặng Vũ há hốc mồm ra ngạc nhiên vì lời của Sún Lé. Nguyên bọn Lục Sún được Hồ Đề truyền thụ võ công, nhưng nàng chỉ coi bọn chúng là sư đệ, chứ không coi là đệ tử. Trong 72 động Tây-vu của nàng đa số toàn là người vùng rừng núi, nói năng tự do. Bọn Sún là những đứa trẻ thông minh, mỗi khi hội họp Hồ Đề cho chúng được phát biểu ý kiến như người lớn. Vì vậy mấy hôm nay chúng đã hiểu tình hình hai bên... Sún Lé, nó đưa ra những lời bàn mà không ai ngờ nổi.<br />
<br />
Trưng Nhị di chuyển từ Giao-chỉ sang Quế-lâm cùng Hồ Đề, Lục Sún. Nàng biết Lục Sún có trí thông minh đặc biệt. Nàng khen:<br />
<br />
– Ý kiến của Sún Đen thật tinh tế. Kế hoạch công thành của Đặng đại tư-mã vẫn giữ nguyên, thêm vào việc truyền hịch của Sún. Ta treo giải thưởng dù bên Thục hay bên Hán, người nào giết hoặc bắt được Công-tôn Thiệu sẽ được làm trấn thủ thành Bạch-đế. Tất cả của cải tịch thu được của y sẽ thưởng cho hết. Làm như vậy Công-tôn Thiệu sinh nghi ngờ mọi người, khiến y ăn không ngon, ngủ không yên.<br />
<br />
Nàng cầm bút thảo:<br />
<br />
Đại tư-mã nhà Đại-Hán truyền hịch cho các tướng sĩ trong Bạch-đế thành được rõ:<br />
<br />
Lĩnh-nam vương lĩnh chức Tả tướng-quốc truyền hịch hứa rằng các ngươi đầu hàng thì được giữ nguyên chức tước. Ta là thuộc hạ của người sẽ tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh mà thi hành. Vậy nếu các người giết hoặc bắt được Công-tôn Thiệu ta cho làm trấn thủ thành Bạch-đế. Phàm những của cải tịch thu được của y, ta thưởng cho hết.<br />
<br />
Các ngươi có biết không? Đạo quân Lĩnh-nam 30 vạn, đã chiếm Hán-nguyên, Giang-an và Long-xương. Đạo quân Tây-xuyên đã chiếm được Dương-bình quan, Ba-trung. Chỉ một sớm, một tối là tiến vào Thành-đô. Các ngươi ở trong thành Bạch-đế tiến thì không xong, lui thì không nẻo. Thủy-quân đã bỏ chạy, lương thảo ngày một cạn. Các ngươi mau mở cửa thành đầu hàng thì mạng sống chức tước được giữ, lương bổng không bị mất, gia đình được bảo trọng.<br />
<br />
Đêm nay ta dùng Thần-ưng đốt thành nhưng chỉ để cảnh cáo các ngươi thôi. Neéu các ngươi không đầu hàng, đêm mai ta quyết sẽ nướng các ngươi thành than.<br />
<br />
Vậy ta truyền hịch cho các ngươi rõ.<br />
<br />
Đặng Vũ sai cầm bản thảo giao cho thư-lại chép. Đến trưa thì đã chép được trên ngàn tờ. Trưng Nhị hỏi Hồ Đề:<br />
<br />
– Sư muội định cho Thần-ưng truyền hịch, hay dùng tên bắn vào thành.<br />
<br />
Hồ Đề bảo Sún Lé:<br />
<br />
– Em là thủ lĩnh của Lục Sún, cho em quyết định.<br />
<br />
Sún Lé bảo Sún Cao:<br />
<br />
– Này Sún Cao, Sún Cao cho một tốt Thần-ưng làm việc đi?<br />
<br />
Sún Cao cầm tù-và thổi năm tiếng liền, một đám Thần-ưng đậu trên cây bay xuống trước mặt. Sún Cao cho mỗi Thần-ưng ngậm 10 tờ hịch, rồi hú hai tiếng chỉ lên thành Bạch-đế. Đoàn Thần-ưng vỗ cánh vút lên trời bay lượn. Sún Cao thổi bốn tiếng. Thần-ưng chia làm bốn toán lượn vòng tròn trên bốn cửa thành.<br />
<br />
Sún Cao nói:<br />
<br />
– Chị Hồ Đề, em cho Thần-ưng thả thật thấp cho chị coi nghe.<br />
<br />
Nó thổi bốn tiếng nữa. Thần-ưng từ trên cao lao xuống thành, tới sát ngọn cây thì há mỏ cho những tờ hịch bay ra, rồi vút lên cao, hợp thành đàn. Sún Cao cầm tù và thổi mấy tiếng, cả đoàn 100 Thần-ưng bay về đậu trên cây cổ thụ trước trướng của Đặng Vũ. Trưng Nhị ra lệnh cho viên tướng phụ trách tiếp vận chuẩn bị 2000 bó cỏ, mỗi bó nặng bốn cân, tẩm dầu sẵn, đến giờ Dậu thì phải đủ. Nàng nói với Đặng Vũ:<br />
<br />
– Chúng ta chuẩn bị đánh thành đêm nay.<br />
<br />
Các tướng sĩ nghe Trưng Nhị nói vậy đều phấn khởi tinh thần, cho binh sĩ ăn uống, nghĩ ngơi, đợi đêm tấn công. Trưng Nhị thăng trướng truyền lệnh;<br />
<br />
– Trong thành hiện còn bốn vạn nhân mã, hai vạn Kỵ-binh tinh nhuệ. Nếu chúng ta bức quá giặc cùng đường thì phải chống cự, sĩ tốt bị thương nhiều. Chúng ta mở đường cho giặc chạy. Mục đích là chiếm thành tiêu hao nửa quân số là đủ. Suốt một giải phía Đông Ích-châu do Công-tôn Thiệu chỉ huy. Các ải Lương-bình, Phong-đô, Võ-lăng cũng còn trên bốn vạn người ngựa. Nếu chúng đồng kéo đến cứu thành Bạch-đế, thì không biết đến bao giờ chúng ta mới vào được Thành-đô. Đêm nay, làm sao chiếm được thành Bạch-đế, giết được Công-tôn Thiệu thì suốt một giải phía Đông-Thục giặc như rắn mất đầu không người chỉ huy, chúng ta tiến dễ dàng. Đánh thành, chúng ta mở cửa Tây và Bắc cho chúng chạy. Các đạo quân mai phục phải đợi cho giặc đi qua một nửa rồi mới đổ ra đánh cắt nửa sau.<br />
<br />
Các tướng đồng cúi đầu khâm phục. Trưng Nhị tiếp:<br />
<br />
– Công-tôn Thiệu, Vũ Chu võ công cao cường. Ở đây có Đặng đại tư-mã, Phiêu-kỵ đại tướng-quân Sầm Bành, Kiến-oai đại tướng-quân Cảnh Yểm, Bô-lỗ đại tướng-quân Mã Vũ và sư tỷ Phật-Nguyệt địch lại chúng. Vậy sư tỷ Phật-Nguyệt phụ trách bảo vệ Lục Sún đánh thành. Còn bốn vị phục binh từ Giang-khẩu đến Ôn-tuyền chặn đánh Công-tôn Thiệu, Vũ Chu. Sư đệ Hồ Hác chia đội Thần-tượng ra làm bốn theo trợ chiến với các vị tướng quân.<br />
<br />
– Đại tướng-quân Lưu Long và Lâu-thuyền tướng quân Đoàn Chí đặt dưới quyền điều khiển của sư bá Lại Thế-Cường, dàn thủy quân từ Cổ-lăng đến Vân-dương, không cho giặc qua sông, cũng để ngăn đạo quân từ Võ-lăng lên cứu viện.<br />
<br />
– Chinh-lỗ đại tướng-quân Tế Tuân điều quân đánh vào cửa Bắc thành. Nhớ đánh thật gấp không cho giặc ra khỏi thành. Sư thúc Trần Năng đi theo giúp Cảnh tướng-quân.<br />
<br />
– Chinh-di đại tướng-quân Tang Cung đánh cửa Nam, có sư muội Lê Chân trợ lực, cần giữ chắc không cho giặc xuất thành.<br />
<br />
– Phấn-oai đại tướng-quân Lưu Hân, sư muội Phật-Nguyệt, Lục Sún và tôi đánh cửa Đông.<br />
<br />
– Trận này hoàn toàn nhờ sức sư muội Hồ Đề và Tây-vu Thiên-ưng lục tướng.<br />
<br />
Trưng Nhị ngừng một lúc tiếp:<br />
<br />
– Thành Bạch-đế cao 20 trượng. Hào phía ngoài rộng 15 trượng, sâu 2 trượng. Dưới hào đầy chông gai, rất khó đánh. Hôm qua chúng ta tổn thất gần một vạn người mà không thu được thắng lợi gì. Hôm nay phải tận dụng đoàn Thần-ưng và Thần-phong.<br />
<br />
Hồ Đề lắc đầu:<br />
<br />
– Lần trước chúng ta dùng Thần-phong đánh Xuyên-khẩu, giặc đã biết rồi nên đã chuẩn bị để chống lại. Chỉ cần đốt lên mấy cụm khói là đoàn Thần-phong bỏ chạy. Em nghĩ chúng ta không nên dùng tới nữa thì hơn.<br />
<br />
Trưng Nhị lặng thinh suy nghĩ một lúc lâu mới nói:<br />
<br />
– Như vậy chúng ta chỉ có thể dùng Thần-ưng đốt thành mà thôi. Thành Bạch-đế rất rộng, chúng ta đốt gì bây giờ? Và làm thế nào để đốt? Tôi nghĩ nên đốt kho lương thực, làm nát lòng quân Thục và đốt dinh Công-tôn Thiệu. Vậy chúng ta cho Thần-ưng thả cỏ tẩm dầu, rồi dùng tên lửa bắn lên là thành công.<br />
<br />
Hồ Đề, Trần Năng, Lê Chân đồng gật đầu. Lại Thế-Cường là người kinh nghiệm nhiều, ông nói:<br />
<br />
– Từ ngoài thành đến kho lương và dinh Công-tôn Thiệu khá xa, làm sao chúng ta bắn tên lửa tới được? Chỉ có cách duy nhất cho Thần-ưng ngậm cỏ đốt sẵn từ ngoài thành thả vào tốt hơn.<br />
<br />
Sún Đen lắc đầu:<br />
<br />
– Sư bá! Nếu đốt sẵn cỏ ở ngoài cho Thần-ưng thả vào, chỉ nửa đường là cỏ cháy lớn, tất Thần-ưng bị nướng chín mất.<br />
<br />
Trưng Nhị hỏi Phật-Nguyệt:<br />
<br />
 – Khinh công phái Long-biên tuyệt vời, vậy sư muội có cách nào vào trong thành được không?<br />
<br />
Phật-Nguyệt lắc đầu:<br />
<br />
 – Tôi chỉ có thể vọt lên cao được hơn hai trượng mà thôi. Mà thành cao tới 20 trượng, làm sao vào được?<br />
<br />
Sún Lé nheo mắt cười:<br />
<br />
– Giả như có một sợi dây từ trên thành thòng xuống, sư tỷ cần bao nhiêu cái chớp mắt có thể lên trên thành?<br />
<br />
Mọi người bật cười vì lối dùng chớp mắt làm đơn vị đo thời gian đó của Sún Lé, nhưng ai cũng phải phục vì lối đo lường đó rất hợp với hoàn cảnh.<br />
<br />
Phật-Nguyệt ngơ ngác:<br />
<br />
 – Chỉ cần mười chớp mắt là đủ. Mỗi chớp mắt tôi lên được 2 trượng, với 20 trượng tôi cần mười chớp mắt. Nhưng trên mặt thành quân sĩ lăn đá, bắn tên làm sao mà lên được. Trưng sư tỷ, sư tỷ định bảo tôi lên mặt thành làm gì?<br />
<br />
Trưng Nhị đáp:<br />
<br />
– Sau khi thả cỏ tẩm dầu vào thành, sư muội châm lửa đốt kho lương và dinh Công-tôn Thiệu. Công tác này cần người võ công cao. Hiện Trần Năng với sư muội có thể địch lại Thiệu và Vũ Chu, nên tôi mới nghĩ đến sư muội hoặc Trần Năng lọt vào thành.<br />
<br />
Hồ Đề bảo Sún Đen:<br />
<br />
– Lục-phong quận-chúa làm cho quân sĩ trên thành tê liệt trong 50 chớp mắt, như vậy sư tỷ có đủ thời giờ lên mặt thành. Sún Đen! Bây giờ em làm thế này: Một mặt em cho đội Thần-ưng bay lượn trên cao ngậm cỏ tẩm dầu sẵn. Chị cho đội Thần -phong bất thần tấn công vào cửa Đông, nếu quân Thục đốt lửa đuổi được Thần-phong thì cũng mất ít ra hàng trăm cái chớp mắt, ngọn lửa và khói mới đủ sức đuổi Thần-phong. Bấy giờ sư tỷ Phật-Nguyệt đã lên mặt thành rồi.<br />
<br />
Nàng ngưng lại bảo Sún Lé:<br />
<br />
– Em lựa lấy 10 Thần-ưng thực lớn chờ sẵn ở cửa Đông. Khi chị cho Thần-phong tấn công quân trên thành, thì lệnh cho Thần-ưng ngậm một đầu dây bay lên mặt thành quấn quanh cột cờ mấy vòng. Chị Phật-Nguyệt sẽ bám dây phi thân lên. Chỉ cần tới mặt thành là sư tỷ giết quân dễ như trở bàn tay. Ta cũng sẽ lên theo sư tỷ Phật-Nguyệt để cùng đốt kho lương thực. Khi kho cháy rồi, tất giặc đổ xô cứu hỏa. Chúng ta đi đốt dinh Công-tôn Thiệu.<br />
<br />
Trưng Nhị dặn Sún Lé:<br />
<br />
– Em nhớ khi thấy lửa trong thành bốc cao, lệnh cho Thần-ưng tiếp tục thả cỏ tẩm dầu xuống những nơi bốc cháy.<br />
<br />
Sún Lé cười khúc khích, Hồ Đề quát:<br />
<br />
– Đây là quân lệnh nếu em vô phép thì chị chặt đầu có im ngay không?<br />
<br />
Sún Lé bụm miệng nói:<br />
<br />
– Chị Trưng Nhị coi bọn em là thần thánh, nên em sướng, em cười mà cũng cấm sao? Này nhé Sún Lé cao gần trượng, thành cao hơn 20 trượng mà chị Trưng Nhị bảo em thấy chỗ nào cháy thì lệnh cho Thần-ưng thả cỏ khô. Chúng em có là thánh như Phù-Đổng Thiên-vương đâu mà nhìn xa được như vậy? Muốn như vậy, họa chăng một trong bọn em leo lên mặt thành chỉ huy Thần-ưng.<br />
<br />
Trưng Nhị xoa đầu Sún Lé:<br />
<br />
– Em nói đúng đó, chị sơ xuất quá. Vậy thế này: Sún Đen chỉ huy Thần-ưng thả dây trên mặt thành. Sún Cao, Sún Lùn, Sún Rỗ chỉ huy Thần-ưng thả cỏ ngoài mặt thành. Còn Sún Lé lên mặt thành với chị để chỉ huy Thần-ưng thả cỏ vào khu vực mình muốn. Sún Hô làm trừ bị.<br />
<br />
Hết Hồi 42</div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://tvvn.org/forum/forumdisplay.php?f=135">Fiction</category>
			<dc:creator>Phượng Hoàng 7</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3920</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Động Đình Hồ Ngoại Sử - Quyển I - Hồi 41 - Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ</title>
			<link>http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3919&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Thu, 19 Nov 2009 21:37:27 GMT</pubDate>
			<description>QUYỂN I 
 
  
 
 HỒI THỨ BỐN MƯƠI MỐT 
 
Nay Hán Xuống Bạch Thành Đóng Lại 
 
(Chinh phụ ngâm khúc)</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><b>QUYỂN I</b><br />
<br />
 <br />
<br />
<b> HỒI THỨ BỐN MƯƠI MỐT</b><br />
<br />
<i>Nay Hán Xuống Bạch Thành Đóng Lại</i><br />
<br />
(Chinh phụ ngâm khúc)<br />
<br />
Nghiêm Sơn cho các đạo binh lên đường được ba ngày thì có ngựa lưu tinh báo rằng Triệu Anh-Vũ đã cho binh vượt Thiên-sơn. Đào Kỳ và toàn quân chiếm được Độ-khẩu. Tại bản doanh còn Nam-hải nữ hiệp, Phương-Dung, Lê Ngọc-Trinh, Lương Hồng-Châu với đạo binh Nam-hải. Vương nói với Nam-hải nữ hiệp:<br />
<br />
– Tôi với Phương-Dung phải lên đường đi Kinh-châu. Đạo Kinh-châu do Đại-tư-mã Đặng Vũ thống lĩnh. Đặng là một đại-tướng giỏi nhất của Hán, ngặt vì phó tướng của Đặng là Mã Viện không ai chịu ai, vì vậy hơn năm qua, không thắng được Thục. Nếu tôi có mặt, thì hai người mới không dám kình chống nhau.<br />
<br />
Phương-Dung hỏi:<br />
<br />
– Mã Viện là ngưới thế nào?<br />
<br />
– Mã Viện được phong chức Phục-ba tướng quân. Hồi phụ thân ta làm tướng cho Trường-sa vương. Viện là một huyện-úy. Sau cô Viện trở thành Vương-phi Trường-sa vương, y được cất nhắc lên chức Đô-úy, rồi Thái-thú. Hồi ta cùng Kiến-Vũ thiên-tử khởi binh, y đem toàn quân theo. Kiến-Vũ thiên-tử cảm động là người trung lương, chỗ con cô con cậu, nên cho y giữ đại quân. Lúc ta với Đặng Vũ đánh chiếm Kinh-châu, có bàn với Thiên-tử rằng: "Đất Kinh-châu địa thế phân chia Nam, Bắc Trung-nguyên bằng sông Trường-giang. Phía Bắc là hàng rào bảo vệ Lạc-dương, phía Nam tiếp giáp Lĩnh-nam, nơi các Thái-thú bất phục. Phía Đông giáp Mân-Việt, lòng người nan trắc. Phía Tây giáp Thục, Công-tôn Thuật hùng cứ, bất cứ lúc nào cũng gặp nguy hiểm, cần có người văn võ kiêm toàn, trung lương trấn thủ. Ta đề cử Mã Viện trấn giữ chín quận Kinh-châu, còn em y là Mã Anh làmThái-thú Trường-sa. Trong khi ta đánh vùng Giang-đông, chiếm Mân-việt, rồi kinh lược Lĩnh-nam"<br />
<br />
Lê Ngọc-Trinh hỏi:<br />
<br />
– Tại sao Kiến-Vũ thiên-tử không giao cho Mã Viện đánh Thục, mà lại giao cho Đặng Vũ?<br />
<br />
Nghiêm Sơn lắc đầu:<br />
<br />
– Mã Viện tuy là người trung lương, nhưng so với Đặng Vũ y chỉ là một đại tướng dưới quyền. Cho trấn thủ Kinh-châu là quá sức rồi. Chứ còn thống lĩnh quân nghiêng nước, các tướng khác như Sầm Bành, Mã Vũ không phục. Tuy vậy Kiến-Vũ thiên-tử vẫn giao y trấn thủ Kinh-châu kiêm phó tướng cho Đặng Vũ.<br />
<br />
Nghiêm Sơn thở dài tiếp:<br />
<br />
– Mã cậy thế là người thân của Mã thái-hậu, trấn thủ vùng trọng địa, trong khi tài ba, công lao y thua xa 9 đại tướng dưới quyền Đặng Vũ, được ta tặng cho danh hiệu "Tương-dương cửu hùng".<br />
<br />
Phương-Dung tỏ vẻ hiểu biết:<br />
<br />
– Tương-dương cửu hùng là chín đại tướng võ công vô địch, tài dùng binh không thua Tôn Vũ, dường như họ tên là Sầm Bành, Mã Vũ, Cảnh Yểm, Tế Tuân, Tang Cung, Lưu Hán, Phùng Tuấn, Đoàn Chí, Lưu Long. Tất cả chín người theo Kiến-Vũ thiên-tử từ khi mới khởi binh. Hiện họ đều ở đạo Kinh-châu cả sao?<br />
<br />
– Đúng thế. Vì võ công cao, tài dùng binh giỏi, lại nhiều công lao hơn Mã Viện. Mã Viện làm phó tướng, họ bất phục. Đã vậy Mã Viện còn muốn hất cẳng Đặng Vũ, khi Đặng Vũ cầm quân đánh vào Thục, y tìm cách chần chờ không chịu cung ứng lương thảo, bổ sung binh lính, cho nên Đặng Vũ mới thua.<br />
<br />
Phương-Dung gật đầu:<br />
<br />
– Vì vậy đại ca cần có mặt ở Kinh-châu phải không? Dường như Mã Viện chỉ sợ có Thiên-tử với đại ca thì phải?<br />
<br />
Nghiêm Sơn gật đầu:<br />
<br />
– Đúng thế. Việc dùng binh quan trọng nhất là trị quân cho nghiêm. Ta thành công nhờ đều đó. Một lần Mã Viện ỷ thế Mã thái-hậu, ta sai đem ra chặt đầu. Kiến-Vũ thiên-tử xin ta tha tội cho y. Ta phạt đánh y 30 côn, cách chức xuống còn sư trưởng, sai đi lập công chuộc tội. Từ đó y thấy ta như gà thấy cáo. Sư muội thấy đấy ta đối xử với anh hùng Lĩnh-nam, sư bá, sư thúc, sư đệ, sư muội bằng tất cả tình ruột thịt, họ là anh hùng, họ biết vì đại nghĩa tuân phục lệnh ta, thì có gì xảy ra đâu?<br />
<br />
Lê Ngọc-Trinh nói:<br />
<br />
– Bọn em là người hiệp nghĩa. Đem chữ hiệp ra làm việc, mà lại gây sự với nhau. Đem chữ nghĩa ra giúp đại ca Dù mất mạng cũng không từ, còn đâu là chuyện bất tuân lệnh nữa.<br />
<br />
Nghiêm Sơn gật đầu:<br />
<br />
– Sư muội nói đúng đó.<br />
<br />
Vương nói với Nam-hải nữ hiệp:<br />
<br />
– Phàm việc xung phong, tranh thắng, cần bảo vệ hậu quân cho vững. Lỡ hậu quân có biến cố, thì tiền quân bị lâm vào thế lưỡng đầu thọ địch. Hai vị Đinh Công-Thắng, Triệu Anh-Vũ đã vượt Kim-sơn. Đào Kỳ đang chiếm Độ-khẩu, song địa thế quá hiểm trở, vậy cần bảo vệ hậu quân thực kiên cố. Cho nên tôi mới nhờ Nam-hải nữ hiệp, sư thúc Lương Hồng-Châu, sư muội Lê Ngọc-Trinh là những người tinh minh mẫn cán, thống lĩnh đạo Nam-hải với ba Quân-bộ, ba Sư-kỵ dàn ra làm trừ bị, bảo vệ hậu quân.<br />
<br />
Phương-Dung hỏi:<br />
<br />
– Trong sáu đạo quân Lĩnh-nam, đạo Nam-hải bảo vệ hậu quân, đạo Nhật-nam sư bá Lại Thế-Cường đã điều lên Kinh-châu trợ chiến, đạo Cửu-chân do Hoàng sư-tỷ chỉ huy, đạo Quế-lâm do Minh-Giang chỉ huy, đạo Tượng-quận do sư đệ Đào Hiển-Hiệu thống lĩnh đánh Độ-khẩu. Đại ca nghĩ xem quân số đánh vào mặt sau Ích-châu như vậy đủ chưa?<br />
<br />
Nghiêm Sơn nói:<br />
<br />
– Ta được Tế-tác báo cho biết, Công-tôn Thiệu dồn toàn lực ra Kinh-châu, Hán-trung. Mặt Nam do một tướng trẻ, con nuôi Công-tôn Thiệu tên là Công-tôn Phúc tước phong Bình-nam vương trấn thủ. Quân số chưa quá 5 vạn, làm sao địch lại Tiểu sư-đệ với hai vị Đinh Công-Thắng, Triệu Anh-Vũ?<br />
<br />
Phương-Dung, Nghiêm Sơn lên đường đi Kinh-châu. Nghiêm Sơn chỉ mang theo mười tiễn thủ của phái Hoa-lư hộ vệ. Phương-Dung mang theo mười Thần-ưng liên lạc với các cánh quân.<br />
<br />
Lần đầu tiên Nghiêm Sơn thấy Phương-Dung cỡi con ngựa Ô. Ngựa Ô là một loại ngựa rừng Tây-vu. Hồ Đề phải mất công khó nhọc lắm mới bắt được nó. Trong buổi gặp gỡ đầu tiên, nàng tặng cho Phương-Dung. Nghiêm Sơn thấy Phương-Dung cưỡi ngựa không yên cương thì ngạc nhiên.<br />
<br />
– Ngựa không cương làm sao mà điều khiển được?<br />
<br />
Phương-Dung cười:<br />
<br />
– Nó là ngựa hoang, được chị Hồ Đề dạy dỗ, hiểu được tiếng người, không cần cương.<br />
<br />
Nàng hô lớn:<br />
<br />
– Chạy mau!<br />
<br />
Con ngựa Ô vọt lên như tên bắn. Nghiêm Sơn phi ngựa theo.<br />
<br />
Hai người tới Kinh-châu vào khoảng nửa đêm. Vương với Phương-Dung gọi cửa. Đặng Vũ, Trưng Nhị mở cửa thành ra đón. Trưng Nhị nhìn mặt Phương-Dung biết đã thành công, nàng hỏi:<br />
<br />
– Chiếm được Độ-khẩu, Kim-sơn rồi à?<br />
<br />
Phương-Dung gật đầu:<br />
<br />
– Quân đã qua Kim-sơn và Độ-khẩu rồi. Có lẽ giờ này họ đang trên đường tới Thành-đô. Cho nên em với Nghiêm đại-ca lên đây xem Đặng đại tư-mã cùng chị chiếm ải Xuyên-khẩu vào Bạch-đế. Với hùng tài đại lược của Đặng đại tư-mã thì vào Thành-đô chắc nhanh hơn Đào tam-ca.<br />
<br />
Đặng Vũ thất kinh hồn vía nghĩ: Trước đây Kiến-Vũ thiên-tử thường nói rằng Nghiêm Sơn vừa có mưu, vừa có trí, lại thêm tính tình hào sảng của võ lâm hiệp sĩ không sai. Vương từ Lĩnh-Nam lên đạo quân ít hơn ta nhiều, nhờ tinh thần hiệp nghĩa, vương được một số cao nhân hiệp sĩ giúp đỡ, mới thành công như vậy. Kiến-Vũ thiên-tử, Ngô Hán với ta đều cho Tế-tác thám thính tìm đường đánh mặt sau Ích-châu mà tuyệt vọng, vì sông nước chảy xiết, núi cao vời vợi, không thể vượt qua. Nay vương đã làm được, thì vương hơn ta gấp bội, vương xứng đáng là người trên ta. Kiến-Vũ thiên-tử hứa rằng, ai bắt hoặc giết được Công-tôn Thuật sẽ cho làm chúa Ích-châu. Nghiêm Sơn làm chúa Lĩnh-Nam, nơi bờ xôi giếng mật, vương đâu có thèm làm chúa Ích-châu? Ta cần phải được lòng vươn mới mong vào Ích-châu.<br />
<br />
Vì vậy Đặng Vũ đối với Nghiêm Sơn cực kỳ cung kính. Y sai chuẩn bị trướng gấm cho Nghiêm Sơn nghỉ, để hôm sau còn tiếp tục nghĩ kế đánh Xuyên-khẩu. Phương-Dung ở chung với Trưng Nhị, Hồ Đề.<br />
<br />
Sau khi rời Phiên-ngung, Trưng Nhị điều động anh hùng Lĩnh-Nam theo Đặng Vũ lên Kinh-châu trước. Còn Lại Thế-Cường với Hồ Đề thống lĩnh đạo Nhật-nam cùng với binh đoàn đặc biệt Tây-vu lên sau. Phải hơn tháng mới tới. Trong khi chờ đợi Lại Thế-Cường, Hồ Đề tới, Trưng Nhị suốt ngày cùng Đặng Vũ lo bổ sung binh mã, tiếp thu lương thảo, thao luyện binh sĩ. Mọi việc vừa hoàn tất thì Nghiêm Sơn tới.<br />
<br />
Chỉ cách nhau một tháng mà Trưng Nhị, Hồ Đề cảm thấy như xa Phương-Dung một năm vậy. Họ là những thiếu nữ trẻ tuổi tài năng xuất chúng, cùng hướng về đaÏi cuộc phục hồi Lĩnh-Nam, coi nhau như chân tay. Trần Năng hỏi về kế hoạch đánh Độ-khẩu và Kim-sơn, Phương-Dung trình bày tỉ mỉ từng chi tiết một.<br />
<br />
Hồ Đề bảo Phương-Dung:<br />
<br />
– Sau này nếu chúng ta khởi binh, phải chia thành khu vực, đánh nhiều mặt trận cùng một lúc, theo ý em phải chia như thế nào?<br />
<br />
Phương-Dung đáp:<br />
<br />
– Em đã nghĩ đến chuyện này rồi. Chúng ta chia làm bốn khu vực khác nhau. Khu vực Quế-lâm thì sư bá Triệu Anh-Vũ, Lương Hồng-Châu sẽ đứng chủ trương đại cuộc. Nhưng người điều khiển phải là Minh-Giang. Sư huynh Minh-Giang kinh nghiệm hành quân lại, lại hiểu nhân vật địa phương; huyện-lệnh, huyện-úy người nào theo ta, người nào chống ta, y biết hết.<br />
<br />
Trưng Nhị trầm ngâm một lúc tiếp:<br />
<br />
– Phương-Dung nhận xét đúng, chắc em đã thổ lộ mưu kế của chúng ta với Minh-Giang. Hiện giờ em để Đào tam đệ chỉ huy mặt Nam Ích-châu, còn Minh-Giang là Phấn-oai đại tướng-quân. Y là người Hán, liệu y có chống Quang-Vũ không?<br />
<br />
Phương-Dung gật đầu:<br />
<br />
– Chúng ta đã có 5 Thái-thú, 6 Đô-úy, Đô-sát, 5 Đại tướng-quân, thì Lĩnh-Nam đã là của chúng ta rồi. Chỉ còn Tô Định mà thôi. Tô bây giờ như người cụt tay, cụt chân. Đô-úy là sư thúc Trần Khổng-Chúng. Anh hùng Lĩnh-Nam do Đặng Thi-Sách, Trưng Trắc thống lĩnh. Kỵ binh có đaÏo Văn-lạc và Đăng-châu chiếm Luy-lâu. Các đạo Mai-động, Cối-giang, Thái-hà chiếm Long-biên. Còn các nơi khác như Thiên-trường, có sư thúc Trần Quốc-Hương, Lục-hải có Hùng Bảo, Trường-yên có phái Hoa-lư...Nghĩa là chúng ta cùng khởi binh một ngày. Quan lại địa phương ai theo ta thì để, ai không theo, chặt đầu.<br />
<br />
Trần Năng tiếp:<br />
<br />
– Vấn đề trước mắt là, ai thống lĩnh quần hùng? Từ trước đến nay, chúng ta mạnh ai nấy làm, chưa có người làm chúa tướng? Em sợ khi đánh đuổi giặc đi rồi lại lâm vào hoàn cảnh tranh giành địa vị.<br />
<br />
Phật-Nguyệt nói:<br />
<br />
– Đúng đấy, hiện chúng ta tôn Nam-hải nữ hiệp là người cầm đầu anh hùng Lĩnh-Nam. Nam-hải nữ hiệp chỉ là người đạo đức, cầm đầu anh hùng thì được, chứ tổ chức, cai trị một quốc gia thì không được.<br />
<br />
Phương-Dung suy nghĩ một lúc rồi nói:<br />
<br />
– Bàn chung những người sau đây có đủ tài năng, đức độ để làm chuyện đó: Đào-hầu, Đinh-hầu ở Cửu-chân, Đặng đại-ca, Nhị Trưng, sư thúc Đào Thế-Hùng. Em nghĩ sáu người này đều không ai bằng Nghiêm đại-ca.<br />
<br />
Trưng Nhị gật đầu:<br />
<br />
– Ta cũng nghĩ thế, tại sao ta không để Nghiêm đại-ca làm Lĩnh-Nam hoàng đế?<br />
<br />
Phương-Dung cười:<br />
<br />
– Em gần Nghiêm đại-ca nhiều, em biết chí của người lắm. Khi đứng ra giúp chúng ta xin Quang-Vũ cho phục hồi Lĩnh-Nam, thì Nghiêm đại-ca xin từ chức Lĩnh-nam vương, để tỏ ý không vì tham quyền cố vị mà chống lại nghĩa huynh Quang-Vũ. Người cũng như sư tỷ Hoàng Thiều-Hoa, chỉ thích tiêu dao sơn thủy. Vì vậy nếu Quang-Vũ thuận, người sẽ để Lĩnh-Nam cho chúng ta tổ chức thành một nước. Còn Quang-Vũ không thuận ắt có chiến tranh. Trường hợp đó Người sẽ đứng ngoài, không muốn giúp Quang-Vũ đánh chúng ta, cũng không muốn vì chúng ta mà phản Quang-Vũ.<br />
<br />
Phương-Dung trầm tiếng:<br />
<br />
– Em nghĩ thế này có đúng không: Sáu vùng Tượng-quận, Quế-lâm, Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật-nam, Nam-hải, các lạc-hầu bầu lấy một vị vương. Sáu vị vương đó bầu lấy một Lĩnh-Nam hoàng đế: Lệ đặt ra 5 năm bầu lại một lần.<br />
<br />
Trần Năng vỗ tay:<br />
<br />
– Sư thẩm hay thật, nghĩ ra được lối giải quyết đó. Ngày xưa, các động, trang đã bầu người thống lĩnh Tây-vu là An-Dương vương, nổi lên đánh vua Hùng. Có điều họ chỉ biết bầu lên, mà không biết ấn định thời gian tái bầu. Thành ra Ngài trở thành vị Hoàng-đế, cho đến lúc già, đầu óc thiếu minh mẫn, lầm lần trong vụ Trọng-Thủy.<br />
<br />
Trưng Nhị gật đầu:<br />
<br />
– Bây giờ chúng ta tạm coi thống lĩnh Cửu-chân là Đào-hầu, Nhật-nam là sư bá Lại Thế-Cường, Giao-Chỉ là Đặng đại-ca, Quế-lâm là sư bá Triệu Anh-Vũ, Nam-hải là Khúc-giang ngũ hiệp. Còn Tượng-quận thì phải lên Trường-sa mời Tượng-quận tam anh.<br />
<br />
Phương-Dung nói:<br />
<br />
– Còn Lĩnh-Nam hoàng đế, vấn đề khó đây. Bây giờ chúng ta cùng đoán xem, ai sẽ được bầu. Rồi mỗi người cùng viết vào một mảnh giấy kín, xem có ai giống nhau không?<br />
<br />
Các anh hùng cầm bút, viết lên giấy. Lại Thế-Cường thu các tờ giấy, mở ra. Thấy có 9 tờ thì 8 tờ ghi chữ Trưng Trắc, một tờ ghi chữ Đào Thế-Kiệt. Ông cười tủm tỉm nói với Trưng Nhị:<br />
<br />
 – Ta gấp đôi tuổi cháu, ta nhận xét không sai đâu, trước sau gì chị cháu cũng phải lĩnh chức Lĩnh-Nam hoàng đế. Thực là từ tiền cổ đến giờ mới có một. Muôn ngàn năm sau, anh hùng thiên hạ đều lắc đầu không hiểu tại sao chúng ta lại cử nữ hoàng đế. Song không cử Trưng Trắc thì không biết cử ai đây?<br />
<br />
Trưng Nhị khẳng khái nói:<br />
<br />
– Nếu tất cả anh hùng đều đề cử, chắc chị cháu nhận lĩnh. Đã là con cháu Hùng vương, An-dương Vương đâu sợ khó, sợ nguy hiểm.<br />
<br />
Đám anh hùng nói chuyện cho đến trời sáng, họ mới nhắm mắt dưỡng thần, vận khí lấy lại sức khỏe.<br />
<br />
Sáng hôm sau Nghiêm Sơn truyền đánh trống tụ tập các tướng. Tướng sĩ Hán trước đây đều dưới quyền chỉ huy của Nghiêm Sơn. Cách nhau một thời gian lâu dài, bây giờ giữa lúc họ bại trận, Nghiêm Sơn trở về với một đạo hùng binh, hàng trăm hào kiệt giúp sức. Họ nghiêm chỉnh đứng nghe lịnh, lòng tràn đầy hy vọng.<br />
<br />
Đặng Vũ trình bày:<br />
<br />
– Đạo quân Kinh-châu từ khi bại trận, án binh bất động để bổ sung, tướng sĩ đã phục hồi lại tinh thần. Nay nhờ Vương gia, binh lương đầy đủ. Sĩ tốt muốn ra trận phục thù. Trước mắt là ải Xuyên-khẩu kiên cố, phía sau Xuyên-khẩu là thành Bạch-đế. Binh tướng Xuyên-khẩu, ước 5 vạn bộ, hai vạn kỵ.<br />
<br />
Nghiêm Sơn gật đầu:<br />
<br />
– Bây giờ chúng ta ngồi xem Đặng đại tư-mã với Trưng Nhị trổ tài thần vũ. Tướng trấn thủ bên giặc là ai?<br />
<br />
Sầm Bành nói:<br />
<br />
– Là Công-tôn Thiệu, em ruột Công-tôn Thuật, tài kiêm văn võ. Về võ công y xử dụng đại đao, đoản đao đều thần sầu quỷ khốc. Về quyền cước, y xử dụng một pho chưởng pháp rất hùng hậu. Tôi đã đấu với y mấy trận, bất phân thắng bại. Y là một trong Thiên-sơn thất hùng.<br />
<br />
Phương-Dung giật mình hỏi:<br />
<br />
– Tôi nghe Nghiêm nguyên soái nói, Kiến-Vũ thiên tử khởi binh từ Hoài-dương, thì Đặng đại tư-mã cắp gươm theo hầu bên người, đánh thẳng về Lạc-dương. Võ tướng của Vương Mãng anh hùng là thế, mà không ai chịu nổi của Tư-mã lấy 10 chưởng. Sau Đặng đại tư-mã bị thua về tay tướng quân. Tiếp theo tướng quân đánh tới Kinh-châu, Xích-mi cõ công cao biết mấy, mà rút cục cũng thua tướng quân. Bên giặc nghe tên là khiếp đảm, thế mà y đấu ngang tay với tướng quân thì không phải tầm thường. Võ công y thuộc loại dương cương, ở đây chúng ta có sư thúc Phật Nguyệt xử dụng âm nhu có thể trị được. Còn hai người nữa, võ công dương cương tuyệt đỉnh là Khất đại phu với Đào tam ca, nhưng hai người không có ở đây. Vậy đối vối Công-tôn Thiệu, chúng ta cần đánh một trận bằng mưu trí, để y mất nhuệ khí và đánh baị y bằng võ công, để binh sĩ tin tưởng.<br />
<br />
Đặng Vũ muốn Trưng Nhị điều binh xem sao, nên bưng ấn kiếm đưa cho nàng. Y nghĩ rằng, nếu trận này thất bại, y đổ cho Nghiêm Sơn. Còn thành công thì y hưởng:<br />
<br />
– Xin nhờ Trưng cô nương trổ thần oai cho.<br />
<br />
Trưng Nhị không khiêm tốn cầm ấn kiếm nói:<br />
<br />
– Trước hết ta đánh cho giặc một trận để chúng mất nhuệ khí và lấy nhuệ khí cho quân ta.<br />
<br />
Các tướng Hán thấy một nữ quân sư tuổi chưa quá 25, khuôn mặt đẹp như ngọc, uy nghi lên trướng, chưa chi đã coi như thắng địch thì không tin cho lắm. Trưng Nhị đọc được nét mặt họ, nàng thản nhiên cầm bút viết một phong thư.<br />
<br />
"Trưng Nhị, lĩnh Quân sư đạo binh Kinh-Sở nhà Đại-Hán, thư cho Trường-sa vương. Tiểu nữ từ Lĩnh-nam, được Lĩnh-nam vương hạ cố mời làm Quân-sư cho Đại tư-mã. Vương gia lịnh cho tiểu nữ phải vào Thành-đô trước Tết, thưởng hoa xuân đất Thục. Vậy xin mời các vị anh hùng Thiên-sơn xuất thành quyết chiến một trận".<br />
<br />
Nàng nói với Hồ Đề:<br />
<br />
– Phiền sư muội cho chim ưng đưa vào thành dùm.<br />
<br />
Hồ Đề gật đầu, hú lên lanh lảnh. Một con chim ưng bay lên đậu vào tay nàng. Nàng đưa phong thư nó cắp vào mỏ. Nàng huýt sáo, ra hiệu chỉ chỗ, nó gật đầu bay bổng lên trên mây, hướng vào thành Xuyên-khẩu.<br />
<br />
Trưng Nhị thăng trướng ra lệnh:<br />
<br />
– Phía bắc thành Xuyên-khẩu có rừng Đại-xuyên, bây giờ mùa Đông, cây cỏ không lá khó phục binh. Nữ tướng Lê Chân dẫn một nghìn quân kỵ vá 50 thớt voi, vòng phía Đông sang Tây phục sau đồi. Đợi khi Đại tư-mã và Công-tôn Thiệu giao chiến, thế nào chúng cũng cho một đội kỵ binh xuất cửa Bắc đánh vào sườn phải của chúng ta. Khi giặc xuất thành, đợi cho chúng dàn quân đánh vào hữu quân của ta đang hồi kịch liệt, lập tức thả 50 thớt voi và phục binh đánh vào hậu quân chúng. Bị đánh bất ngờ, chúng cùng đường tất tử chiến. Bấy giờ phải mở một đường cho chúng chạy vào rừng. Ở đấy sẽ có đội quân bắt chúng.<br />
<br />
– Phía Nam thành Xuyên-khẩu có rừng Nghi-đô. Nữ tướng Trần Năng mang 50 thớt voi cùng 5000 quân phục tại đây. Khi Đặng đại tư-mã giao chiến với Công-tôn Thiệu, tất giặc xuất cửa thành phía Nam đánh vào tả quân của ta, tôi sẽ cho đốt pháo lệnh, bấy giờ xua voi và phục binh ra đánh. Giặc bị đánh trước sau thế nào cũng bỏ chạy vào rừng. Giặc đông quá không bắt hết đâu, phải dùng cung nỏ mà bắn. Giặc tất bị tử thương nhiều, bấy giờ hãy đổ quân ra mà bắt lấy.<br />
<br />
– Công-tôn Thiệu xuất thành, chúng ta chờ y ở Vu-sơn. Đặng đại tư-mã với tôi ở trung quân. Sư thúc Phật Nguyệt cầm tả quân, sư thúc Lại Thế-Cường cầm hữu quân. Chúng ta cùng xuất trận. Nếu Công-tôn Thiệu xuất trận, Đặng tư-mã sẽ đấu vối y. Dù thắng, dù bại, tôi cũng xuất quân và đội voi tràn sang trận địch. Quân giặc bị đánh bất thình lình, quân trong thành sẽ đổ ra cửa Bắc, Nam cứu viện. Sư bá Lại Thế-Cường chia quân ra làm đội, một nửa chống với tả quân địch, một nửa chống với đội quân cửa Bắc. Khi thấy mình núng thế thì đốt pháo lệnh, sư muội Trần Năng cho đổ phục binh ra đánh. Giặc thua tất chạy vào rừng. Hồ Hác sư đệ phục ở đây một đội binh mà bắt sống. Quân cửa Nam đổ ra thì sư thúc Phật Nguyệt sẽ chia quân làm hai, một nửa chống với hữu quân địch, một nửa đánh quân tiếp viện cửa Nam. Khi thấy mình núng thế thì đốt pháo lệnh lên. Sư muội Lê Chân sẽ đổ phục binh ra đánh vào hậu quân đội tiếp viện cửa Nam. Bấy giờ sư thúc Phật Nguyệt phải giết cho bằng được tướng địch để giặc mất nhuệ khí. Tôi có lời dặn chung: Khi giặc bị thua nên bắt sống càng nhiều càng tốt, tôi sẽ dùng đám quân sĩ này làm tan nát đoàn quân Thục còn lại.<br />
<br />
Các tướng thấy Trưng Nhị điều quân phải phép, đều ngẩn người ra khâm phục. Chính Đặng Vũ cũng ngẩn người, vì y đã thấy Phương-Dung điều quân. Y cho rằng Phương-Dung chỉ biết ước tính về chiến lược mà thôi, không ngờ bây giờ thấy Trưng Nhị chỉ huy quân tỏ ra thông thạo cả chiến thuật lẫn chiến lược.<br />
<br />
Trưng Nhị tiếp:<br />
<br />
– Lĩnh-nam vương gia và quân-sư Phương-Dung sẽ ra trước trận để khích lệ tướng sĩ.<br />
<br />
Vừa lúc ấy thì chim ưng trở về. Hồ Đề nói:<br />
<br />
– Nó đưa thư rồi.<br />
<br />
Đến chiều có sứ từ trong thành đưa thư qua. Trưng Nhị cầm lấy thư đọc. Thư viết:<br />
<br />
"Dã phu phái Thiên-sơn là Công-tôn Thiệu kính gửi Trưng Nhị cô nương thuộc phái Tản-viên, đất Lĩnh-nam".<br />
<br />
Nàng đọc xong đưa cho Phương-Dung xem:<br />
<br />
"Tôi là tên nhà quê, ở núi Thiên-sơn, cùng huynh trưởng xuất thân theo đòi nghiệp võ. Chúng tôi gồm bảy người sư huynh đệ đồng môn, thề cùng nhau dùng võ công giúp kẻ khó, cứu người nguy, trừ đạo tặc. Thời thế nhiễu nhương, vua thì hôn ám, quân thì nhũng lạm, giặc giã nổi lên tứ phương, Trăm họ khốn khổ, muốn sống không nổi. Vì vậy huynh trưởng tôi, tụ tập đệ tử chiếm vùng Kinh-châu, Ích-châu, Hán-trung, tổ chức thành một nước Nghiêu-Thuấn. Trước đây tôi có giao tình với sư huynh Đặng Thi-Sách rất hậu. Giữa hai người cùng một ý chí cầm gươm cứu dân. Nay chúng tôi đang làm, trong khiến trăm họ yên ổn, vua với tôi, quân với dân coi nhau như ruột thịt. Vì vậy tuy Ích-châu đất hẹp, dân nghèo, mà Quang-Vũ đem hùng binh trăm vạn, chia làm ba đạo, bao lần tiến vào đều bị đánh bại. Mới đây Tế-tác báo rằng Trưng cô nương cùng Lĩnh-nam vương xuất lĩnh hào kiệt phò Hán diệt Thục. Dĩ nhiên Lĩnh-nam nhân tài như rừng, như biển, cùng Hán diệt Thục thì Thục nguy vong. Thục nguy vong thì trăm họ Ích-châu lầm than, cũng chẳng đáng nói gì, nhưng khi Hán đã diệt Thục, liệu Lĩnh-nam có còn đứng vững được không? Lĩnh-nam vương có còn được tại vị hay không?<br />
<br />
Trước đây, thời Tây-Hán, Sở-vương Hàn Tín, công lao dường nào, cuối cùng cũng bị diệt tộc. Nay Lĩnh-nam vương công đã không bằng Hàn Tín, mà uy lại bao trùm thiên hạ, thì cái họa không xa là mấy.<br />
<br />
Kính cẩn mong cô nương nghĩ lại".<br />
<br />
Phương-Dung đọc xong chuyển cho Hồ Đề, Trần Năng cùng đọc. Trần Năng nói:<br />
<br />
– Tế tác của Thục thật tài. Chúng ta họp tại Quế-lâm, cơ mật bảo toàn, chỉ có chư tướng được biết thôi, thế mà Thục biết rồi. Đợi ngày mai ra trận sẽ định liệu.<br />
<br />
Sáng hôm sau Đặng Vũ cho lệnh xuất quân, tới đồi Vu-sơn dàn nghiêm chỉnh. Công-tôn Thiệu dàn quân, quân khí hùng tráng, uy vũ ngất trời.<br />
<br />
Trưng Nhị, Hồ Đề, Phật Nguyệt, Lại Thế-Cường đứng trước trận uy thế phiêu phiêu phiêu, hốt hốt, trong cái uy có cái nhàn tản.<br />
<br />
Công-tôn Thiệu thủng thỉnh cưỡi ngựa ra trước trận nói với Đặng Vũ:<br />
<br />
– Quang-Vũ thế cùng lực kiệt, tướng sĩ nản lòng, binh tướng không muốn chiến đấu, nên phải đi cầu viện Lĩnh-nam về đối phó với chúng ta. Đặng Vũ! Ngươi là Đại tư-mã, theo hầu Quang-Vũ đã lâu, tự hào trí dũng song toàn, vậy ngươi có dám cùng ta đấu không? Hay phải dựa vào mấy vị cô nương đất Lĩnh-nam?<br />
<br />
Đặng Vũ cầm roi chỉ sang trận Thục:<br />
<br />
– Lĩnh-nam hay Ích-châu cũng đều là đất của nhà Đại-Hán, mấy vị cô nương Lĩnh-nam, sang đây để trừ diệt bọn anh em phản tặc các người.<br />
<br />
Công-tôn Thiệu quát lên:<br />
<br />
– Bọn mi sức cùng, lực kiệt, đem đàn bà ra trận mà làm cái gì?<br />
<br />
Trưng Nhị bước ra trước trận nói :<br />
<br />
– Công-tôn vương gia. Vương gia hỏi câu đó đủ tỏ ra vương gia không biết cái lý của trời đất. Trong thế gian có trời thì có đất, có nóng thì có lạnh, có nam thì có nữ. Cho nên quân Hán mới có nữ tướng, nữ binh. Vương gia coi thường phụ nữ, chẳng hóa ra không hiểu lẽ biến hóa của vũ trụ ư?<br />
<br />
Hồ Đề là người của Tây-vu theo chế độ mẫu hệ, nàng ghét nhất những người khinh thường phụ nữ. Trong đại hội Tây-hồ, Đinh Công-Thắng chế nhạo Hùng Bảo phải phục tùng vợ, nàng đã đánh cho y phải chui qua háng Trần Năng. Bây giờ nghe Công-tôn Thiệu nói giọng khinh nữ, nàng nổi giận cành hông, phất tay hai cái, hú lên một tiếng dài, vang tới trời cao. Trưng Nhị biết nàng nổi giận, chắc lại tinh nghịch cái gì đây. Nàng không can gián, nói nhỏ với Đặng Vũ:<br />
<br />
– Để cho Công-tôn Thiệu chịu nhục một chút cũng không sao.<br />
<br />
Từ phía sau trận một thiếu niên, tuổi khoảng 13-14, quần áo da, phi ngựa đến bên Hồ Đề. Hồ Đề nói nhỏ:<br />
<br />
– Sún Lé, em cho chúa tôi bên Thục ăn cứt đi.<br />
<br />
Sún Lé hỏi :<br />
<br />
– Mấy bãi?<br />
<br />
Hồ Đề đáp:<br />
<br />
– Hai trăm bãi.<br />
<br />
Sún Lé cầm tù và thổi lên trời mấy hơi dài liên miên bất tận. Từ chân trời xa xa, một đoàn chim ưng bay đến trước trận. Đàn chim ưng lông màu nâu, dưới ánh nắng phản chiếu lóng lánh đẹp vô cùng. Đàn chim chia làm 5 toán, mỗi toán 25 con xếp hàng rất ngay ngắn, bay đến trước trận lượn thành vòng tròn.<br />
<br />
Sún Lé lại cầm tù và thổi lên một hơi dài nữa, từ chân trời xa xa đoàn chim ưng khác bay đến, cũng 25 con xếp 5 hàng ngay ngắn. Hai đàn chim lượn vòng vòng trên nền trời.<br />
<br />
Tướng sĩ Hán, Thục cùng ngửa cổ lên nhìn hai đoàn Thần-ưng không biết những gì sẽ xảy ra. Ngay cả Nghiêm Sơn, Đặng Vũ, Phương-Dung, Trưng Nhị thấy Hồ Đề mang theo đội Thần-ưng, họ không hiểu nàng cho chúng tham chiến dưới hình thức nào? Nhất là đội này được chỉ huy bởi bọn thiếu niên tuổi chưa quá 15, đều có bộ răng đẹp, mà có hỗn danh là Sún Lé, Sún Cao, Sún Lùn, Sún Rỗ và Sún Hô. Bây giờ thấy Hồ Đề hú lên một tiếng vang vang, thì Sún Lé phi ngựa ra. Sún Lé cầm tù-và thổi, đoàn thần ưng bay lượn rất nhịp nhàng. Bỗng cả đoàn bay vọt lên mây rồi bất thần đâm bổ xuống với tốc độ kinh khủng vào giữa trận Thục. Binh tướng Thục vội vàng chuẩn bị vũ khí đối phó. Nhưng đoàn thần ưng bay xuống cách họ hơn trăm trượng thì vọt trở lên, đồng kêu một loạt. Tướng sĩ Thục thấy trên đầu, y phục, ngựa đều bị một loạt phân chim rơi xuống. Họ đưa tay lên sờ mặt rồi ngửi, mặt mũi nhăn nhó khó chịu.<br />
<br />
Đứng lược trận phía xa, Nghiêm Sơn thấy tướng sĩ Thục bị Thần-ưng ị tập thể xuống đầu, trông thực thảm thiết. Vương là người nghiêm trang, cũng phải cười đến sùi bọt mép ra.<br />
<br />
Hai đoàn Thần-ưng sau khi thả phân vào trận Thục, đồng ré lên một loạt, biến vào chân trời xa.<br />
<br />
Các tướng sĩ bên Hán cười ầm lên, vỗ tay hoan hô. Hồ Đề thấy như vậy đã đủ. Nàng hú lên một tiếng. Sún Lé gò ngựa trở về trận, đứng chờ lệnh.<br />
<br />
Hồ Đề hỏi Công-tôn Thiệu:<br />
<br />
– Công-tôn vương gia, thế nào, nữ nhân có tài hay vô tài? Lời vương gia nói ra, chỉ đáng so sánh với phân chim mà thôi.<br />
<br />
Công-tôn Thiệu người đầy cứt chim, giận quá, y chỉ một tướng cạnh là Công-tôn Đoàn:<br />
<br />
– Ngươi hãy ra giết đứa con gái kia cho ta.<br />
<br />
Công-tôn Đoàn vọt ngựa ra đứng trước Hồ Đề:<br />
<br />
– Nữ tướng kia! Hãy cùng ta đấu ít trăm hiệp.<br />
<br />
Hồ Đề vọt ngựa ra trước, tay nàng rung lên, cây roi da đã chụp xuống đầu Công-tôn Đoàn. Nguyên cái roi Hồ Đề cán ngắn, khoảng vài gang tay, còn lại là những sợi da. Đầu mỗi sợi da móc những tấm lục lạc và dao, móc câu. Nàng vung lên một cái thì Công-tôn Đoàn thấy một cái lưới chụp vào người. Y múa đao đỡ nhưng không kịp, một vài móc câu trúng vào người y, máu chảy ra lênh láng. Hai người quấn lấy nhau giao phong. Hồ Đề thấy võ công Đoàn cao hơn mình, bản lĩnh ngang với Trần Năng, nên không dám coi thường. Đánh được trên trăm hiệp, Hồ Đề đuối sức, nàng lùi dần về phía sau. Công-tôn Đoàn lợi dụng nàng sơ hỏ, quát lên một tiếng, chém cụt đầu con ngựa nàng. Hồ Đề biết thế nguy, là người ở rừng núi, đánh dư trăm trận, nhiều kinh nghiệm chiến đấu, nàng đạp chân vào yên ngựa, vọt người lên. Công-tôn Đoàn vớt một đao lên cao định kết liễu tính mạng nàng, thì y cảm thấy một ám khí chụp xuống đầu. Ám khí là sợi dây mềm trói tay y lại, đao rơi xuống đất. Y vùng vẫy thoát khỏi sợi dây, thì Hồ Đề đã rơi xuống sau ngựa y, chụp cổ bắt sống, phi ngựa chạy về trận Hán, liệng y xuống đất.<br />
<br />
Bấy giờ mọi người mới nhìn ra, thấy Công-tôn Đoàn bị một con trăn to bằng cổ tay, dài hơn trượng siết chặt, không giẫy được.<br />
<br />
Nguyên Hồ Đề thường nuôi, dạy trăn, rắn làm vũ khí. Nàng cũng như các hào kiệt Tây-vu, kể cả Lục Sún đều đeo trên lưng một cái túi. Trong túi có hai con trăn lớn và hơn chục con rắn nhỏ cực độc. Chúng được huấn luyện tinh vi. Khi lâm trận, chỉ cần xùy một tiếng, chúng từ trong túi đeo trên lưng vọt ra tấn công địch. Vì vậy trong lúc nguy cấp, Hồ Đề xùy một tiếng, con trăn nằm trong túi dưới bụng ngựa, vọt ra quấn lấy Công-tôn Đoàn. Công-tôn Thiệu nhảy ra định cứu tướng của mình thì Sầm Bành vung đao chém xả ngay mặt kình lực mạnh vô cùng :<br />
<br />
– Công-tôn Thiệu, chúng ta tái đấu.<br />
<br />
Sầm Bành chĩa đao ngay đầu y chém xuống ! Hai người quay cuồng đấu vơi nhau. Trưng Nhị chỉ giỏi về chưởng pháp, kiếm pháp, nàng không hiểu nhiều về đao pháp, quay lại nhìn Phật-Nguyệt để hỏi ý kiến. Phật-Nguyệt là đệ tử yêu của Nguyễn Phan, kiếm thuật của nàng thần thông, không kém gì Phương-Dung, Đào Kỳ, nàng phân biệt được đao pháp của Công-tôn và Sầm. Nàng nói nhỏ cho Trưng Nhị nghe :<br />
<br />
– Đao pháp của hai người thuộc loại dương-cương, nhưng hai môn phái khác nhau. Bành thuộc Bắc phái, trầm mãnh, thiếu biến hóa tinh vi. Còn Thiệu dường như thuộc vùng Kinh-Sở, vừa trầm vừa hùng, biến hóa tinh kỳ. Hai bên nội lực cùng cao ngang với Khất đại-phu, Đào tam-lang, Lê Đạo-Sinh. Có điều cả hai cùng kinh nghiệm chiến đấu, khó mà biết ai thắng bại. Nội lực Bành hùng hậu hơn một chút, nếu đấu chưởng thì thắng. Tôi cần quan sát võ công hai người, để Phương-Dung, Đào Kỳ nghiên cứu cách phá. Lỡ một mai họ sang Lĩnh-nam, ta biết phá võ công của họ. Biết cách phá ta không còn sợ gì nữa.<br />
<br />
Hai tướng đấu trên hai trăm hiệp. Hồ Đề hỏi Trưng Nhị :<br />
<br />
– Chị muốn em cho tên Công-tôn một bài học hay không ?<br />
<br />
Trưng Nhị thấy Hồ Đề thích tinh nghịch mà bấy lâu nay phải trở thành đại tướng, không có dịp phát tiết cũng buồn, ban nãy nàng cho Công-tôn Thiệu ăn phân chim, dùng trăn bắt sống Công-tôn Đoàn, lòng đầy phấn khởi. Bây giờ nàng muốn mang Công-tôn Thiệu ra đấu nữa, thì tính trẻ con của Trưng Nhị cũng nổi dậy, nàng hỏi :<br />
<br />
– Em muốn cho hắn bài học như thế nào ?<br />
<br />
Hồ Đề bưng miệng cười :<br />
<br />
– Em muốn nó trần truồng trước trận cho bõ ghét, vì nó có tội khinh thường đàn bà.<br />
<br />
Trưng Nhị gật đầu :<br />
<br />
– Ừ, em làm thử chị xem.<br />
<br />
Hồ Đề phi ngựa đến trước hai tướng hô lớn :<br />
<br />
– Công-tôn vương-gia, Sầm đại tướng quân xin ngừng tay ?<br />
<br />
Hồ Đề người rừng núi, nàng ưa nói mộc mạc. Nhưng từ khi rời Giao-chỉ sang đây, lúc nào cũng đi cạnh Trưng Nhị, được Trưng Nhị dạy dỗ rằng : Bất cứ trường hợp nào, dù là kẻ thù, cũng phải nói năng lịch sự, tỏ ra chúng ta dù là võ tướng cũng vẫn không mất vẻ đoan chính, nhu thuận của gái Lĩnh-nam. Cho nên lời nói vừa rồi của nàng mới văn vẻ như vậy.<br />
<br />
Hai tướng cùng lui ngựa lại.<br />
<br />
Hồ Đề bảo Sầm Bành :<br />
<br />
– Sầm tướng quân, tôi thấy võ công Công-tôn vương-gia vô cùng kỳ diệu nên muốn lĩnh giáo ít chiêu. Xin Đại tướng-quân nhường cho tôi được không ? Hai vị đã đánh nhau nhiều rồi mà chưa chán ư ?<br />
<br />
Công-tôn Thiệu vừa bị nàng chỉ huy đội Thần-ưng ỉa đầy đầu, quần áo, y chưa nguôi giận, tiếp theo cháu là Công-tôn Đoàn bị nàng dùng trăn bắt sống. Y thấy võ công nàng không mấy gì cao, nhưng nàng chỉ huy được trăn, chim ưng huyền bí kỳ lạ, y đã ngán. Nàng thấy võ công y cao mà còn dám thách đấu, thì chắc là có mưu đồ gì đây, y không muốn ra tay, vẫy một cái. Một tướng trẻ khoảng ba mươi tuổi, dáng điệu hiên ngang hùng vĩ bước ra trước trận nói lớn :<br />
<br />
– Ta là Thượng-tướng Vũ Chu, nếu bên người có ai địch nổi thì ra đây đối chiêu.<br />
<br />
Mã Viện nói nhỏ :<br />
<br />
– Vũ Chu là tướng vô địch bên giặc, thất học, vô mưu, nhưng có võ công cao hơn tôi. Tôi bị bại về tay hắn một lần.<br />
<br />
Hồ Đề xua tay :<br />
<br />
– Vũ tướng quân ! Ta thấy người coi cũng đẹp đẽ đấy, ta không muốn đấu với ngươi. Ta muốn đánh nhau với Công-tôn Thiệu kia. Ngươi về trận nghỉ đi, đừng đánh nhau với ta, không tốt đâu.<br />
<br />
Nàng là người Tây-vu, ngẫm nghĩ câu nói bằng tiếng Mường, xong mới dịch sang tiếng Hán, nên giọng hơi ngọng. Người Mường nghĩ sao nói vậy, nàng thấy Vũ Chu dáng điệu hiên ngang, hùng vĩ thì dịch sang tiếng Hán là đẹp đẽ.<br />
<br />
Người Trung-nguyên vào thế kỷ thứ nhất bị ảnh hưởng sâu đậm của đạo lý Khổng Mạnh, nam ra ngoài xã hội, nữ ở trong nhà : Nam tại ngoại, nữ tại nội. Đàn bà con gái khi đi đường gặp đàn ông lạ nhìn vào mặt một cái, đã phải che mặt xấu hổ. Thế nhưng nay họ thấy các nữ tướng Lĩnh-nam nhu mì xinh đẹp, trang phục tươi như hoa, giống như những đóa hoa xuân, ra trước trận đã là một điều hiếm thấy. Họ còn thấy Hồ Đề bắt sống Công-tôn Đoàn dễ dàng, bây giờ nàng lại khen Vũ Chu đẹp đẽ, thì không thể nào hiểu nổi.<br />
<br />
Công-tôn Thiệu ngẫm nghĩ :<br />
<br />
– Ta chỉ cần đánh một hiệp là bắt được con nhỏ, đem về làm tỳ thiếp cũng sướng một đời. Đất Ích-châu làm gì có đàn bà thế này ?<br />
<br />
Nghĩ vậy y chỉ mặt Hồ Đề :<br />
<br />
– Ngươi dùng chim ưng làm người ta dơ bẩn, được ta sẽ bắt ngươi, đem về lột trần truồng cho quân sĩ coi.<br />
<br />
Đối với người Hán thời bấy giờ, con gái bị người ta nắm lấy tay, phải chặt tay đi để bảo toàn danh tiết. Con gái bị lột trần truồng ra thà giết đi còn sướng hơn. Hồ Đề là người Mường, nàng thường cùng các bạn gái đêm đêm ra suối, cởi trần truồng tắm với nhau, đùa vui ca hát, đó là điều thích thú. Bây giờ nghe Công-tôn Thiệu nói, nàng cười :<br />
<br />
– Ta không cần ngươi lột đâu. Ta biết tự cởi lấy để tắm mà !<br />
<br />
Trưng Nhị nói nhỏ với Hồ Đề :<br />
<br />
– Y nói lột quần áo sư muội ra là nhục lắm đấy. Sư muội trả đũa đi.<br />
<br />
Con ngựa của Hồ Đề đã bị Công-tôn Đoàn chém chết, nàng mượn con ngựa ô của Phương-Dung. Nàng huýt sáo một tiếng, con ngựa lao thẳng vào Công-tôn Thiệu. Các tướng sĩ cũng ngạc nhiên khi thấy con ngựa đen nhỏ, không cương, phóng nhanh như lao. Thiệu vung đao chém vào đầu ngựa ô, định giết ngựa, bắt tướng. Nhưng ngựa ô là linh vật của rừng Tây-vu, nó thấy kình lực đao chém vào đầu thì khuỵu vó trước xuống, uốn cong lưng, dựng vó sau lên đá vào ngực Công-tôn Thiệu. Thiệu vội thu đao về đưa ngang cắt hai chân sau ngựa Ô. Ngựa Ô chui dưới bụng ngựa Thiệu, luồn qua phía sau. Trong khi đó Hồ Đề nhảy xuống đất vung tay một cái, cả trăm quả mắt mèo chụp xuống đầu Công-tôn Thiệu. Thiệu vội trở đao lên lia đứt những sợi dây nhưng không kịp nữa, mấy cái móc câu đã trúng người y, đau đớn thấu xương, máu chảy đầm đìa. Con ngựa Ô chui qua bụng ngựa Thiệu, há mồm đớp một cái đứt nghiến hai trứng ngựa Thiệu, rồi vọt ra sau. Ngựa Thiệu bị đứt nghiến hai trứng đau quá hí lên một tiếng ngã lăn ra. Nói chậm chứ diễn tiến ngựa Ô lao tới chui qua bụng, đớp trứng liên hợp với hai đao của Thiệu và một roi của Hồ Đề thật mau. Công-tôn Thiệu là võ học danh gia, y thấy ngựa đổ xuống vội vọt mình lên cao để khỏi ngã. Hồ Đề ném vào người y một nắm ám khí, y vung chưởng lên gạt, thì ra là một đám phấn gì đó, chứ không phải ám khí.<br />
<br />
Y rơi xuống đất, nhìn ngựa mình bị đứt hạ bộ, máu đầm đìa, trong khi đó Hồ Đề đã lên lưng ngựa Ô ngồi, tay nàng cầm hai cái cật ngựa máu còn nhỏ giọt, đưa ra trước ba quân nói :<br />
<br />
– Cật ngựa mà xào rau ăn thì chắc là ngon lắm. Cám ơn vương-gia ban cật ngựa.<br />
<br />
Tướng sĩ bên Hán cười đến phun bọt miệng ra. Quân lính bên Thục không nhịn được cũng phì cười. Họ vội bụm miệng lại vì thấy chủ soái mình bị nhục mạ, cười có khác gì cổ võ bên địch.<br />
<br />
Con ngựa của Công-tôn Thiệu giẫy mấy cái thì chết. Hồ Đề rú lên một tiếng dài, một đàn chim ưng từ trên trời lao xuống xúm nhau rỉa thịt con ngựa Thiệu. Phút chốc con ngựa chỉ còn bộ xương.<br />
<br />
Người nghiêm trang nhất là Nghiêm Sơn với Lại Thế-Cường cũng phải cười đến sùi bọt mép ra. Nghiêm Sơn đã biết Hồ Đề ngỗ nghịch, nhưng không ngờ nàng còn dạy con ngựa Ô ngỗ nghịch theo nàng đến thế. Phương-Dung là một thiếu nữ tinh nghịch, thấy Hồ Đề nghịch quá, phải gật đầu nhận rằng mình còn thua nàng quá xa.<br />
<br />
Trưng Nhị bảo sẽ Đặng Vũ :<br />
<br />
– Hồ Đề tinh nghịch qúa sợ Công-tôn Thiệu nổi giận, xin tướng quân chuẩn bị đánh với y.<br />
<br />
Quả nhiên Công-tôn Thiệu nổi giận, vung đao nhảy đến tấn công Hồ Đề. Con ngựa Ô vọt chạy ngược về phía trận Thiệu. Thiệu mừng quá đuổi theo. Phía trận Thục, ba tướng đứng đầu thấy ngựa Hồ Đề chạy đến định dùng vũ khí đánh, nhưng ngựa Ô lạng một cái trở đầu chạy ngược về. Nó vung cước đá ngược ra sau, trúng đầu hai con ngựa tướng Thục. Hai con ngựa đau quá hí lên, quật chủ rơi xuống đất. Khinh công Công-tôn Thiệu tuy cao nhưng không đuổi kịp ngựa Ô. Không cương, Hồ Đề huýt sáo chỉ huy, nó cứ chạy vòng vòng quanh trận, làm Thiệu đuổi một lúc mệt quá ngừng lại, thì ngựa Ô cũng ngừng lại. Công-tôn Thiệu cảm thấy vết thương do roi Hồ Đề đánh vào ngứa ngáy, y đưa tay lên gãi, thấy ở cổ cũng ngứa. Y không chịu được, cởi giáp quăng xuống đất mà gãi. Y càng gãi, càng ngứa.<br />
<br />
Trưng Nhị hỏi Hồ Đề :<br />
<br />
– Sư muội, em làm gì hắn vậy ?<br />
<br />
Hồ Đề cười :<br />
<br />
– Em tung vào người hắn một ít bột móc mèo. Bột này trúng da thì ngứa lắm, nhưng không làm chết người. Thông thường trúng da thì không đáng ngại, nếu người ta chạy nhiều, mồ hôi đổ ra, phấn móc mèo lọt vào lỗ chân lông, thì ngứa đến điên lên được.<br />
<br />
Công-tôn Thiệu nhảy lên ngựa của một tướng Thục, giật quần áo ra mà gãi. Y ngứa quá, râu tóc dựng đứng lên. Hồ Đề cười ha hả nói :<br />
<br />
– Công-tôn vương gia ! Vương-gia đòi lột quần áo tôi. Tại sao vương gia lại tự lột quần áo mình vậy?<br />
<br />
Vũ Chu thấy chủ tướng bị làm nhục, vọt ngựa ra trước trận định đánh với Hồ Đề, Trưng Nhị vẫy tay cho Hồ Đề lùi lại, Phật-Nguyệt tiến ra.<br />
<br />
Phật-Nguyệt phi ngựa ra tới trước Vũ Chu nói:<br />
<br />
– Ta là Phật-Nguyệt, gái Việt đất Lĩnh-nam, muốn cùng anh hùng Ích-châu qua lại mấy chiêu;<br />
<br />
Vũ Chu thấy một thiếu nữ mảnh mai, mặc quần áo lụa xanh, không mặc giáp trụ, lưng đeo bảo kiếm, nói năng nhu nhã, y coi thường:<br />
<br />
– Được, vậy cô nương muốn cùng ta đấu quyền hay đấu kiếm?<br />
<br />
Phật-Nguyệt gật đầu:<br />
<br />
– Tôi muốn lĩnh giáo tướng quân mấy chiêu kiếm.<br />
<br />
Công-tôn Thiệu đã được y sĩ thoa thuốc, hết ngứa, mặc giáp trụ lại. Y rút kiếm sau lưng đưa cho Vũ Chu:<br />
<br />
– Vũ tướng quân, nếu ngươi bắt được cô gái này, ta gả cho tướng quân làm vợ đấy.<br />
<br />
Binh Thục cười ầm lên. Vũ Chu cầm kiếm, cởi giáp trụ bỏ lại trận, nhảy xuống ngựa đứng đối diện với Phật-Nguyệt. Trống trận hai bên khua vang lừng. Vũ Chu cầm kiếm vòng một chiêu khoanh tay như chào. Phật-Nguyệt cũng cầm kiếm nhảy lên cao quay một vòng, giải khăn lụa bay phấp phới trông thật đẹp. Nàng đáp xuống khoanh tay chào. Tướng sĩ hai bên thấy chiêu này, biết khinh công của nàng không tầm thường. Vũ Chu tấn công trước, kiếm chiêu kình lực mạnh kêu lên những tiếng vo vo. Bên này trận Lại Thế-Cường nói với Trưng Nhị:<br />
<br />
– Trưng cô nương! Cô nương bảo Phật-Nguyệt đừng giết Vũ Chu vội, để y diễn hết kiếm thuật Thục, hầu chúng ta hiểu rõ địch hơn đã.<br />
<br />
Đặng Vũ nhăn mặt nhìn Trưng Nhị, Lại Thế-Cường tự nói thầm: Chúng mày thật hỗn láo! Võ công Vũ Chu vô địch đến Sầm Bành còn không địch lại, mà chúng mày dám bảo Phật-Nguyệt đừng giết y, cứ làm như là giết y dễ dàng lắm. Ta sợ Vũ Chu chỉ chém vài kiếm là con nhỏ kia mất mạng ngay.<br />
<br />
Đặng Vũ xuất thân từ một danh gia đệ tử, năm 25 tuổi theo Quang-Vũ với Nghiêm Sơn khởi binh, các tướng của Vương Mãng không ai địch lại y. Mãi tới trận đánh Hoài-dương gặp Sầm Bành về hàng Hán, từ đó bên Thục không còn một tướng nào là đối thủ của y. Sầm Bành, Đặng Vũ, Phùng Dị là ba đệ nhất cao thủ Đông-Hán. Ngày nọ y đến đầu quân theo Quang-Vũ. Nghiêm Sơn đã đấu thử với y, chỉ chịu được có 7 chưởng rồi chịu thua. Sở dĩ y phải ở dưới quyền Nghiêm, vì một là y không có công trạng bằng Nghiêm với hai mươi lần cứu giá. Hai là Quang-Vũ với Nghiêm Sơn có tình kết nghĩa huynh đệ. Ba là Nghiêm xuất thân nghĩa hiệp, có tài dùng người, khiến anh hùng quy phục. Bốn là tài dụng binh của Nghiêm vô địch thiên hạ.<br />
<br />
Từ khi cầm quân đánh Thục, Đặng Vũ đấu ngang tay với Thiên-sơn thất hùng của Tây-xuyên, mới đây y lại bị bại dưới tay Vũ Chu. Thế mà hôm nay nghe Lại Thế-Cường dặn Phật-Nguyệt rằng đừng giết Vũ Chu, có nghĩa là nàng thừa khả năng giết Vũ Chu, đời nào y tin.<br />
<br />
Còn Lại Thế-Cường, ông biết Phật-Nguyệt là đệ tử yêu của Nguyễn Phan, được Nguyễn Phan dốc túi truyền nghề, kiếm thuật của nàng đến chỗ siêu việt như Phương-Dung. Hơn nữa, cách nay mấy trăm năm, Vạn-tín hầu Lý Thân sang Hàm-dương đấu với anh hùng đời Tần. Ông tổng hợp kiếm thuật Trung-nguyên thành những nguyên lý chính, rồi tìm ra phá cách đó là kiếm thuật Lĩnh-nam, lưu truyền đến nay là Long-biên kiếm pháp. Đối với các võ công khác Long-biên kiếm pháp chưa chắc là vô địch, vì phải đợi đối phương ra chiêu, rồi mới thuận thế đưa ra những thức khắc chế chống lại. Nhưng kiếm pháp Long-biên chế ra để khắc chế kiếm pháp Trung-nguyên, mỗi chiêu, mỗi thức đã hàm khắc tinh. Cho nên Lại Thế-Cường biết rõ Phật-Nguyệt thắng Vũ Chu.<br />
<br />
Kiếm của Vũ Chu phát ra kình lực vo vo, mỗi chiêu thức bổ xuống mạnh đến long trời lở đất, mạnh đến không thể tưởng tượng được. Y đánh đã mười chiêu, chiêu nào cũng biến ảo phi thường, người ngoài những tưởng Phật-Nguyệt sẽ lâm nguy. Nhưng nàng cứ trơn tuột như con chạch, mấy lần kiếm Vũ Chu chỉ nhích một chút nữa là đả thương được nàng.<br />
<br />
Các tướng Hán, Thục đều nín lặng hồi hộp theo dõi, mỗi chiêu Vũ Chu đánh ra, có tiếng kêu lên:<br />
<br />
– Ái chà!<br />
<br />
– Úi! Quá!<br />
<br />
– Chết!<br />
<br />
Sau khi tránh mười chiêu của Vũ Chu. Phật-Nguyệt nhận ra nội công của nàng khắc chế nội công của y đã đành. Còn kiếm pháp của nàng dường như thức nào cũng dùng để phá kiếm pháp của y.<br />
<br />
Các tướng Hán như Sầm Bành, Đặng Vũ, Cảnh Yểm, Mã Vũ đều nhận thấy kiếm pháp Phật-Nguyệt nhẹ nhàng, phiêu hốt, chiêu nào cũng bao hàm sát thủ, biến hóa quái dị không biết đâu mà lường. Bất giác họ đưa mắt nhìn Nghiêm Sơn :<br />
<br />
– Lĩnh-nam vương tài như Y Doãn, Chu Công có khác. Một mình, một ngựa kinh lược Lĩnh-nam, mấy năm sau, đem về hơn ba mươi vạn hùng binh, vơi hơn một trăm anh hùng. Một cô gái đơn sơ, mộc mạc, võ công tầm thường như Hồ Đề, mà điều khiển được chim ưng, ngựa ô, làm cho bên Thục kinh hoàng. Bây giờ một thiếu nữ ẻo lả, cả ngày không nói một câu, xuất trận với kiếm thuật kinh thiên động địa, mỗi chiêu nàng phóng ra, mọi người đều rùng mình tự hỏi kiếm pháp này là kiếm pháp gì, mà mỗi chiêu, mỗi thức đều khắc chế với võ công của mình ?<br />
<br />
Bất thình lình, Phật-Nguyệt lộn liền ba vòng ra xa, bóng trắng lấp loáng với giải khăn hồng ngang lưng, như một bông hồng bay lượn trong gió. Vũ Chu vọt người lên theo, xả liền ba nhát. Đến nhát thứ ba, y vừa chém xuống thì Phật-Nguyệt vọt người lên cao như chiếc pháo thăng thiên. Vũ Chu chém một chiêu bao trùm dưới chân nàng. Tướng sĩ hai bên đều nhắm mắt lại, không muốn nhìn một thiếu nữ xinh đẹp như nàng bị đứt làm hai. Phật-Nguyệt tà tà đáp xuống làn kiếm quang của Vũ Chu. Nàng xỉa một chiêu vào giữa trung tâm. Nàng lại bay vọt lên cao. Vũ Chu vọt người lên. Ở trên không hai người chiết với nhau trên mười chiêu, rồi cùng đáp xuống một lúc.<br />
<br />
Thình lình Vũ Chu đổi kiếm pháp. Kiếm của y chậm hẳn lại, chiêu nào kình lực cũng veo véo. Phật-Nguyệt nhảy lui liền mười bước, rồi nàng quay tròn người như một con quay, người ta chỉ thấy bóng trắng ở giữa có sợi dây hồng. Nàng lăn vào làn kiếm quang của Vũ Chu. Bỗng choảng một tiếng, cả hai cũng nhảy lui lại.<br />
<br />
Phật-Nguyệt đã tra kiếm vào vỏ. Còn Vũ Chu thì ôm tay, cườm tay ứa máu ra, mặt lộ vẻ vừa kinh hoàng, vừa khâm phục.<br />
<br />
Phật-Nguyệt chắp tay nói :<br />
<br />
– Vũ tướng quân ! Đa tạ tướng quân nhẹ tay.<br />
<br />
Vũ Chu nhăn nhó đáp :<br />
<br />
– Cô nương Phật-Nguyệt, tiểu-tướng vẫn chưa phục, vì vừa rồi cô nương ra chiêu thế nào tiểu-tướng hoàn toàn không nhìn thấy.<br />
<br />
Câu nói của Vũ Chu chính là ý nghĩ của tướng sĩ Hán, Thục. Tất cả không ai hiểu Phật-Nguyệt đã ra chiêu như thế nào. Chỉ có một mình Phương-Dung đứng lược trận phía sau biết mà thôi.<br />
<br />
Phật-Nguyệt là một thiếu nữ nhu nhã, tính tình ôn hòa, nàng thấy Vũ Chu quả có bản lĩnh chân thực. Nàng thắng y là nhờ kiếm pháp Long-biên khắc chế kiếm pháp Thiên-sơn, chứ không phải kiếm pháp nàng cao hơn y. Nàng nói :<br />
<br />
– Vũ tướng quân, trên thế gian này ngoài,ân sư của tiểu nữ ra, có lẽ chỉ có hai ngừơi là thắng được kiếm thuật của tướng quân mà thôi. Tiểu nữ cũng như họ, thắng tướng quân là nhờ kiếm pháp của bản môn khắc chế kiếm pháp Thiên-sơn, chứ không phải võ công tiểu nữ cao hơn tướng quân đâu.<br />
<br />
Bên trận Thục Công-tôn Thiệu và các tướng nghe Phật-Nguyệt nói, họ cảm thấy cô gái Lĩnh-nam này hiệp nghĩa, thật thà đáng kính, không phải người tàn nhẫn độc ác. Công-tôn Thiệu là một người trí dũng tuyệt vời, y nghĩ rất mau :<br />
<br />
– Hoàn cảnh đưa day, những người này ở vào thế đối nghịch với ta. Ta với Đặng Thi-Sách là chỗ thâm giao, vậy ta phải cho người khẩn sang Lĩnh-nam gặp y, nếu không kéo được những người này về với Thục, ít nhất họ cũng không giúp Hán.<br />
<br />
Nghĩ vậy Công-tôn Thiệu nói :<br />
<br />
– Cô nương! Cô nương có thể diễn lại cho Tiểu-vương được mở rộng tầm mắt không ?<br />
<br />
Phật-Nguyệt gật đầu. Nàng vọt người lên cao, tay rút kiếm đưa xuống dưới, nàng vận khí, thanh kiếm cong đi, rồi bật sang phải. Kình lực làm lưỡi kiếm kêu lên vo vo.<br />
<br />
Bây giờ Vũ Chu mới biết rằng, y vung kiếm lên chém nàng, nàng đưa kiếm gạt, rồi vận khí lưỡi kiếm bật sang ngang, vì vậy y mới bị trúng cườm tay. Y ra nhặt kiếm, nhìn Phật-Nguyệt cẩn thận, rồi bay vọt lên tấn công. Lần này Phật-Nguyệt rút kiếm đâm ngược trở lại. Kiếm pháp của nàng nhanh quá, hư hư ảo ảo, không biết đâu mà lường. Người ta chỉ thấy bóng trắng nhấp nhô chập chờn khi trái, khi phải.<br />
<br />
Đặng Vũ đứng lược trận nhìn tình cảnh của Vũ Chu, y nghĩ :<br />
<br />
– May là Vũ Chu, nếu là mình có lẽ bị giết lâu rồi.<br />
<br />
Đánh được hai trăm hiệp, Phật-Nguyệt thấy kiếm pháp của Vũ Chu có tới 36 chiêu khác nhau, mỗi chiêu đều biến hóa mãnh liệt vô cùng, nên nàng tránh không đỡ. Đợi khi Vũ Chu đánh hết một lượt, nàng đã hiểu rõ kiếm pháp của y. Y chém liền ba chiêu véo véo véo. Phật-Nguyệt nhảy vọt lên cao ánh kiếm quay thành những vòng tròn bao phủ khắp người Vũ Chu. Chỉ một chiêu đó nàng đã biến thành 72 chiêu khác nhau. Vũ Chu hoa mắt nhảy lui lại 7 bước, mà kiếm quang vẫn bao phủ lấy người. Phật-Nguyệt thu kiếm nhảy lui lại cười :<br />
<br />
– Vũ tướng quân, người thấy rõ chưa ?<br />
<br />
Vũ Chu lắc đầu :<br />
<br />
– Như thế không kể, cô nương dùng tà thuật, chứ có phải dùng kiếm thuật đâu, ta không phục.<br />
<br />
Phật-Nguyệt cười :<br />
<br />
– Vậy thì được, bây giờ ta cắt chỏm mũ của tướng quân đây.<br />
<br />
Thân hình thấp thoáng một cái, ánh kiếm lóe lên, không ai nhìn rõ nàng ra chiêu như thế nào, đã nhìn thấy nàng tra kiếm vào vỏ đánh cách một tiếng, khoanh tay cười. Vũ Chu nhảy lui lại, mặt tái mét, vì chỏm mũ của y bị cắt đứt, y cúi xuống nhặt lên tay phát run.<br />
<br />
Bên này Sầm Bành nhìn thấy kiếm chiêu của Phật-Nguyệt, y tỉnh ngộ :<br />
<br />
– Trước đây có một người ở Lĩnh-nam tên Lý Thân sang Hàm-dương đánh thắng tất cả võ sĩ của Tần Thủy-Hoàng bằng chiêu kiếm thần tốc vô cùng, sau được phong là Vạn-tín hầu. Vậy con này tất là đệ tử đời sau của Vạn-tín hầu chứ không sai. Kiếm pháp của nó thần sầu quỷ khốc. Nếu ta là Vũ Chu, ta cũng không biết làm sao đỡ được. Ta nghe con nhỏ Phật-Nguyệt kiếm pháp còn thua Phương-Dung với Đào Kỳ, thế thì kiếm pháp của chúng còn cao siêu tới đâu ?<br />
<br />
Ngoài trận Phật-Nguyệt vung kiếm lên ánh bạc bao trùm người Vũ Chu. Y chỉ đỡ mà không kịp. Được mấy chục hiệp, mồ hôi vã ra. Lần này Trưng Nhị hô lớn :<br />
<br />
– Giải quyết đi thôi.<br />
<br />
Phật-Nguyệt vung kiếm lên, choảng một tiếng, Vũ Chu bị đâm trúng cườm tay. Kiếm rơi xuống đất. Tay trái Phật-Nguyệt bắt kiếm quyết, tay phải dí kiếm vào cổ y, giải khăn đỏ bay phấp phới trông như một nàng tiên. Vũ Chu bật ngửa người ra sau, lăn đi mấy vòng, rồi vọt người đứng dậy, tưởng đã thoát được kiếm Phật-Nguyệt, nhưng vừa đứng dậy, y đã thấy cổ đau nhói, kiếm Phật-Nguyệt dí vào. Y sợ quá biết khó thoát khỏi cái chết, hiên ngang nói :<br />
<br />
– Ta giận vì học nghệ chưa tinh, bị bại dưới tay cô nương. Cô nương giết ta đi. Vũ Chu này không sợ chết đâu.<br />
<br />
Phật-Nguyệt cười lớn :<br />
<br />
– Vũ tướng quân, người có khí phách anh hùng thật hiếm thấy. Tiểu nữ trót mạo phạm mong tướng quân rộng lượng thứ lỗi. Trên đời tiểu nữ chưa bao giờ gặp một kiếm thuật danh gia như tướng quân. Tiểu nữ dám hỏi : Tướng quân với Thiên-sơn lão tiên là thế nào ?<br />
<br />
Vũ Chu đáp:<br />
<br />
– Thiên-sơn lão tiên là Thái-sư phụ của tiểu tướng.<br />
<br />
Phật-Nguyệt, Phương-Dung, Trưng Nhị đều à lên một tiếng kinh ngạc. Ngày nọ trên thuyền từ đảo về Bắc, Khất đại-phu kể chuyện rằng cách nay 20 năm ông cùng Nguyễn Phan sang Trung-nguyên chơi, đấu với khắp anh hùng thiên hạ, để tìm bạn đồng đạo. Sau hơn một năm, hai người chỉ tìm được Thiên-sơn lão tiên là người hiệp nghĩa, rồi kết bạn với nhau.<br />
<br />
Công-tôn Thiệu hỏi :<br />
<br />
– Chẳng hay cô nương có quen biết với Thái-sư phụ của chúng tôi chăng ?<br />
<br />
Phật-Nguyệt đáp :<br />
<br />
– Tôi bằng này tuổi, làm sao quen được với một lão tiên như Thiên-sơn đại hiệp! Chẳng qua sư phụ tôi với lão tiên là bạn tri kỷ. Cách nay 20 năm sư phụ tôi với Khất đại-phu, cùng lão tiên đấu võ, uống rượu, rồi kết bạn. Khi rời Lĩnh-nam sang đây, sư phụ dạy rằng, nếu biết tin tức lão tiên ở đâu, cho người biết để người sang cùng đối ẩm.<br />
<br />
Công-tôn Thiệu kêu lớn lên:<br />
<br />
– Thì ra cô nương là đệ tử của Long-biên thần kiếm Nguyễn Phan tiên sinh. Chúng tôi thua là phải lắm.<br />
<br />
Đặng Vũ thấy Phật-Nguyệt, Công-tôn Thiệu thân mật, sợ hai bên hòa hoãn thì khó khăn cho y. Y cầm roi ngựa chỉ một cái. Các tướng Hán xua quân tràn sang trận Thục.<br />
<br />
Bỗng trận phía trái, phía phải đều xáo trộn, thì ra trong thành đã cho hai đạo quân đánh vào trận Hán.<br />
<br />
Trưng Nhị sai đốt pháo lệnh, cho quân sĩ lui lại, một đàn voi trận xuất hiện. Lần đầu tiên binh tướng Thục thấy voi, thất kinh hồn vía bỏ chạy. Hai đội quân bên trái, phải không sợ vẫn đánh thúc vào mạn sườn quân Hán. Hán quân cương quyết xua voi trợ chiến. Chỉ được một lát hai đạo trái, phải dao động, thì ra hai đội của Lê Chân, Trần Năng xuất hiện. Binh Thục bị ba đội voi bao vây chạy hỗn loạn. Công-tôn Thiệu bỏ Phật-Nguyệt xông về phía Bắc gặp Trần Năng. Y không nói không rằng phóng chưởng đánh liền. Trần Năng vận khí, phát chiêu trong Phục-ngưu thần chưởng Ngưu tọa ư điền đánh lại. Bùng một tiếng, nàng thấy nảy đom đóm mắt, khí huyết đảo lộn. Vội nhảy vọt lên cao hít một hơi chân khí. Trong khi đó Công-tôn Thiệu cũng rung động toàn thân bởi y không ngờ nữ tướng có công lực mạnh như vậy. Y vung chưởng nữa đánh lên không. Trần Năng trên cao phát chiêu Ác ngưu nan độ đánh xuống. Bùng một tiếng người nàng lại bay lên. Nàng là người can đảm nhiều mưu trí, đá gió một cái đáp xuống đất. Công-tôn Thiệu bị tê cả tay. Y nói :<br />
<br />
– Thiếu nữ kia, ngươi tên gì ? Trên đời này chỉ có Đặng Vũ, Sầm Bành đỡ được chưởng của ta mà thôi. Ngươi đỡ được mấy chưởng của ta, thì công lực không phải tầm thường. Sư phụ của ngươi là ai ?<br />
<br />
Trần Năng đáp :<br />
<br />
– Tôi họ Trần tên Năng, sư phụ tôi họ Trần húy Đại-Sinh.<br />
<br />
Công-tôn Thiệu nghe đến tên Trần Đại-Sinh thì mặt y cau lại. Y nói :<br />
<br />
– Trần cô nương, xin cô nương hãy kíp liên lạc với tôn sư, hỏi người xem việc cô nương đánh Thục có hợp đạo lý hay không ? Trần lão tiên sinh với Thái sư-phụ tôi là chỗ giao hảo thâm tình. Sư huynh Đặng Thi-Sách với tôi vốn là chỗ cựu giao. Thôi tôi rút quân đây.<br />
<br />
Trưng Nhị phất cờ, quân Hán chia làm ba, một đạo do Hồ Đề, Đặng Vũ với Trưng Nhị chỉ huy đuổi theo Công-tôn Thiệu. Một đạo do Lại Thế-Cường chỉ huy quẹo sang phải hợp với Trần Năng đánh đội quân cửa Bắc. Một đạo do Phật-Nguyệt quẹo sang trái đánh đạo quân cửa Nam.<br />
<br />
Trưng Nhị cho đuổi tới chân thành, trên thành Xuyên-khẩu lăn gỗ đá bắn tên xuống, nàng phất tay cho quân lùi lại. Nghiêm Sơn thấy như vậy đã đủ, vương cho đánh chiêng thu quân. Các tướng binh đều trở về. Kiểm điểm bắt được hơn 3000 tù binh. Trần Năng cùng các y sĩ đang băng bó vết thương cho binh Hán lẫn tù binh bị thương.<br />
<br />
Sầm Bành hướng vào Trần Năng :<br />
<br />
– Trần phu nhân, không ngờ phu nhân mảnh mai như vậy mà chưởng lực mạnh đến thế. Phu nhân đối với Công-tôn Thiệu ba chưởng ngang tay, trên đời thật hiếm có.<br />
<br />
Cảnh Yểm nói với Phật-Nguyệt :<br />
<br />
– Thú thực tôi chỉ biết khâm phục cô nương mà không biết cô nương sử dụng chiêu thức như thế nào làm cho Vũ Chu dở sống, dở chết.<br />
<br />
Các tướng Hán bây giờ mới kính phục Trưng Nhị và các tướng Lĩnh-nam.<br />
<br />
Đặng Vũ nói với Nghiêm Sơn :<br />
<br />
– Giặc không biết vương-gia ở đây. Hôm nay thấy chúng ta thắng trận, chúng cho rằng chúng ta không đề phòng, chắc thế nào cũng cướp trại. Vậy Trưng cô nương điều binh đề phòng.<br />
<br />
Nghiêm Sơn lắc đầu :<br />
<br />
– Công-tôn Thiệu là người cẩn thận, mưu trí tuyệt vời. Y vừa mới bại trận, lại bị trúng độc, nhuệ khí mất, chắc y không cướp trại đâu.<br />
<br />
Trưng Nhị mỉm cười :<br />
<br />
– Lĩnh-nam vương liệu địch không sai. Tôi có cách khiến y cướp trại. Nếu đêm nay y cướp trại, ta sẽ chiếm thành Xuyên-khẩu, đuổi giặc đến Bạch-đế thành. Sau đó chia quân ra làm ba, đánh Vũ-khê, Vũ-lăng và Bạch-đế.<br />
<br />
Đặng Vũ ngẫm nghĩ một lát nói :<br />
<br />
– Trưng quân sư, giáp sĩ của giặc ở Giang-tân, Bột-lãng có đến mấy vạn, giáp sĩ Thành-đô còn hơn 10 vạn. Nếu ta đánh mau quá, giặc dồn hết quân ra mà sĩ tốt của ta lại mệt mỏi thì nguy. Chúng ta nên đợi đạo quân của Ngô Hán, Đào Kỳ đánh cho giặc rúng động, giặc đem quân từ Thành-đô đi cứu các nơi kia, ta chỉ cần đánh một trận là lấy được Ích-châu dễ dàng.<br />
<br />
Trưng Nhị nhìn Đặng Vũ cười :<br />
<br />
– Lĩnh-nam vương đã là anh em kết nghĩa với Kiến-Vũ thiên tử. Tướng quân là một trong ba vị đại thần. Chúng ta cần hy sinh nhiều hơn các nơi kia mới phải chứ. Có phải tướng quân sợ mình đánh nhanh quá, giặc đưa quân ra tiếp viện, khó vào Thành-đô trước, trong khi các nơi kia rảnh tay, nhập Thành-đô, thì cái mộng làm chúa Ích-châu bị mất phải không ?<br />
<br />
Đặng Vũ bị nàng nói trúng tim đen, y chối quanh :<br />
<br />
– Tôi sợ binh sĩ mệt mỏi mà thôi.<br />
<br />
Trưng Nhị chỉ chờ y nói có thế, nhìn Phương-Dung như thông cảm :<br />
<br />
– Ừ ta đang muốn cho mi tiến chậm để Ngô Hán bắt Công-tôn Thuật, nay mi tự nói ra thì sau này đừng trách ta.<br />
<br />
Nàng làm bộ như hiểu ra :<br />
<br />
– Tôi chưa kinh nghiệm, may nhờ tướng quân chỉ bảo, nếu không thì làm quân sĩ mệt mỏi. Thôi được, chúng ta khao thưởng sĩ tốt trước đã.<br />
<br />
Đặng Vũ cho lệnh giết trâu, mổ dê khao thưởng quân sĩ. Những người chết cho chôn cất tử tế, làm mộ, trên đề tên, quê quán, sau này cho cải táng mang về quê.<br />
<br />
Trưng Nhị tập hợp tù binh giữa bãi lớn, nàng để Đặng Vũ đứng lên đọc hịch của Nghiêm Sơn, rồi hỏi lớn :<br />
<br />
– Ai chịu đầu hàng thì ta tha. Ai không chịu đầu hàng thì ta chém đầu. Nào ai đầu hàng thì đứng lên sang bên phải.<br />
<br />
Quân sĩ cười oà. Có người cười ha hả đến sùi bọt mép. Có người nhổ nước miếng, có người hỉ mũi tỏ vẻ khinh bỉ.<br />
<br />
Trưng Nhị ngạc nhiên hỏi :<br />
<br />
– Các ngươi là tù binh bị bắt, đàng lẽ ta đem ra chém. Nhưng nghĩ các ngươi còn vợ con, nên không nỡ, mở rộng cửa cho các ngươi đầu hàng. Tại sao các ngươi lại vô lễ như vậy ?<br />
<br />
Một tiểu tướng nói :<br />
<br />
– Trưng cô nương, trận đấu hôm nay thấy tư thái cô nương cùng các vị anh hùng Lĩnh-nam, tôi khâm phục các vị có võ công, võ đạo, trí dũng tuyệt vời. Nhưng có điều đáng tiếc.<br />
<br />
Trần Năng đứng cạnh hỏi :<br />
<br />
– Chúng tôi hành xử quang minh chính đại, có gì đáng tiếc đâu ?<br />
<br />
Viên tướng đó nói :<br />
<br />
– Trước đây Hoàng-thượng và Trường-sa vương thường nói rằng: Trong thiên hạ nghĩa sĩ rất hiếm. Hiện chỉ đất Lĩnh-nam với Tây-xuyên là nhiều anh hùng. Tây-xuyên có Thiên-sơn thất hùng mà Hoàng-thượng là một. Vì vậy Tây-xuyên giám đứng lên chống lại triều đại thối nát của Lưu Tú. Tương lai chắc chỉ còn Lĩnh-nam mà thôi. Rồi trong lúc bàn về anh hùng Lĩnh-nam, Trường-sa vương có khoe rằng người là bạn thân với Đặng Thi-Sách, người muốn gửi sứ giả sang mời Đặng tiên sinh hợp tác phản Hán, phục lại đất Thục, đất Việt. Không ngờ hôm nay các anh hùng giúp Hán, tức là giúp kẻ ác diệt nhân nghĩa vậy. Cho nên chúng tôi mới tiếc.<br />
<br />
Y thở dài tiếp :<br />
<br />
– Cô nương xem, chúng tôi là dũng sĩ đất Thục, dù bị bắt, chúng tôi cam lòng chịu chết chứ không chịu hàng. Thôi cô nương đem chúng tôi ra chém quách đi, chúng tôi tuyệt không oán hận.<br />
<br />
Trưng Nhị nhìn Trần Năng, Hồ Đề nàng thấy trong mắt mỗi người dường như có vẻ khâm phục tướng Thục. Nàng nói :<br />
<br />
– Thôi ta đã hứa tha, thì sẽ tha các ngươi. Các ngươi về đi, thanh gươm ta chỉ có thể chém giặc, chứ không thể chém người có võ đạo cao.<br />
<br />
Đám tướng binh Thục đứng dậy thủng thẳng ra về.<br />
<br />
Đặng Vũ không hiểu, hỏi :<br />
<br />
– Trưng quân sư, tại sao lại tha chúng dễ dàng vậy ?<br />
<br />
Trưng Nhị đưa tờ hịch của Nghiêm Sơn cho y :<br />
<br />
– Phàm việc thiên hạ phải giữ chữ tín. Lĩnh-nam vương đã ban hịch tôn trọng hiền sĩ. Họ tuy là tướng sĩ Thục thật, nhưng họ là kẻ sĩ giết đi thật uổng.<br />
<br />
Sáng hôm sau, một tham-tướng vào báo với Đặng Vũ :<br />
<br />
– Thưa Đại-tư mã, không hiểu trong các cánh rừng quanh dinh Hán, có rất nhiều xác binh lính chết, quần áo xương còn nguyên mà thịt mất hết, máu me văng đầy chung quanh. Quân sĩ rúng động cho rằng những người đó bị yêu tinh ăn thịt.<br />
<br />
Cảnh Yểm hỏi :<br />
<br />
– Có bao nhiêu xác như vậy ?<br />
<br />
– Thưa gần 100 xác.<br />
<br />
Đặng Vũ truyền lệnh cho quân sĩ không được vào rừng lẻ tẻ, và cho điều tra nguyên do.<br />
<br />
Hết Hồi 41</div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://tvvn.org/forum/forumdisplay.php?f=135">Fiction</category>
			<dc:creator>Phượng Hoàng 7</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3919</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Động Đình Hồ Ngoại Sử - Quyển I - Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ</title>
			<link>http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3918&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Thu, 19 Nov 2009 21:21:27 GMT</pubDate>
			<description>ĐỘNG ĐÌNH HỒ NGOẠI SỬ 
	 
 
HỒI 41 
	 
 
  
 
Quyển I</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div>ĐỘNG ĐÌNH HỒ NGOẠI SỬ<br />
	<br />
<br />
HỒI 41<br />
	<br />
<br />
 <br />
<br />
Quyển I<br />
<br />
    * Hồi 41<br />
    * Hồi 42<br />
    * Hồi 43<br />
    * Hồi 44<br />
    * Hồi 45<br />
    * Hồi 46<br />
    * Hồi 47<br />
    * Hồi 48<br />
    * Hồi 49<br />
    * Hồi 50</div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://tvvn.org/forum/forumdisplay.php?f=134">Book Fiction</category>
			<dc:creator>Phượng Hoàng 7</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3918</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Anh Hùng Lĩnh Nam - Quyển IV - Hồi 40 - Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ</title>
			<link>http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3917&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Thu, 19 Nov 2009 20:48:00 GMT</pubDate>
			<description>HỒI THỨ BỐN MƯƠI 
 
Phấn Son Tô Điểm Sơn Hà 
 
  
 
Hôm sau Nghiêm Sơn và Hoàng Thiều-Hoa kiếu từ nhũ-mẫu trở lại Phiên-ngung. Trước khi mở cuộc họp...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><b>HỒI THỨ BỐN MƯƠI</b><br />
<br />
<i>Phấn Son Tô Điểm Sơn Hà</i><br />
<br />
 <br />
<br />
Hôm sau Nghiêm Sơn và Hoàng Thiều-Hoa kiếu từ nhũ-mẫu trở lại Phiên-ngung. Trước khi mở cuộc họp tổng quát với hai đạo binh mã Hán-trung và Kinh-châu, Nghiêm Sơn họp riêng với bộ chỉ huy đạo Lĩnh-nam. Vương để Trưng Nhị, Phương Dung và Phùng Vĩnh Hoa lần lượt thuyết trình về tình hình Trường-an, Lương-châu, Kinh-châu, Ích-châu và Hán-trung về nhân văn, địa hình, binh tướng... Sau đó vương kết luận :<br />
<br />
– Tư-mã Đặng Vũ là một đại tướng giỏi nhất Trung-nguyên. Y cắp gươm theo vua Quang Vũ với cô gia ngay từ ngày mới khởi binh. Y là người thao lược tài kiêm văn võ. Hiện y là lĩnh chức Đại-tư mã, tức một trong Tam-công triều Hán. Y thống lĩnh binh mã chín quận Kinh-châu đánh vào đất Thục. Bên cạnh y còn có Phiêu-kỵ đại tướng quân Sầm Bành, xuất thân Võ-trạng-nguyên thời Vương Mãng, sau y đầu hàng Hán. Sầm Bành là anh hùng vô địch Trung-nguyên, trải trăm trận đánh với các tướng của Vương Mãng, Xích Mi, Công-tôn Thiệu không ai địch nổi y. Trước đây chỉ có Xích Mi Phan Sùng là đấu ngang tay với y mà thôi.<br />
<br />
Anh hùng Lĩnh-nam nghe nói vậy đều đưa mắt nhìn Khất đại-phu, Đào Kỳ. Vương lại tiếp :<br />
<br />
– Xa-kỵ đại tướng quân Ngô Hán cũng là người theo Kiến Vũ thiên tử và Cô-gia từ lúc khởi binh, vào sinh ra tử trăm trận. Võ công y bình thường, nhưng mưu lược, dùng binh giỏi và có đại đởm. Y thống lĩnh đạo binh mã Trường-an, Hán-trung. Bên cạnh y có Chinh-tây đại tướng quân Phùng Dị, võ công cũng không thua kém Sầm Bành.<br />
<br />
Sau khi nghe trình bày về hai đạo binh mã của Ngô Hán và Đặng Vũ, Đào Kỳ hỏi Nghiêm Sơn :<br />
<br />
– Trong đạo binh mã Lĩnh-nam, trước khi rời Giao-chỉ đại ca đã phong các vị Lại Thế Cường, Triệu Anh Vũ, Đinh Công Thắng lĩnh ấn đại tướng quân chỉ huy ba đạo Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật-nam. Còn ba đạo Nam-hải, Quế-lâm, Tượng-quận chưa có người chỉ huy. Ý đại ca thế nào ? Đại ca định để em trực tiếp điều động các quân, sư hay chỉ định tướng thống lĩnh ?<br />
<br />
– Cần phải có tướng chỉ huy ba đạo quân này. Nhưng ta muốn em cử người, để giữa soái và tướng tâm đầu ý hợp.<br />
<br />
Đào Kỳ còn hơi bỡ ngỡ, thì Nghiêm Sơn mỉm cười :<br />
<br />
– Ta đã dạy sư đệ, phép chọn tướng cần phải đủ năm đức tính: Một là trí. Thiếu trí thì không biết mình, biết người. Hai là dũng, dũng gồm hai phần võ công và đởm lược. Ba là mưu, không mưu thì không thể biến hóa uyển chuyển lừa địch, dùng ít mà có thể thắng nhiều. Bốn là nghiêm, nghiêm để trị quân. Tướng giỏi, binh tinh, lương nhiều mà không kỷ luật cũng vô ích vì đó chỉ là đạo kiêu binh hại nhiều hơn lợi. Năm là tín, không tín thì thượng hạ không đồng tâm, sinh nghi ngờ lẫn nhau, lòng quân tất hỗn loạn. Nào sư đệ muốn đệ muốn đề cử ai ?<br />
<br />
Đào Kỳ trầm tư một lát rồi trả lời :<br />
<br />
– Điều này tiểu đệ đã thường nghĩ tới. Trong tâm tiểu đệ nghĩ : thân phụ, thúc phụ và cữu phụ. Song các vị đang mang trọng trách ở nhà, ngoài ra còn Mai-động ngũ hùng, các em Hiển Hiệu, Quý Minh cùng sư đệ Quách Lãng. Ngay cạnh đây còn có sư thúc Lương Hồng Châu và Minh Giang, ai cũng có thể đảm đương trọng trách ấy. Vậy căn cứ năm điều lựa tướng, tiểu đệ xin đề cử sư thúc Lương Hồng Châu thống lĩnh đạo Nam-hải, sư đệ Minh Giang thống lĩnh đạo Quế-lâm, sư đệ Hiển Hiệu thống lĩnh đạo Tượng-quận.<br />
<br />
Nghiêm-Sơn tươi nét mặt, Vương móc túi ra một tờ hoa tiên trao Đào Kỳ :<br />
<br />
– Sáng nay, ta đã bàn với Phương-Dung điều này. Dung muội góp ý nên để sư đệ với tư cách thống lĩnh binh mã Lĩnh-nam tự tuyển tướng, đề cử. Tuy nhiên chúng ta đã ước tính xem sư đệ sẽ đề cử ai. Bây giờ sư đệ mở giấy coi thử.<br />
<br />
Đào Kỳ mở ra coi, thấy ghi : Đạo Nam-hải Lương Hồng-Châu, đạo Quế-lâm Hoàng Thiều-Hoa, đạo tượng-quận Đào Hiển-Hiệu.<br />
<br />
Nghiêm Sơn cười :<br />
<br />
– Sư đệ thấy không ? Ta đoán sai một chút về đạo Quế-lâm. Ta đoán, Quế-lâm là quê hương ta, tất sư đệ phải cử Hoàng sư tỷ vào chỗ đó. Nào ngờ sư đệ không thiên vị tình thâm, lấy lẽ công minh cử Minh Giang. Giỏi ! Sư đệ tiến mau hơn ta ước tính. Lương sư thúc, Minh Giang hiện có đây. Còn Đào Hiển Hiệu vừa mang tin Giao-chỉ tới, cũng có mặt từ hôm qua. Ta đồng ý, vậy sư đệ cho mời ba vị vào đây.<br />
<br />
Đào Kỳ ghi thiếp mời ba người tới khẩn cấp. Cả ba đều không hiểu chuyện gì xảy ra. Nghiêm Sơn đứng dậy nói :<br />
<br />
– Chúng ta vì đạo nghĩa, mưu cầu hạnh phúc cho trăm họ, vậy nhờ các vị ghé vai ghánh vác. Cô gia từ Lĩnh-nam về tăng viện Trung-nguyên có 6 đạo quân. Ba đạo Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật-nam đã có ba vị hiệp nghĩa thống lãnh. Còn ba đạo Quế-lâm, Nam-hải và Tượng-quận thì chưa. Cô gia đã hỏi ý Chinh-viễn đại tướng quân. Tướng quân đề cử ba vị. Vậy, phụng lệnh Kiến-vũ thiên tử, nhân danh Lĩnh-nam vương cô gia mời :<br />
<br />
– Sư thúc Lương Hồng-Châu thống lĩnh đạo Nam-hải, 3 quân bộ, 3 sư kỵ. Lĩnh ấn Vũ-oai đại tướng quân.<br />
<br />
– Sư đệ Đào Hiển-Hiệu thống lĩnh đạo Tượng-quận, 3 quân bộ, 3 sư kỵ. Lĩnh ấn Hổ-nha đại tướng quân.<br />
<br />
– Tướng quân Minh Giang thống lĩnh đạo Quế-lâm, 3 quân bộ, 3 sư kỵ. Lĩnh ấn Phấn-oai đại tướng quan.<br />
<br />
Cả ba lạy tạ Lĩnh-nam vương nhận ấn. Lương Hồng-Châu, Đào Hiển-Hiện đều là người giang hồ, tuy vui vẻ vì cầm quân cho mục đích phục hồi đất Lĩnh-nam, nhưng không thích lắm khi nghĩ đến sự gò bó trong quân lữ. Riêng Minh Giang sự vui mừng cảm động hiện ra mặt, vì đang là quân trưởng, một bước được đề cử làm đại tướng quân.<br />
<br />
Thấm thoát đã đến buổi họp toàn quân phạt Thục. Nghiêm Sơn chủ tọa buổi hội, chỉ có sự hiện diện thống soái các mặt trận cùng bộ tham mưu. Ngô Hán dẫn theo gần 30 người, Đặng Vũ dẫn theo 40 người. Còn Đào Kỳ, phía Lĩnh-nam chỉ có 20 người.<br />
<br />
Khi vào phòng họp, tướng hai đạo kia thấy tướng đạo Lĩnh-nam hầu hết còn rất trẻ, lại có đến ba thiếu nữ cực kỳ diễm lệ do một thiếu niên anh tuấn dẫn đầu, thì ngẩn người ra. Họ ngắm nhìn Vĩnh Hoa, thấy nàng khoảng 20 tuổi, mặc quần áo lụa trắng khoác khăn xanh đai hồng, lưng đeo bảo kiếm, trông như một tiên nữ trong tranh. Trưng Nhị mặc quần áo lụa hồng, cũng chỉ khoảng trên 20, cổ khoác khăn trắng, đai màu xanh, không mang vũ khí, dáng điệu uy nghiêm, nhưng không dấu được vẻ yêu kiều. Phương Dung còn trẻ hơn nữa, họ ước đoán nàng chỉ độ 16-17 tuổi, mặc quần áo lụa xanh cổ khoác khăn hồng đai vàng sẫm, lưng đeo bảo kiếm. Họ thầm nghĩ không biết cô này làm gì trong đội quân Lĩnh-nam ?<br />
<br />
Sau phần giới thiệu, Nghiêm Sơn chỉ định Đặng Vũ thuyết trình trước.<br />
<br />
Đặng tường trình về đạo Kinh-châu : quân số trên 25 vạn, trong đó chỉ có hơn vạn kỵ binh. Mới đây bị tổn thất ba trận liền, được bổ sung nhưng chưa phục hồi quân khí. Phía quân Thục đương đầu với Kinh-châu có khoảng 15 vạn cố thủ trong thành, quân ít nhưng nhờ địa thế hiểm trở đã làm Đặng Vũ thiệt quân, mà không có cách nào chiếm được. Theo ý Đặng Vũ nếu có đánh, chỉ gây tổn thất thêm và không hy vọng chiếm thành.<br />
<br />
Thấy y ngưng nói Phương Dung hỏi :<br />
<br />
– Đại tư mã, tôi nghe đạo Kinh-châu có Phiêu-kỵ đại tướng quân Sầm Bành, võ công vô địch Trung-nguyên. Không biết các tướng bên Thục, võ công như thế nào ?<br />
<br />
Đặng Vũ thấy cô bé lên tiếng hỏi, y nhìn Nghiêm Sơn, ngụ ý xem có phải trả lời hay không.<br />
<br />
Nghiêm Sơn nói :<br />
<br />
– Tôi xin giới thiệu với Đại-tư mã và chư tướng đây là Đào phu nhân, nhũ danh Phương Dung. Các vị cứ gọi bằng nhũ danh. Vì người Lĩnh-nam thích được gọi bằng tên thời con gái hơn là tên chồng.<br />
<br />
Bấy giờ Sầm Bành mới đứng lên, chậm rãi trả lời thay Đặng Vũ :<br />
<br />
– Võ công của tôi thiên về dương cương. Tôi sử dụng đại đao. Còn tướng Thục võ công cao nhất là Công-tôn Thiệu và Chu Vũ. Chúng thuộc phái Thiên-sơn. Chúng sử dụng kiếm. Về võ công chúng thấp hơn tôi một chút.<br />
<br />
Đến lượt Ngô Hán thuyết trình. Ngô là người đọc sách, nói năng lưu loát. Ngô cho biết đạo Hán-trung có 20 vạn quân, trong đó có 4 vạn kỵ binh. Mới đây bị thua một trận. Tướng Thục là Thái-tử Công-tôn Tư, lĩnh chức Đại-tư mã, văn võ kiêm toàn, dùng binh giỏi. Kết quả trong cuộc giao chiến với Thục, Hán thắng 6 trận và bại 4 trận. Thục thủ trong thành kiên cố, tướng sĩ hết lòng, nên Hán không tiến nổi.<br />
<br />
Nghiêm Sơn và chúng tướng nghe trình bày tiếp tình hình địch từng địa phương, cùng cá tính, khả năng, tật xấu và cả bệnh tật của từ vua là Công-tôn Thuật cho tới các tướng sĩ văn võ. Đến chiều, Vương truyền bãi họp và hẹn giờ thìn hôm sau tái họp.<br />
<br />
Buổi tối, sau khi cơm nước xong, Nghiêm Sơn mời họp riêng tất cả anh hùng Lĩnh-nam. Vương hỏi Trưng Nhị :<br />
<br />
– Trưng cô nương nghĩ sao ?<br />
<br />
Trưng Nhị đặt lại câu hỏi :<br />
<br />
– Nghiêm đại ca là ân nhân, anh em kết nghĩa với Kiến-vũ Thiên tử, cần phải công bằng, coi hai đạo quân kia như đạo Lĩnh-nam. Đó là điều để cho tướng sĩ phục tùng. Vì vậy, những gì khó khăn có phải đại ca định để cho đạo Lĩnh-nam gánh vác, những gì dễ dàng sẽ để cho Kinh-châu và Hán-trung đảm nhiệm. Có đúng thế không ?<br />
<br />
Nghiêm Sơn gật đầu. Trưng Nhị tiếp :<br />
<br />
– Vậy tôi đề nghị chúng ta chia ra làm ba mặt đánh Ích-châu : mặt Tây do Ngô Hán, mặt Đông do Đặng Vũ, mặt Nam trao cho Đào Kỳ. Hai mặt kia địch có quân phòng thủ kỹ lưỡng, ta cần tấn công ráo riết hầu cầm chân địch. Đồng thời cho quân băng rừng, vượt núi đánh vào sau lưng địch. Khi ta đột nhập được vào phía sau, địch không kịp huy động quân phòng thủ, Ích-châu sẽ rối loạn, chỉ cần đánh một trận là xong.<br />
<br />
Phùng Vĩnh-Hoa cũng tiếp lời :<br />
<br />
– Hôm nay các đạo đều kêu ca binh sĩ, lừa ngựa tổn thất không được bổ sung. Xin đại ca truyền lệnh bắt Thái-thú 9 quận Kinh-châu bổ sung cho Đặng tướng quân. Thái thú các vùng Trường-an, Kỳ-sơn, Lương-châu bổ sung cho Ngô Hán; như đại ca đã ra lệnh cho 6 Thái-thú Lĩnh-nam bổ sung cho Đào sư đệ.<br />
<br />
Minh Giang nhìn Đào Kỳ, Phương-Dung gật đầu tỏ ý thông hiểu. Sau khi bàn các chi tiết đến tận khuya, mọi người mới đi ngủ.<br />
<br />
Sáng hôm sau giờ thìn, lại khai hội. Nghiêm Sơn lên trướng ngồi. Đợi mọi người an tọa, Vương đứng dậy giới thiệu :<br />
<br />
– Hôm nay tôi giới thiệu với các vị tướng quân : Đào phu nhân, quân sư của chúng ta.<br />
<br />
Tướng, soái các đạo cùng nhìn nhau thất kinh hồn vía, tự hỏi : Nghiêm Sơn là tướng tài kiêm văn võ, mưu lược hơn người, sao lại dùng cô bé này làm quân sư ? Không lẽ để cô ra trận cho quân giặc mê man mà chết chăng ?<br />
<br />
Đợi tiếng xì xào ngớt, Nghiêm Sơn lại mời Trưng Nhị đứng dậy :<br />
<br />
– Đây, Trưng Nhị cô nương, quân sư đạo Kinh-châu giúp Đặng tư mã.<br />
<br />
Mọi người lại kinh ngạc lần nữa. Biết thế, nhưng Vương lại lờ đi tiếp tục chỉ Phùng Vĩnh Hoa :<br />
<br />
– Còn đây cô nương Phùng Vĩnh-Hoa, quân sư đạo Hán-trung giúp Ngô tướng quân.<br />
<br />
Mọi người nhìn ba cô gái Việt mảnh mai, yểu điệu, thầm nghĩ : các cô gái xinh đẹp, ẻo lả thế kia, chỉ cần nhìn thấy tướng giặc cũng đủ khiếp vía, vậy còn điều khiển ai đây ?<br />
<br />
Sau đó Vương trao ấn kiếm cho Phương-Dung, Trưng Nhị, Phùng Vĩnh-Hoa. Rồi Vương nói với Phương-Dung :<br />
<br />
– Xin mời quân sư Phương-Dung điều quân .<br />
<br />
Phương-Dung tiến lên đài, ngồi xuống cẩm đôn, đặt thanh kiếm lên bàn, đoạn nàng thản nhiên như đã cầm quân lâu ngày, từ tốn nói :<br />
<br />
– Xưa đức Cao-tổ từ Thục xuất chinh đánh Hạng Vũ sở dĩ Hoài-âm hầu Hàn Tín yên tâm đánh giặc vì biết chắc Thừa-tướng Tiêu Hà cung ứng đủ lương thực, bổ sung binh mã kịp thời. Lương thực là mạch máu của tướng sĩ, vậy ta phải chuẩn bị đầy đủ.<br />
<br />
Các tướng nhìn nhau, gật đầu tỏ ý khâm phục. Phương-Dung ngừng một lúc để mọi người thấm ý nàng, đoạn tiếp :<br />
<br />
– Vì vậy đạo quân Hán-trung thì các Thái-thú Đông-xuyên, Trường-an, Lương-châu phải lo cung cấp. Còn đạo quân Kinh-châu thì 9 Thái-thú sở tại phải lo toan. Số lương thảo phải đủ dùng trong ba tháng. Hẹn một tháng phải vận tải ra mặt trận. trễ một ngày sẽ chiếu quân pháp trị tội.<br />
<br />
Đặng Vũ, Ngô Hán gật đầu bằng lòng vui mừng ra mặt. Còn các Thái-thú liên hệ nhìn nhau lo sợ. Phương-Dung tiếp :<br />
<br />
– Đạo Hán-trung vừa bị hao hụt, cần phải bổ sung tân binh. Ta mới thua, địch mới thắng, nhuệ khí địch tăng. Nay ta đem tân binh mới mộ ra trận, làm sao Ngô tướng quân thắng giặc ? Vậy các đô úy 9 quận Hán-trung, 9 quận Tây-lương, 12 quận Lũng-thương phải lựa binh tinh nhuệ trong các đội quân địa phương bổ sung kịp thời. Sau đó tuyển tráng đinh lấp chỗ trống. Hẹn trong một tháng phải xong. Giao nạp trễ hẹn, binh lính yếu đuối già nua bệnh tật, cũng chiếu quân pháp trị tội.<br />
<br />
Các đô úy liên hệ ngơ ngác nhìn nhau thì thào :<br />
<br />
– Trời ơi ! Quân sư cô nương này sao ác thế. Lấy hết tinh binh, lỡ có việc mình làm sao đây ?<br />
<br />
Ngô Hán nhìn Phương-Dung với con mắt khác, với đầy sự khâm phục. Nàng lại tiếp :<br />
<br />
– Binh pháp nói : "Một ngày nuôi quân, tốn tiền của dân chúng không biết bao nhiêu mà kể". Chúng ta phải tốc chiến, để đỡ tốn tiền của dân. Kinh Thi nói : "Trời sinh ra trăm dân". Khổng tử nói : "Ý dân là ý trời" . Vậy ta phải làm sao cho dân đỡ khổ vì binh dịch. Đạo quân Kinh-châu đã có nhiều võ tướng anh hùng, đủ sức đàn áp địch không cần thêm tướng. Tuy nhiên ta án binh lâu ngày, giặc khinh thường, vậy cần dồn quân đánh chiếm một thành cho địch mất nhuệ khí. Đặng đại-tư mã, nếu tôi có cách làm cho quân Thục không dám lên mặt thành chống cự trong vòng một giờ, liệu tướng quân có vào được thành không ?<br />
<br />
Đặng Vũ hiên ngang nói :<br />
<br />
– Chỉ cần nửa giờ binh tướng của tôi đã vào được thành rồi !<br />
<br />
Nghe vậy Phương-Dung nói :<br />
<br />
– Vậy nữ tướng Hồ Đề sẽ cho một đội quân đặc biệt đánh cho quân Thục không dám lên mặt thành ít nhất là nửa giờ. Bây giờ tôi định thế này : Khi trở về Đặng tư mã cho khiêu chiến với địch. Nữ tướng Hồ Đề sẽ cho kỳ binh xuất hiện, đánh giặc một trận long trời lở đất. Binh Thục mất tinh thần phải rút vào thành cố thủ. Xin Đại tư mã cho quân vây thành, lúc đó nữ tướng Hồ Đề sẽ làm cho binh lính trên mặt thành tê liệt trong vòng một giờ, để Đặng tư mã lấy thành.<br />
<br />
Đặng Vũ hỏi lại :<br />
<br />
– Xin quân sư cho biết đội quân đặc biệt đó là quân gì ?<br />
<br />
Phương Dung đưa mắt nhìn Hồ Đề. Nàng đứng dậy vỗ hai tay vào nhau cười khúc khích.<br />
<br />
– Điều này tối cơ mật, ngay Lĩnh-nam vương gia còn chưa biết. Nhưng tôi xin bảo đảm quân giặc sẽ bị tê liệt trong vòng nửa giờ. Sau khi lấy được thành Đặng tư mã sẽ phải cười bò về đạo quân quái gở của tôi.<br />
<br />
Phương-Dung tiếp :<br />
<br />
– Nữ tướng Hồ Đề cần một quân sư đi theo, vậy đệ nhị quân sư Trưng Nhị hãy theo giúp. Ta cũng cần một võ lâm cao thủ bậc nhất theo nàng, đề phòng bên địch cho cao thủ xuất trận. Vậy nữ tướng Phật-Nguyệt, Trần Năng, Lê Chân sẽ theo trong quân. Tất cả đặt dưới quyền điều khiển của Long Nhượng đại tướng quân Lại Thế-Cường.<br />
<br />
Phương-Dung lại tiếp :<br />
<br />
– Về đạo quân Hán-trung tôi sẽ tăng viện cho Xa-kỵ đại tướng quân các cao thủ đệ nhất. Xin Khất đại phu điều khiển các tướng Quỳnh-Hoa, Quế-Hoa đi theo trong quân. Đệ tam quân sư Phùng Vĩnh-Hoa sẽ đi theo các vị. Các vị cũng được tăng cường đặc biệt Trường-yên đại hiệp Cao Cảnh-Minh với đội thần nỏ Âu-lạc. Sau khi đội quân Tây-xuyên được bổ sung đầy đủ hãy xuất trận. Trận đầu cần nhất Khất đại-phu trổ thần oai đánh bại đệ nhất cao thủ địch, làm chúng mất nhuệ khí, quân ta sẽ thừa thế tràn lên, địch thua một trận tất vào thành cố thủ. Bấy giờ khi quân đánh chiếm thành xin Trường-yên đại hiệp cho thần nỏ Âu-lạc xuất hiện ở bốn cửa thành bắn chết tướng trấn thủ. Giặc kinh hồn bỏ chạy, quân sư Phùng Vĩnh-Hoa sẽ có kế bắt hết.<br />
<br />
Đợi mọi người ghi nhớ hết kế hoạch, Phương-Dung tiếp :<br />
<br />
– Một giặc cố thủ, trăm người khó đánh. Binh thư còn ghi : "Phù ! Dụng binh chi đạo, công tâm vi thượng, công thành vi hạ. Tâm chiến vi thượng, binh chiến vi hạ". Nghĩa là đạo dụng binh cần đánh vào tâm lý địch, hơn là đánh thành địch. Tâm chiến là kế tốt, binh chiến là kế tồi. Ta cần cho giặc táng đởm kinh hồn hai trận ở hai nơi Hán-trung và Kinh-châu, lòng chúng lo sợ, tất bại trận dễ dàng.<br />
<br />
Các tướng ngơ ngẩn nhìn nhau. Vì những điều Phương-Dung dẫn ra trong binh pháp, họ đều thuộc lòng. Nhưng họ không biết cách áp dụng mà thôi. Nay thấy Phương-Dung áp dụng một cách thần kỳ, thì tỏ lòng khâm phục. Bất giác họ ngước mắt nhìn quân sư, chỉ vẫn thấy khuôn mặt mỹ ái, nhu nhã.<br />
<br />
Nàng lại tiếp :<br />
<br />
– Sau khi chiếm được ải, hai đạo quân án binh bất động, nhưng phải theo dõi sát quân địch. Hễ chúng rút lui thì rượt đánh, nhưng đừng chém giết chi hết. Chỉ chận đánh một nữa, còn cho một phần chạy thoát... Như vậy khi tàn quân kéo về ải thứ nhì, sẽ làm quân trú phòng mất tinh thần luôn, ta sẽ lấy dễ dàng mà không hao binh tổn tướng...<br />
<br />
... Bây giờ mới tới đạo quân Lĩnh-nam. Quân Lĩnh-nam chưa xuất trận, tinh thần và thể xác còn khỏe vậy lĩnh nhiệm vụ nặng hơn. Đạo quân này Chinh-viễn đại tướng quân Đào Kỳ điều động theo kế hoạch đã do Lĩnh-nam vương trù liệu kế sách.<br />
<br />
Đến đây Thiên thủ viên hầu Lại Thế-Cường hỏi :<br />
<br />
– Tôi thống lĩnh 4 vạn quân bộ, 8 ngàn kỵ binh Nhật-nam. Tôi được tăng cường cho Đặng tư mã, vậy có mang theo bản bộ binh mã lên Kinh-châu không ?<br />
<br />
Nghiêm Sơn quyết định :<br />
<br />
– Dĩ nhiên ! Tướng đâu, quân đó.<br />
<br />
Đào Kỳ nói :<br />
<br />
– Tôi đánh vào Thục, chiếm thành phá ải. Đọat được thành, việc bổ nhiệm người trấn thủ sẽ do ai chịu trách nhiệm ?<br />
<br />
Nghiêm Sơn nói :<br />
<br />
– Đâào tam đệ giỏi dùng binh, võ công vô địch, nhưng tam đệ chỉ là người ngồi trên lưng ngựa mà thắng giặc, chứ không phải người ngồi trên mình ngưạ mà cai trị dân. Ta sẽ cử Nam-hải nữ hiệp và vương phi theo giúp tam đệ việc đó.<br />
<br />
Sau cùng Phương-Dung căn dặn Đặng Vũ :<br />
<br />
– Đại tư mã là dũng tướng, tuy nhiên nên nán đợi quân Lĩnh-nam đánh vô sau lưng Thục đã rồi hãy động binh. Tuyệt đối không nên ra binh trước.<br />
<br />
Ngô Hán vốn là văn quan nghĩ : từ phía Nam đánh vào đất Ích-châu, phải qua biết bao rừng núi, sông ngòi hiểm trở. Làm sao đưa cả một đạo quân vào được ? Đào phu nhân là quân sư, ước tính mưu cơ sâu xa, mà đưa chồng vào hiểm địa chắc bà phải có kế hoạch toàn thắng mới làm. Nhưng kế hoạch nào đây. Có 4 con sông từ Lĩnh-nam thông với Ích-châu. Nhưng Lĩnh-nam ở phía Nam, nước chảy từ Ích-châu xuống như thác đổ, làm sao đi được. Lại còn núi cao, rừng rậm, đường sạn đạo khó đi. Vậy mà sao như thấy bà đã nắm chắc phần thắng. Ly kỳ thật.<br />
<br />
Trước khi tan họp, Phương-Dung ngoắc Ngô Hán :<br />
<br />
– Xa-kỵ đại tướng quân ! Tôi muốn hỏi thăm tướng quân vài việc riêng. Tan họp xin tướng quân ở lại.<br />
<br />
Tướng sĩ các đạo đều ra về. Ngô Hán theo Phương-Dung vào mật trướng, bên ngoài có Trần Quốc, Quế-Hoa, Quỳnh-Hoa canh gác cẩn mật.<br />
<br />
Sau khi an tọa Phương-Dung rót nước mời Ngô Hán :<br />
<br />
– Ngô tướng quân ! Ngài là tôi rường cột nhà Đại-hán, việc lập công kiến tạo sự nghiệp như Lưu hầu Trương Lương, Hoài-âm hầu Hàn Tín, Thừa tướng Tiêu Hà là chí của tướng quân. Còn chúng tôi là người Lĩnh-nam, ưa tiêu dao tự tại, cứu khốn phò nguy. Tôi được biết Kiến-vũ Thiên tử hứa rằng, ai bắt được Công-tôn Thuật sẽ được thay thế làm chúa Ích-châu. Nay tuy ta có ba đạo quân, song chỉ có tướng quân với Đặng tư mã tranh nhau mà thôi. Trước kia Cao-tổ nói : ta ngồi trên mình ngựa mà được thiên hạ. Trương lưu hầu thưa rằng : Bệ hạ ngồi trên mình ngựa mà được thiên hạ, nhưng không thể ngồi trên mình ngựa mà cai trị thiên hạ. Theo thiển kiến, giữa tướng quân và Đặng tư mã, cả hai cùng có thể ngồi trên mình ngựa mà được Ích-châu. Nhưng chỉ riêng tướng quân là có thể cai trị Ích-châu. Cho nên tôi muốn giúp tướng quân bắt Công-tôn Thuật.<br />
<br />
Ngô Hán là người đọc sách, nhìn xa trông rộng, y biết Phương-Dung nói thực. Y nghĩ Phương-Dung gọi y vào đây, là có ý muốn bắt y chịu một điều kiện gì mới giúp y, y hiên ngang nói :<br />
<br />
– Nếu Đào phu nhân giúp tôi thành công, nguyện không quên ơn.<br />
<br />
Vĩnh-Hoa đứng bên cạnh tiếp :<br />
<br />
– Đặng Vũ có uy dũng, nhưng hơi tàn nhẫn. Bây giờ ông ấy chưa gặp thời còn khá, khi tới thời rồi sẽ chỉ biết mình mà thôi. Nếu ông ta thành công nắm Ích-châu trong tay, sẽ tàn ác với thiên hạ, không còn úy kỵ ai nữa ? Còn tướng quân, nếu được Ích-châu, tướng quân sẽ đem đạo Khổng, Mạnh trị dân, khiến cho dân được sung sướng. Tướng quân sẽ lo trước cái lo của dân, vui sau cái vui của dân. Vì vậy chúng tôi muốn giúp tướng quân.<br />
<br />
Ngô Hán liếc nhìn Phương-Dung, Trưng Nhị, Phùng Vĩnh-Hoa thầm nghĩ : Ba vị cô nương này về nhan sắc e chánh cung nương nương cũng thua xa. Ta lại nghe đồn võ công vô địch, mưu thần, chước thánh, lại là người thủ tín. Ta cũng chẳng nên dấu diếm tâm sự, e phụ lòng tri kỷ. Nghĩ vậy y nói :<br />
<br />
– Ba vị Quân-sư có chi dạy bảo cứ nói. Ngô Hán nguyện tuân theo.<br />
<br />
Phương-Dung nói :<br />
<br />
– Điều thứ nhất xin tướng quân chỉ điểm cho địa hình, địa vật, nơi đồn trú của giặc ở phương Nam Ích-châu.<br />
<br />
Rõ ràng Ngô Hán đã thuyết trình đầy đủ tình hình quân giặc, nhưng tại sao Phương-Dung còn hỏi? Như vậy là nàng muốn giữa đạo quân Đào Kỳ với y có sự thống nhất làm việc. Là người thông minh, y đáp ngay :<br />
<br />
– Không hiểu chiến thuật của quân sư đánh từ phía Nam lên như thế nào ? Theo tôi nghĩ, ta đưa được lọt một đạo quân nhỏ vào chiếm bất cứ cửa ải làm đầu cầu tất xong việc.<br />
<br />
Y ngẫm nghĩ một lát rồi tiếp :<br />
<br />
– Vì nghĩ đến việc đó nên tội cho tế tác do thám quân tình giặc rất kỹ. Tôi thấy hai lộ trình có thệ tiến đánh Ích-châu : Một là từ phía Kim-sa giang, phải qua ải Độ-khẩu. Lấy được Độ-khẩu có thể dùng thuyền chiếm Tây-xương. Từ Tây-xương do đường bộ đến Hán-nguyên, chiếm được Hán-nguyên, đường đến Thành-đô không xa là bao. Nhưng khó nhất là nhiếm được Độ-khẩu. Chỗ này nơi ba con sông lớn gặp nhau thác nước rất mạnh. Công-tôn Thuật cho trấn ở đây một Lữ bộ và một Hải đội. Nếu giặc cố thủ không có cách nào đánh vào. Thành nằm trên bờ sông có ba cửa, còn một cửa do hải quân đóng. Nếu có cách nào vượt sông đánh úp Hải đội, thì chiếm được thành. Từ đây lên Tây-xương có thể bị quân Phổ-cách, Mỹ-cơ đánh chặn hậu. Đường thứ nhì từ Xích-thủy đánh lên Long-xương, nhưng núi non hiểm trở vô cùng, nhất là phải vượt qua núi cao, vách đá dựng đứng đến 1500 trượng (3000 mét ngày nay). Nếu ta chiếm được Long-xương, đánh vào Thành-đô dễ như lấy đồ trong túi.<br />
<br />
Trưng Nhị gật đầu :<br />
<br />
– Thế thì chúng ta đánh cả hai đường. Ta không cần nhiều, chỉ cần đem một số tinh binh, đánh phá làm địch hoang mang, hoảng sợ. Rồi phô trương thanh thế khiến địch bỏ chạy tứ tán ra. Vậy khi trở về tướng quân đánh một trận, rồi án binh bất động, chờ Đào Kỳ, Đặng Vũ tiến quân. Khi chúng tôi vào Thành-đô tất Công-tôn Thuật cùng tướng sĩ sẽ chạy qua mặt Tây. Bấy giờ đạo quân Đào Kỳ án ở trước, Đặng Vũ không đuổi theo Thuật được. Tướng quân ở đối diện với giặc, chỉ đánh một trận là bắt được y.<br />
<br />
Phương-Dung tiếp lời :<br />
<br />
– Khi bắt được Thuật, tướng quân sẽ được phong trấn thủ Ích-châu. Tôi chỉ xin tướng quân dùng nhân đức trị trăm họ, lưu danh muôn thuở mà thôi.<br />
<br />
Ngô Hán nghe như tỉnh cơn mê vâng dạ lên đường.<br />
<br />
Tối hôm ấy, anh hùng Lĩnh-nam cùng họp mặt với nhau. Hồ Đề thắc mắc :<br />
<br />
– Tại sao chúng ta giúp Ngô Hán mà không giúp Đặng Vũ.<br />
<br />
Phùng Vĩnh-Hoa cười :<br />
<br />
– Giúp Ngô Hán là ta tự giúp ta. Nếu sau khi được Ích-châu, Hán-đế thuận trả Lĩnh-nam thì tốt, bằng không tất chúng ta phải khởi binh. Một trong hai tướng Ngô Hán hoặc Đặng Vũ sẽ cầm quân đánh Lĩnh-nam. Đối phó với Đặng Vũ rất dễ. Võ công y cao, nhưng không hơn Đào hầu, Đinh hầu. Chỉ cần Phương-Dung, Đào Kỳ hoặc Khất đại phu là đủ giết y. Nhưng đối phó với Ngô Hán khó hơn. Y là người đọc sách, thâm mưu viễn lự, làm việc gì cũng cân nhắc kỹ. Nếu nay ta giúp Ngô Hán được làm chúa Ích-châu. Người cầm quân tất phải là Đặng Vũ dễ cho ta hơn.<br />
<br />
Mọi người đều cho là phải.<br />
<br />
Sau khi Đặng Vũ, Ngô Hán đi rồi, Nghiêm Sơn hỏi Phương-Dung :<br />
<br />
– Ta thấy từ phía Nam đánh lên, muôn ngàn khó khăn, muội có cách nào chưa ?<br />
<br />
– Hiện giờ thì chưa, nhưng chúng ta có một đội binh rất đặc biệt, đó là đội Giao-long binh do sư bá Trần Quốc Hương cho đi theo đại ca trợ chiến. Ta lại có thêm Giao-long nữ cùng Mai động ngũ hùng và Giao Chi thạo thủy tính vào bậc nhất thiên hạ thì việc chiếm Độ-khẩu chắc có thể được. Còn đạo quân của sư tỷ Hồ Đề có thể vượt núi Kim-sơn mà vào thành Long-xương.<br />
<br />
Nói xong, nàng cho mời Triệu Anh-Vũ, Đinh Công-Thắng phân công :<br />
<br />
– Xin hai vị sư bá đi thám thính núi Kim-sơn, tìm đường vượt núi vào Thục. Còn Đào-lang, Giao-long nữ và tôi sẽ đi thám sát Độ-khẩu. Khi chúng tôi đi rồi, xin đại ca cho dời bản doanh đạo Lĩnh-nam lên Côn-minh trước.<br />
<br />
Trước khi đi, Nghiêm Sơn căn dặn :<br />
<br />
– Các vị lên đường cần ghi nhớ : Nhất thiết không được lộ hình tích. Dù vùng Độ-khẩu, Xích-thủy là lãnh địa Tượng-quận. Thái thú Tượng-quận là Cù Anh-Thông, người thứ tư trong Hợp-phố lục hiệp. Đô úy là sư thúc Trương Thủy-Hải. Đô sát là sư đệ Đinh Công-Minh. Trước lúc họ lên đường nhậm chức, cô gia đã chỉ thị cho các vị ấy phải bỏ nhiều vàng bạc thám thính tình hình Thục. Bây giờ ta đánh mặt Nam là dùng kỳ binh, mà dùng kỳ binh thì chỉ cần giặc biết trước nửa ngày là bao nhiêu công lao, kế hoạch phải bỏ hết.<br />
<br />
Giao-long nữ là một cô gái 17 tuổi, khi ở với Trần Quốc-Hương, ông cưng chiều như trứng mỏng, coi nàng như một thiếu nữ thơ ngây. Từ khi đi theo Đào Kỳ, Phương-Dung đến giờ, nàng được coi như người lớn, lại trở thành một tướng quân nên nàng mừng lắm. Hôm xảy ra trận đánh Đăng-châu, Đào Kỳ trao nàng một nhiệm vụ rấr khó khăn mà nàng hoàn thành dễ dàng. Bây giờ lại được Nghiêm Sơn đặt ngàng ngang với các danh tướng Trung-nguyên như Đặng Vũ, Ngô Hán thì hết sức phấn khởi. Thấy Ngô Hán cho rằng không nào qua nổi cửa Độ-khẩu, mà Phương-Dung lại tin rằng có nàng thế nào cũng vượt sông được, thì bảo sao nàng không hãnh diện?<br />
<br />
Hôm nay ba người Đào Kỳ, Phương-Dung và Giao-long nữ lên đường giả làm học trò Lĩnh-nam sang học nghề canh nông, để che mắt địch. Dọc đường Trần Quốc được Đào Kỳ chỉ điểm thêm về võ công, nàng học rất mau. Đêm nào nàng cũng thức tới canh ba để luyện võ. Trước đây nàng rất ít đọc sách, nay Phương-Dung khuyên rằng sau này nàng sẽ là Đô-đốc thống lĩnh thủy binh, cần phải nghiên cứu binh pháp. Dọc đường Phương-Dung giảng sách cho nàng, chiều tối Đào Kỳ dạy võ. Nàng bừng bừng vui mừng, càng nghĩ, càng nhớ ơn sư phụ: nàng chỉ là đứa trẻ mồ côi không cha, không mẹ, được sư phụ thương mang về nuôi nấng dạy dỗ. Rồi do sư phụ, nàng được quen những nhân vật kỳ vĩ của Lĩnh-nam. Những lúc không đọc sách nàng thường nhớ lại trang Thiên trường, nhớ đến khuôn mặt từ ái của sư mẫu, đến khuôn mặt cương quyết, hiền hòa của sư phụ. Nàng nghĩ :<br />
<br />
– Ta cứ học võ, đọc binh thư, đợi khi về Giao-chỉ thăm sư phụ, sư mẫu chắc người sẽ vui sướng khi thấy ta học được nhiều học thuật quý báu của thế gian. Nàng lại tự hỏi : Tại sao Phương-Dung, Đào Kỳ lại tử tế với mình như vậy ? Bâng khuâng mãi nàng mới tìm ra, hai người thương nàng chẳng qua nàng có bản lĩnh thủy tính hơn đời, chẳng qua hai người với nàng cùng mưu phục hồi Lĩnh-nam mà thôi. Phương-Dung giảng muốn thắng giặc, phải tự biết mình, biết giặc. Nàng tự hỏi : Biết mình là biết Giao-long nữ, biết giặc là biết tướng chỉ huy thủy quân của giặc. Ừ nhưng nàng đã biết Đô đốc giặc là ai đâu ? A phải rồi biết mình là biết sông ngòi, nước thủy triều lên xuống giờ nào. Tại mỗi con sông, nước sâu hay cạn, chỗ nào nước xoáy, và biết khả năng thủy thủ. Nhưng mình đã có thủy quân đâu ? Còn biết người là biết thủy quân địch. Thủy quân Hán dùng toàn chiến thuyền to lớn, vậy mình phải có chiến thuyền lớn hơn thuyền địch để chiếm ưu thế. Nhưng đóng thuyền lớn thì tốn tiền và lại khó vào sông nhỏ. Vậy mình thay vì đóng thuyền lớn, thì đóng thật nhiều thuyền nhỏ khoảng ba bốn người chèo, từ sông lạch nhỏ đổ ra thuyền lớn mà đánh hoặc đốt cháy bằng cỏ, hoặc đục thủng thuyền địch. Thắng rồi cướp lấy thuyền lớn của giặc. Còn như thua thì chèo chạy vào lạch, ngòi nhỏ sợ gì ? Ừ được, ta làm như vậy thì xong.<br />
<br />
Dọc đường, đi qua các sông ngòi có thuyền của người Hán, nàng nghĩ : Không biết thuyền của Hán có gì hơn thuyền Giao-chỉ không ? Nếu họ có gì hơn mình thì phải bắt chước mới được. Để ý quan sát, quả nhiên nàng thấy đến 5, 6 kiểu thuyền Hán khác xa thuyền Việt, nàng lấy bút cặm cụi vẽ kiểu và ghi chú chi tiết bên cạnh.<br />
<br />
Chiều hôm ấy, ba người tới Độ-khẩu, dân vùng này lẫn lộn người Việt, người Hán. Họ phục sức hơi khác người Giao-chỉ, giọng nói nặng như giọng Cửu-chân. Phương-Dung chỉ địa thế nói :<br />
<br />
– Kìa ba con sông Kim-long, Nhã-long giang, Đinh-hà gặp nhau, chia làm bốn ngả, nước chảy xiết gần như thác cuộn. Bên này thuộc Hán, bên kia thuộc Thục. Thành bên Hán là Vĩnh-nhân, xây trên ngọn đồi cao, dựa vào một vách núi, có thác cước đổ xuống. Còn sông Kim-sa giang rộng tới mấy trăm trượng, dưới sông Hải đội gồm 10 chiến thuyền lớn và hơn 50 chiến thuyền nhỏ, đậu sát nhau. Thủy thủ sống trên thuyền trong tư thế sẵn sàng chiến đấu. Bên kia sông là thành Độ-khẩu xây theo hình tam giác, mũi nhọn là nơi hai con sông Kim-sa giang và Nha-long giang hợp lại. dưới sông cũng có nhiều chiến thuyền lớn nhỏ, đậu san sát. Trên mặt thành, gươm đao, cung tên sáng ngời, luôn có quân sĩ tuần hành.<br />
<br />
Đào Kỳ nhìn qua nói :<br />
<br />
– Ngô Hán nói đúng, dùng thủy quân đánh sang bên kia, thì không lên được thành. Còn dùng bộ binh lại không có đường sang. Muốn dùng thuyền chở quân vượt sông thì gặp thủy quân chặn đánh. Nước chảy xiết thế kia, thuyền chở quân nặng làm sao chèo nổi ?<br />
<br />
Ba người vào một quán bên sông ăn bánh, uống nước. Chủ quán thấy một thiếu niên kỳ vĩ, hùng tráng và hai thiếu nữ trẻ đẹp đi theo, cả ba đều cỡi ngựa. Cho rằng khách sang, tiếp đón niềm nở. Trong quán có một thiếu nữ chiêu đãi xinh xinh, nàng tiến ra hỏi :<br />
<br />
– Khách quan dùng gì ?<br />
<br />
Đào Kỳ xin cho ăn bánh bao, uống trà. Cô gái thấy Đào Kỳ nói giọng lạ hỏi :<br />
<br />
– Khách quan từ xa tới đây ?<br />
<br />
Đào Kỳ đáp:<br />
<br />
– Chúng tôi là vợ chồng, còn đây là em gái tôi. Chúng tôi từ quận Giao-chỉ sang tìm thầy học.<br />
<br />
Hồi bấy giờ người Giao-chỉ sang Tượng-quận học là sự thường, nên chủ quán không ngạc nhiên hỏi :<br />
<br />
– Thế công tử và phu nhân định học gì ?<br />
<br />
– Phong thổ ở đây giống Giao-chỉ. Tôi muốn sang đây học nghề thuốc, nhưng chưa gặp được lương sư. Nếu ông biết có thầy giỏi, chỉ cho chúng tôi xin hậu tạ.<br />
<br />
– Công tử và phu nhân có biết chữ không ?<br />
<br />
Phương-Dung đáp thay chồng :<br />
<br />
– Ba chúng tôi đều biết chữ cả, nhưng thuốc thì không biết một tí gì.<br />
<br />
Chủ quán thở dài :<br />
<br />
– Công tử muốn tìm thầy giỏi, tất phải đi Đông-xuyên, Côn-minh, chứ đây là biên giới. Bên kia thuộc Thục, bên này thuộc Hán. Hai bên lúc nào cũng chỉ chực đánh nhau, các thầy giỏi đều bỏ đi cả rồi.<br />
<br />
Phương-Dung móc tiền ra trả, nàng lại lấy thêm mười đồng tiền, hai tay đưa cho chủ quán :<br />
<br />
– Gọi là chút quà mọn tạ ơn ông chỉ bảo.<br />
<br />
Ngay lúc đó một Ngũ lính đi tuần tới, thấy ba người lạ hỏi :<br />
<br />
– Chủ quán, ai vậy ?<br />
<br />
Chủ quán đáp lơ đãng :<br />
<br />
– Ba người từ Giao-chỉ sang tìm thầy học thuốc. Tôi chỉ họ đi Đông-xuyên hoặc Côn-minh.<br />
<br />
Viên ngũ trưởng hỏi :<br />
<br />
– Ba vị từ Giao-chỉ đến đây, thế có thẻ bài chứng minh thân phận không ?<br />
<br />
Phương-Dung giả vờ ngơ ngác :<br />
<br />
– Thái thú Giao-chỉ không bắt dân dùng thẻ bài nên chúng tôi không có.<br />
<br />
– Vậy mời ba vị đến sở Tế-tác gặp Giám-sở chúng tôi. Bởi đây là biên cương, chỉ sợ tế tác địch do thám.<br />
<br />
Đào Kỳ liếc nhìn Phương-Dung, rồi cùng đi theo viên Ngũ-trưởng. Tới cổng thành, y dẫn ba người vào một căn nhà gỗ khá sạch sẽ. Y nói lớn :<br />
<br />
– Trình Giám-sở có ba người từ Giao-chỉ tới, không có thẻ bài, chúng tôi mời họ về đây để Giám-sở định liệu.<br />
<br />
Trong nhà, một thanh niên khoảng 25 tuổi bước ra, nhìn ba người rồi mời vào phòng, tự giới thiệu :<br />
<br />
– Tôi là Ngô Đạt, Giám-sở Tế-tác Vĩnh-nhân. Đây là biên giới cần đề phòng cẩn mật. Vậy xin ba cô cậu khai cho đúng :Ba cô cậu từ đâu tới, tên họ gì ? Đến để làm gì ?<br />
<br />
Phương-Dung trả lời :<br />
<br />
– Chồng tôi họ Kỳ tên Đào, tôi họ Phương, còn đây là em chồng tôi, tên Quốc, chúng tôi từ Giao-chỉ tới tìm thầy học thuốc cứu người !<br />
<br />
Giám sở nhìn ba con ngựa hỏi :<br />
<br />
– Con ngựa Ô này là ngựa rừng, tôi chưa từng thấy qua. Con hai con chiến mã này, móng đóng thiếc của kỵ binh, tại sao các vị có ?<br />
<br />
Phương-Dung giật mình nhận ra sự sơ hở của mình và công nhận Giám sở tinh tế, thông minh, nhận ra chân tướng mình. Nàng chưa biết trả lời sao thì Ngô Đạt lại nói :<br />
<br />
– Các vị không có thẻ bài, vậy cho chúng tôi khám được không ?<br />
<br />
Giao-long nữ cười :<br />
<br />
– Không được ! Ngô đại nhân mà khám, e rằng sẽ gặp một vật làm đại nhân chết khiếp.<br />
<br />
Ngô Đạt thấy Trần Quốc xinh đẹp, nói năng có duyên, thì cười :<br />
<br />
– Tiểu cô nương ! Không lẽ trong bọc cô nương có rắn rết ? Nói thực tôi không sợ đâu. Tôi khám đây.<br />
<br />
Y chụp bọc của Trần Quốc.<br />
<br />
Nàng trầm mình tránh khỏi, rồi nói :<br />
<br />
– Trời ơi ! Đại nhân định khám thật ư ? Này tôi nói cho mà biết, nam nữ thụ thụ bất thân, đại nhân không được đụng vào người tôi !<br />
<br />
Ngô Đạt là người học võ, chàng thấy lối né tránh của nàng khác lạ, rõ ràng nàng là một cao thủ. Y giật mình chụp vai nàng. Trần Quốc lại trầm mình tránh khỏi.Y thất kinh chụp lần nữa, lần này nàng cũng tránh thoát. Sau bốn lần chụp hụt, y nhận thấy bản lãnh đối phương cao hơn mình nhiều, y lùi lại rút gươm chém tạt một nhát, Trần Quốc cũng tránh được. Y tiếp tục chém mười chiêu đều bị nàng tránh dễ như chơi. Y biết đối thủ không có ác ý, nếu không chỉ một chiêu là y đã bỏ mạng. Thấy quân sĩ đã vây kín xung quanh, y yên tâm quay lại nhìn Đào Kỳ, Phương-Dung thấy hai người như không chú ý đến cuộc giao tranh, ngồi bình thản quan sát cơ sở. Y bỏ kiếm xuống hỏi :<br />
<br />
– Xin quý vị cho biết rõ lý lịch.<br />
<br />
Phương-Dung lấy một gói trong bọc đưa cho y, rồi nói :<br />
<br />
– Có người gởi cho quan trấn thủ ải nầy món quà, nhờ Ngô giám sở đưa dùm.<br />
<br />
Ngô Đạt lấy cái hộp bọc lụa, mở ra thì trong có ba tấm thẻ bài và một phong thư. Y cầm lên coi thấy tấm thứ nhất đề : Trần Quốc, Thống-lĩnh Hải-đoàn Lĩnh-nam. Tấm thứ nhì : Đào Kỳ Chinh-viễn đại tướng quân. Tấm thứ ba : Nguyễn Phương-Dung Đệ nhất Quân-sư. Phong thư có ấn son đỏ đề : "Lĩnh-nam vương Tả tướng quốc, lệnh văn võ các cấp phải tuân lệnh điều động của Đệ nhất Quân-sư và Chinh-viễn đại tướng quân. Trái lệnh xử trảm".<br />
<br />
Ngô Đạt đã được Thái-thú Cù Anh-Thông loan báo đại quân Lĩnh-nam vương đã tới Quế-lâm. Chinh-viễn đại tướng quân sẽ tới bí mật bất kể ngày đêm để dọ thám bên địch. Hễ thấy không được chào hỏi, phải mời vào gặp cấp trên ngay. Vì vậy y vẫy quân sĩ :<br />
<br />
– Các người tránh ra hết.<br />
<br />
Đợi quân sĩ đi hết, y mới chắp tay hành lễ quân cách :<br />
<br />
– Giám-sở Tế-tác Vĩnh-nhân xin ra mắt Quân-sư và Đại-tướng quân.<br />
<br />
Thái độ y hiên ngang, kính trọng mà không sợ hãi. Đào Kỳ thấy thiện cảm :<br />
<br />
– Chúng ta đi gặp vị trấn thủ ải này rồi hãy nói truyện.<br />
<br />
Ngô Đạt dẫn ba người vào một căn nhà khác. Y ra hiệu ba người ngồi chờ, rồi vào trong. Một lát sau y trở ra cùng một tướng quân, tuổi khoảng 50 dáng điệu uy nghiêm.Viên tướng trấn thủ hành lễ quân cách :<br />
<br />
– Tiểu-tướng Trần Huê xin ra mắt Quân-sư và Đại tướng quân.<br />
<br />
Đào Kỳ và Phương-Dung đáp lễ. Y mời ba người vào trong trướng, sai đãi trà. Phương-Dung cho y biết sơ ý định đánh Thục. Vì vậy nàng và Đào Kỳ tới đây để đích thân thám sát tình hình. Nàng bày tỏ nỗi lo lắng không vượt sông được, nói với Trần Huê :<br />
<br />
– Sông này, rộng sâu thế nào ?<br />
<br />
– Kim-sa giang rộng khoảng một ngàn trượng. Sâu không biết bao nhiêu mà lường. Mùa nước cạn còn rộng khoảng 800 trượng mà thôi, nước chảy cũng ít mạnh. Còn về tình hình bên địch xin để Ngô Đạt trình bày.<br />
<br />
Ngô Đạt đỡ lời Trần Huê :<br />
<br />
– Đạo quân Độ-khẩu của Thục có một Lữ kỵ binh, một Lữ bộ binh và một Hải đoàn. Hải đoàn đóng sát ngay chân thành Độ-khẩu. Trong thành có hai tốt kỵ, hai tốt bộ. Tổng cộng cả bộ, kỵ, thủy là 600 người. Tướng trấn thủ là Sơn Ngọc-Quang, ít học, nhưng là một tướng có tài và là một tay võ công trác tuyệt. Y lại là người kiên trì cẩn thận. Trong thành y để 600 quân, bên ngoài y còn cho đóng hai đồn Hoa-bình và Mễ-dịch, cách Độ-khẩu khoảng 15 dặm. Mỗi đồn đều có 100 quân bộ và 100 quân kỵ. Nếu chúng ta vượt sông đánh Độ-khẩu, sẽ bị hai đồn đánh bọc hậu.<br />
<br />
– Từ trước đến giờ tướng quân đã vượt sông lần nào chưa ?<br />
<br />
Trần Huê thưa :<br />
<br />
– Phục-ba tướng quân Mã viện đã cho thử vượt sông. Tuy đổ quân được sát vào chân thành Đội-khẩu, nhưng bị hai đồn Hoa-bình và Mễ-dịch kéo về đánh, thành ra bị bại. Quân đổ bộ phải rút về, chết chìm phân nữa. Từ đấy không thấy lệnh trên nói gì nữa, tiểu tướng chỉ biết trấn thủ nghiêm ngặt mà thôi.<br />
<br />
Phương-Dung gật đầu nói với Ngô Đạt :<br />
<br />
– Xin Giám-sở mang theo 2000 trượng dây lớn cỡ bằng đầu ngón tay út. Chúng ta lên đường ngay.<br />
<br />
Ngô Đạt cáo từ một lát rồi trở lại đã có sẵn dây. Phương-Dung dẫn Ngô Đạt, Trần Hụê cùng đi dọc theo Kim-sa giang. Trời về đêm lạnh buốt tới xương. Hai tướng công lực còn kém đều phát run. Đào Kỳ móc túi đưa mỗi người một viên thuốc chống lạnh của Khất đại phu chế trên đảo cho phụ thân chàng. Hai tướng nuốt vào, thấy người ấm áp dễ chịu. Đi một lát Ngô Đạt chỉ sang phía bên kia sông :<br />
<br />
– Kia là đồn Hoa-bình. Thường thường bên kia sông lúc nào cũng có binh lính tuần tiễu. Nhưng nay là mưa lạnh, chúng yên tâm không ai dám vượt sang, nên chúng án binh ngủ.<br />
<br />
Phương-Dung chỉ vào bên này sông :<br />
<br />
– Khoảng giữa Độ-khẩu và Hoa-bình, chúng ta có thể vượt sông. Xin lang quân giúp sức.<br />
<br />
Đào Kỳ rút kiếm chặt hai cây tre lớn nhất ở bụi tre gần sông, vót nhọn đầu. Đoạn chàng cầm hai cây tre, nhún người vọt lên cao, lộn một vòng đầu xuống trước. Khi tới đáy sông chàng vận khí, dùng sức cắm hai cây tre lún gần phân nửa, rồi vọt lên đáp vào bờ. Chàng bảo Giao-long nữ :<br />
<br />
– Tiểu muội với ta mỗi người đeo một cuộn dây, vượt sông, chằng dây, để Ngô giám sở và sư tỷ bám dây lội qua.<br />
<br />
Ngô Đạt thất kinh hồn vía :<br />
<br />
– Nước sông lạnh lại chảy xiết, làm sao vượt qua ?<br />
<br />
Giao-long nữ cười :<br />
<br />
– Tôi là Giao-long, Đào đại ca là rái cá. Chúng tôi tu luyện ngàn năm thành người, qua sông có gì khó ?<br />
<br />
Nói xong nàng nhào xuống nước cùng Đào Kỳ lặn sâu trong đáy sông. Một lát sau cả hai đã nổi bên kia bờ sông. Họ chỉ bị trôi về hạ lưu hơn trăm trượng thôi. Đào Kỳ lại chặt cây, cắm xuống sông, cột dây vào, đoạn chàng bắt chước tiếng chim, rúc lên một hồi.<br />
<br />
Bên này Phương-Dung bảo Trần Huệ :<br />
<br />
– Tướng quân đứng ở đây, để tôi với Ngô giám-sở bám dây lội qua sông.<br />
<br />
Bây giờ Ngô Đạt mới tỉnh ngộ. Y nhảy xuống sông bám dây lội qua. Khi đến được bờ đã thấy Phương-Dung ngồi đó tự bao giờ. Bốn người len lỏi trong đêm đến Độ-khẩu, theo đường bộ qua Mễ-dịch rồi lại trở về chỗ cũ, lội sông, sang Vĩnh-nhân.<br />
<br />
Tới thành Vĩnh-nhân Phương-Dung nói :<br />
<br />
– Trần, Ngô tướng quân cần giữ bí mật, coi như chúng tôi chưa tới đây, để tế tác giặc không biết. Tướng quân được phép tổ chức cờ bạc, ăn chơi cho quân sĩ trong ngày cuối năm, để đánh lạc hướng chú ý của giặc. Tôi sẽ có lệnh sau.<br />
<br />
Sáng hôm sau ba người lên đường trở về Côn-minh, tới nơi thì Triệu Anh-Vũ và Đinh Công-Thắng cũng vừa về tới. Nghiêm Sơn mời tất cả vào trướng thương nghị.<br />
<br />
Đinh Công-Thắng trình bày :<br />
<br />
– Chúng tôi đi thám thính, đường Kim-sơn đến Long-xương phải qua một ngọn núi cao 1500 trượng. Sang chân núi bên kia chỉ có một tốt khoảng 100 binh sĩ canh phòng. Tới mãi Long-xương mới có một lữ kỵ binh đóng trong thành nhỏ. Đây là đồng bằng, dân chúng sống hiền hòa, binh sĩ trễ nãi, việc canh phòng sơ hở. Có điều khi vượt qua Kim-sơn, chúng tôi phải nhờ đến đội Thần-hầu của Hồ Đề lên trước cột dây mới qua được. Tuy vậy, nếu mạo hiểm đánh chiếm Long-xương, tất Thành-đô rúng động. Chỉ sợ sau đó chúng rút quân từ hai đạo Tây-xuyên và Kinh-châu về, chúng ta ít người khó đương cự nổi.<br />
<br />
Triệu Anh-Vũ là sư thúc Nghiêm Sơn, ông là người can trường, nói :<br />
<br />
– Tôi với Đinh huynh đã bàn, nếu cần hy sinh tính mạng, chúng tôi cũng quyết làm cho được.<br />
<br />
Đào Kỳ ngẩn người nghĩ :<br />
<br />
– Anh của Đinh Công-Thắng bị Phương-Dung giết, mà sao Công-Thắng lại đổi tính mau như vậy ?<br />
<br />
Chàng chợt nhớ ra, anh em Lôi-sơn tam hùng chỉ ước muốn làm chúa 36 động Mê-linh, nay Trần Năng nhường chức Thống-lĩnh cho Đinh Hồng-Thanh rồi, có lẽ vì vậy anh em họ Đinh đã thỏa lòng.<br />
<br />
Suốt hai ngày Nghiêm Sơn bàn định với Phương-Dung, Đào Kỳ để quyết định phương kế tối hậu. Vương cho đánh trống khẩn cấp họp tướng sĩ. Vương thăng trướng ban lệnh :<br />
<br />
– Chúng ta phải tới Thành-đô ăn Tết Bính-thân. Vậy xin các vị sư bá, sư thúc, chư huynh đệ và tướng sĩ nghe lệnh :<br />
<br />
– Đào hiền đệ chỉ huy đạo thứ nhất, bí mật đến Độ-khẩu, làm thế nào tới nơi mà giặc không biết. Khi tới chia quân làm ba : Đội thứ nhất do Trần Huệ, ngày đêm tuần tiễu phía Nam Kim-sa giang, đề phòng địch vượt sông tập kíck. Trần Huệ cũng phụ trách việc tiếp tế lương thảo và bảo vệ đường liên lạc giữa Đào hiền đệ và Tổng hành dinh của ta. Sư muội Trần Quốc chỉ huy đội Giao-long binh Thiên-trường chăng dây qua sông. Sau khi vượt sông Trần muội chia đội Giao-long ra làm hai, mai phục phía ngoài Độ-khẩu và Hoa-bình, nếu gặp tuần đội tiễu địch phải giết sạch, không để thóat một mạng. Trong khi đó sư huynh Nguyễn Nhân cùng năm tướng Nghĩa, Lễ, Trí, Tín và Giao-Chi chỉ huy đội quân ráp cầu phao cho thực nhanh, làm sao trước lúc trời sáng phải xong 4 cầu phao. Đầu cầu phía Nam do Giám-sở tế tác Vĩnh-nhân, Ngô Đạt chỉ huy bảo vệ. Đầu cầu phía Bắc do sư huynh và chúng huynh đệ bảo vệ. Đào hiền đệ phải cho một sư bộ và một sư kỵ đổ bộ trước khi trời sáng. Sau khi cầu phao làm xong, Đô-đốc Trần Quốc lập tức trở về Vĩnh-nhân điều khiển Hải đội sẵn sàng, chờ tín hiệu của nữ tướng Hoàng Thiều-Hoa sẽ đánh thẳng sang bên kia Độ-khẩu.<br />
<br />
– Đào hiền đệ cho Lữ bộ mai phục trên đường từ Hoa-bình về Độ-khẩu. Khi đánh Độ-khẩu tất quân Hoa-bình đổ về cứu. Ta cứ để cho chúng đi, chỉ cho một phần phục binh đánh cầm chân, phần kia tiến chiếm Hoa-bình. Để một số quân Hoa-bình chạy thoát và mở vòng vây để toán quân giặc tiếp cứu Độ-khẩu chạy được về Độ-khẩu, chúng sẽ làm binh lính ở đây rối lọan mất tinh thần.<br />
<br />
– Cho hai Lữ bộ và kỵ tiến đánh Mễ-dịch, nữ tướng Hoàng Thiều-Hoa chỉ huy cánh quân này. Khi bắt đầu đánh Mễ-dịch, nhớ bắn tên lửa làm hiệu để Đô-đốc Giao-long nữ thúc quân vượt sông đánh vào Hải đội địch. Giặc bị công phá bốn phía, thua chạy. Đào hiền đệ phải chuẩn bị trước phục binh chặn bắt hết, không để một tên tẩu thoát báo tin.<br />
<br />
– Sau khi chiếm được Độ-khẩu, Hoa-bình và Mễ-dịch, Minh Giang sẽ đóng tại Độ-khẩu, Vĩnh-nhân. Còn Đào đệ thúc quân tiến đánh Đức-xương, Tây-xương, Việt-tây và Hán-nguyên. Đến Hán-nguyên, phải án binh tại chỗ, chờ bắt tay với đạo Kim-sơn rồi cùng đánh Thành-đô.<br />
<br />
Từ hồi xuất binh tới giờ, chư tướng chỉ thấy ba vị quân sư điều binh khiển tướng. Bây giờ mới thấy Nghiêm Son đích thân ban lệnh, kế hoạch chính xác, ngồi trong trướng mà định việc trăm dặm, Vương quả không hổ danh tướng trăm trận, trăm thắng, không phụ lòng Hán đế cho chỉ huy cả Đặng Vũ, Ngô Hán, Phùng Dị và Mã Viện.<br />
<br />
Đợi các tướng được phân công ghi nhớ kỹ lệnh, đoạn Vương tiếp :<br />
<br />
– Đạo thứ nhì do sư thúc Triệu Anh-Vũ và Đinh Công-Thắng chỉ huy tiến đánh Long-xương. Đường tiến quân của nhị vị sư thúc rất khó khăn, nhưng nếu đem được quân tới Long-xương là giặc kinh hồn, táng đởm rồi. Vậy hai vị ưu tiên chọn một Lữ bộ toàn quân khỏe mạnh, can đảm và kỷ luật. Dùng đoàn quân Thần-hầu của Hồ Đề leo núi, chăng dây trước hai vị lên theo dùng dây kéo người. Đầu tiên kéo hai, sau thành bốn rồi thành tám, cứ thế khi có 200 quân thì kéo xuống chân núi bố phòng, để quân còn lại tiếp tục vượt núi. Khi cả Lữ qua rồi thì để đội Thần-hầu thủ bên này Kim-sơn bảo đảm tiếp tế lương thực. Đợi đêm hãy vượt rừng đánh chiếm đồn nhỏ của địch trấn giữ chân núi Kim-sơn không cho một người chạy thoát, bắt chúng giao binh phù, hướng dẫn đường bất thần đánh Long-xương. Chiếm được Long-xương thì không còn gì đáng sợ nữa. Lúc đó nhị vị sư thúc cần liên hệ với Đào hiền đệ. Kể từ đây, mọi tiếp tế, bổ sung đều từ Hán-nguyên đưa đến.<br />
<br />
– Sau khi hai đạo quân chiếm Hán-nguyên và Long-xương bắt tay được với nhau, chúng ta sẽ dồn hết 16 quân Bộ, 16 sư Kỵ Lĩnh-nam vào Ích-châu. Bấy giờ Chinh-viễn tướng quân cho binh tiến chiếm Thành-đô. Nhớ răn dặn tướng sĩ, không được giết hại người, không được cướp bóc. Cần phải đánh thật mau, trước khi Đặng Vũ tới.<br />
<br />
Sau cùng thông lệ chàng hỏi:<br />
<br />
– Có ai thắc mắc gì không ?<br />
<br />
Giao-long nữ nói :<br />
<br />
– Sau khi đánh Độ-khẩu, tiểu muội với đội Giao-long và đội của trang Cối-giang sẽ làm gì ?<br />
<br />
Nhờ nàng nhắc Nghiêm Sơn mới chợt nhớ ra :<br />
<br />
– Trần đô-đốc điều khiển hai lực lượng này theo tướng quân Đào Kỳ đánh chiếm các đội thủy quân địch ở Hán-nguyên. Rồi góp thủy quân dọc sông Dân-giang lên đánh Thành-đô. Tiểu muội tổng chỉ huy thủy quân Lĩnh-nam.<br />
<br />
Giao-long nữ nghe vậy thích quá, gật gật đầu cười.<br />
<br />
Nghiêm Sơn đứng dậy, cung kính đưa ấn kiếm cho Nam-hải nữ hiệp :<br />
<br />
– Thưa sư bá, sau đây cháu phải đi Kinh-châu cùng sư muội Phương-Dung xem xét tình hình. Việc điều khiển tất cả bá quan văn võ từ Lĩnh-nam cho tới Kinh-châu đều do sư bá thay cháu. Nhất là việc bảo đảm việc trấn thủ hậu quân cho Đào hiền đệ. Phụ giúp sư bá, có sư thúc Lương Hồng-Châu và sư muội Lê Ngọc-Trinh.<br />
<br />
Nam-hải nữ hiệp khảng khái nhận lời :<br />
<br />
– Tôi xin nhận trách nhiệm này. Tôi có thắc mắc, khi Hồ Đề đi giúp Đặng Vũ có mang theo đội Thần-phong, Thần-ưng. Còn Vĩnh-Hoa mang theo đội Thần-báo, Thần-hổ. Ở đây đội Thần-hầu theo Triệu Anh-Vũ. Còn đội Thần-xà và Thần-ngao để làm gì ?<br />
<br />
Giao-long nữ khúc khích :<br />
<br />
– Xin sư bá cho cháu đội Thần-xà để đánh hải đội của địch !<br />
<br />
Nghiêm Sơn đồng ý giao đội Thần-xà cho Giao-long nữ và tiếp :<br />
<br />
– Đội Thần-ngao sẽ được chia đều cho ba đạo, để canh phòng, thám thính.<br />
<br />
Phương-Dung tiếp lời Nghiêm Sơn :<br />
<br />
– Sau khi chiếm được Độ-khẩu, sư bá có thể cho dời tổng hành dinh đến đó theo Đào lang. Lúc trở về Lĩnh-Nam, chúng ta sẽ dùng sông Trường giang đổ ra Kinh-châu, rồi từ Kinh-châu về Giao-chỉ bằng đường biển. Nhất thiết các đồn trại của giặc chiếm được dọc đường, xin sư bá tự quyết đề cử tướng sĩ trấn nhậm. Các chức huyện lệnh, huyện úy vùng mới chiếm, Đào lang sẽ trình sư bá để quyết định. Chúng ta cần người tài đức để an dân. Biết và dùng người trên thế gian này khó ai bằng sư bá. Có điều bên Hán trọng nam khinh nữ, không như bên Lĩnh-nam ta. Vì vậy xin sư bá hiển lộng thần uy nếu cần để tướng sĩ phục tùng. Bởi họ chỉ phục sức vũ dũng mà thôi.<br />
<br />
Nam-hải nữ hiệp tủm tỉm cười :<br />
<br />
– Nguyễn Trát sinh ra cháu quả là viên ngọc quí hiếm trên thế gian.<br />
<br />
Nghiêm Sơn thấy Lê Ngọc-Trinh mặt buồn rười rượi, chàng hỏi :<br />
<br />
– Lê sư muội dường như có diều gì không được vui lòng ?<br />
<br />
Lê Ngọc-Trinh trả lời :<br />
<br />
– Ai cũng ra trận được cả, chỉ mình tôi ngồi gác lương thực, chán quá !<br />
<br />
Nghiêm Sơn nói :<br />
<br />
– Sư muội lầm rồi. Đại phàm đạo dùng binh, quan trọng ngất là bảo vệ lấy căn bản. Căn bản là hậu quân. Vì vậy ta phải nhờ hai vị có uy tín nhất là Nam-hải nữ hiệp và sư thúc của ta trấn giữ. Nếu để giặc chiếm mất hậu quân, chặn đường về, chúng ta chết hết. Sư muội là đệ tử Khất đại phu, giỏi trị bệnh, võ công cao cường, ta để ở với Nam-hải nữ hiệp bảo vệ sau lưng toàn quân, đó chức vụ quan trọng nhất.<br />
<br />
Vốn tính hiền hòa, Lê Ngọc-Trinh đổi buồn làm vui, gật đầu mỉm cười.<br />
<br />
Sau đó mọi người giải tán, ai về lo nhiệm vụ nấy, chuẩn bị thi hành lệnh được giao phó.<br />
<br />
 <br />
<br />
<i>Bộ Anh hùng Lĩnh-Nam<br />
đến đây đã chấm dứt, xin xem tiếp bộ<br />
<br />
ĐỘNG ĐÌNH HỒ NGOẠI SỬ<br />
</i><br />
<br />
[toc]book|no[/toc][toc][/toc]</div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://tvvn.org/forum/forumdisplay.php?f=135">Fiction</category>
			<dc:creator>Phượng Hoàng 4</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3917</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Anh Hùng Lĩnh Nam - Quyển IV - Hồi 39 - Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ</title>
			<link>http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3916&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Thu, 19 Nov 2009 20:38:52 GMT</pubDate>
			<description>HỒI THỨ BA MƯƠI CHÍN 
 
Hay Là Khuất Núi Đi Rồi 
Nàng Cho Anh Biết, Anh Về Thắp Hương 
(Ca dao) 
 
  
 
Đào Kỳ ngạc nhiên tự hỏi : tại sao trong đám...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><b>HỒI THỨ BA MƯƠI CHÍN</b><br />
<br />
<i>Hay Là Khuất Núi Đi Rồi<br />
Nàng Cho Anh Biết, Anh Về Thắp Hương</i><br />
(Ca dao)<br />
<br />
 <br />
<br />
Đào Kỳ ngạc nhiên tự hỏi : tại sao trong đám Hán binh lại có người bản lãnh phi thường như thế ? Chàng lệnh cho thuyền chèo lại gần, bây giờ nhìn rõ hơn, tên Hán binh đang vật lộn với Lưu Chương. Lưu Chương tỏ ra thạo thủy tính, nhưng còn thua tên Hán binh nhiều. Chỉ một lát sau, y bị tên Hán binh dìm xuống nước, cho uống đầy bụng rồi trói y lại. Trói Lưu Chương xong, tên Hán binh vọt người lên cao như cá chép vượt vũ môn, đáp xuống thuyền, đoạn cầm đầu dây giật mạnh một cái đã thấy Lưu Chương bay bổng lên rơi xuống sàn. Đào Kỳ nhìn kỹ tên Hán quân thấy lưng y quen quen, mà chàng không nhận ra hắn là ai. Bỗng thấy ánh đuốc của một thủy thủ soi gần mặt y, chàng phì cười : Mình thật ngu, thì ra là Giao-long nữ.<br />
<br />
Đám phản loạn trên thuyền bị bắt hết chỉ có bốn dân thuyền là thoát được về hướng Bắc. Đào Kỳ sai tra xét đám tù binh : Nam có, nữ có, cả người già và trẻ con, nhưng tuyệt nhiên không thấy Trương Thanh. Lục soát dưới hầm chiến thuyền, chàng tìm được thím và hai em, chàng vội cởi trói và tìm lời an ủi, đồng thời sai người báo tin ngay lập tức cho Đào Thế-Hùng.<br />
<br />
Hải đội trưởng Trần Như-Ý báo cáo :<br />
<br />
– Thuyền chúng tôi ít, thuyền địch nhiều nên chỉ bắt được chiến thuyền với 5 dân thuyền, đánh chìm 12 dân thuyền, nhưng có 4 dân thuyền thoát được, vậy xin đại tướng quân cho quân đuổi theo.<br />
<br />
Đào Kỳ ban lời khen rồi lắc đầu :<br />
<br />
– Không cần thiết, chúng không chạy thoát đâu. Ta cứ từ từ theo sau cũng được.<br />
<br />
Chàng sai bắn tên lửa lên trời báo hiệu cho Lê Chân biết đã xong mọi việc, và quay hỏi Đàm Ngọc-Nga :<br />
<br />
– Sư tỷ nghĩ xem có khi nào bọn Trương Thanh chạy về phía Nam không ?<br />
<br />
Ngọc-Nga lắc đầu :<br />
<br />
– Không! Có lẽ chúng thoát trong bốn dân thuyền kia.<br />
<br />
– Như vậy chúng sẽ bị bắt hết. Thôi chúng ta trở về huyện đường.<br />
<br />
Truyền trở lại huyện đường đã thấy Lê Chân cùng các chiến thuyền neo tại bến Đăng-châu. Chàng dặn Trần Như-Ý tiếp tục tuần hành trên sông rồi cùng mọi người lên bờ. Huyện đường do tráng đinh trang Hiển-minh chiếm đóng, ba tốt do đệ tử Đào Thế-Hùng chỉ huy cũng rút về. Tốt quân Hán trấn đóng cửa Nam cũng đã đầu hàng. Chàng để việc kiểm điểm tù binh cho Đào Thế-Hùng. Cuộc tấn công thành công mỹ mãn, phía tấn công không ai bị thiệt mạng, phía theo Trương Thanh thiệt hại 8 người trong lúc hỗn chiến với đệ tử của Đào Thế-Hùng.<br />
<br />
Đào Thế-Hùng tập họp văn võ bá quan cùng quân sĩ huyện Đăng-châu lại để ủy lạo. Ông cho biết chỉ hai người bị tội là Trương Thanh và Lưu Chương, còn tất cả chỉ vì bắt buộc phải thừa hành nên được miễn tội và giữ nguyên chức vụ cũ. Bá quan, tướng sĩ Đăng-châu hoan hô vang dậy, rồi ai về nhà nấy. Tới gần sáng mới thấy Tôn Mạnh trở về, y dẫn theo khoảng 30 người bị bắt trong đó có vợ, tỳ thiếp và con gái Trương Thanh là Trương Thanh-Mai, cùng họ hàng thân thuộc. Duy có Trương Minh-Đức và Tường-Quy không thấy đâu. Đào Thế-Hùng tra hỏi Trương Thanh, được biết con trai và con dâu đi trên dân thuyền bị đánh chìm trên sông, chắc bị chết đuối. Đào Kỳ thất kinh hồn vía, truyền lệnh cho hải đội trưởng Trần Như-Ý phải tìm cách vớt mọi người chết chìm, và mang nộp tất cả tử thi.<br />
<br />
Đáng lý xong việc Đăng-châu, Đào Kỳ phải trở về Luy-lâu ngay. Nhưng chàng viện cớ do đất Đăng-châu chưa yên để lần lửa ở lại chờ tin Tường-Quy. Chàng cho ngựa lưu tinh báo tin thắng trận với Lĩnh-nam vương. Hai ngày sau, sứ giả từ Luy-lâu đến trao lệnh bảo chàng phải về ngay. Sứ giả mang sắc phong của Lĩnh-nam vương cử Phùng Đại-Tín, cha của Phùng Vĩnh-Hoa thọ chức huyện lệnh. Dân chúng được tin reo hò mừng rỡ, vì Phùng Đại-Tín là người tài, đức thương dân, đồng thời huyện Đăng-châu có huyện lệnh và huyện úy cùng là người Việt.<br />
<br />
Chiều hôm ấy, Trần Như-Ý báo cáo vớt được tất cả 23 người, nhưng không có thi thể của Tường-Quy và Minh-Đức. Hẳn hai người chết đuối, xác trôi đi xa, trước khi Trần Như-Ý chăng lưới vớt xác.<br />
<br />
Đào Phương-Dung hiểu tâm sự anh, nàng an ủi :<br />
<br />
– Tường-Quy chết chìm như vậy là may. Trương Thanh làm phản, cả nhà tất bị chém. Liệu anh có can đảm chém Tường-Quy không ?<br />
<br />
Đọan nàng sai làm mâm cơm với đầy đủ lễ vật, đem ra bờ sông để Đào Kỳ tế Tường-Quy. Đào Kỳ đứng trước bàn thờ khói hương nghi ngút, tưởng nhớ lại khuôn mặt ôn nhu của Tường-Quy, hình ảnh buổi đầu tiên gặp gỡ ở Thái-hà trang, rồi cùng nhau du lịch cố đô Cổ-loa. Tới khi chàng đi Đăng-châu thăm nàng, bị đánh một chưởng, đâm một kiếm,... và chàng với Tường-Quy ở trên hoang sơn một đêm với nhau.<br />
<br />
Đợi anh khóc cạn hết nước mắt. Đào Phương-Dung mới kéo anh về huyện đường. Chàng sai đóng gông giải cả gia đình Trương Thanh và Lưu Chương về Luy-lâu.<br />
<br />
Phùng Vĩnh-Hoa nói :<br />
<br />
– Chị thấy ở đây chưa an, lòng người chưa khuất phục, thì chú em và cha chị làm sao làm việc được ? Muốn người các thuộc cấp Hán nghe lệnh phục tùng, phải cần đem chém hai người để thị oai.<br />
<br />
Thấy Đào Kỳ ngần ngừ, nàng lại nói :<br />
<br />
– Đức Khổng phu tử làm tướng nước Lỗ có ba ngày, ngài sai chém gian thần Thiều Chính-Mão. Đệ tử hỏi sao thầy là người nhân nghĩa mà giết người ? Ngài trả lời: Cần giết một người, để cứu vạn người. Vậy bây giờ cần giết hai tên Trương Thanh và Lưu Chương để làm gương cho bọn Hán quy phục Huyện-lệnh và Huyện-úy.<br />
<br />
Đào Kỳ đành chấp thuận. Chàng tập trung dân chúng ngoài chợ, kể tội hai tên Trương Thanh và Lưu Chương, sai chém đầu, đem bêu khắp các trang. Còn gia đình giải về Luy-lâu cho Nghiêm Sơn định đoạt.<br />
<br />
Trước khi cùng Đào Kỳ trở về Luy-lâu, Phùng Vĩnh-Hoa dặn cha :<br />
<br />
– Bố với chú Đào Thế-Hùng giờ đây như chân với tay, giờ con không còn phải lo lắng gì nữa. Chỉ khi nào có lệnh khởi binh. Bố phải ở nhà giữ huyện cho chắc, để mình sư thúc tiến quân lên Luy-lâu, bố đừng vì nóng lòng mà cả hai bỏ đi.<br />
<br />
Đào Kỳ cho lệnh Tôn Mạnh rút quân trước, rồi cùng Thiều-Hoa, Lê Chân, Vĩnh-Hoa, Giao-long nữ lên ngựa trở về Luy-lâu. Tới nơi đã thấy Nghiêm Sơn và Tô Định thân ra đón. Nghe Thiều-Hoa tường thuật chi tiết trận đánh, vương gật đầu tỏ ý hài lòng. Vương là một vị tướng không hiếu sát. Từ khi giúp Quang-vũ đánh dư trăm trận, nhưng bao giờ vương cũng lựa đường lối ít đổ máu nhất. Khi Thiều-Hoa thuật đến chỗ Tường-Quy và Trương Minh-Đức chết chìm mất xác, vương không tin :<br />
<br />
– Ta nghi tiểu sư đệ thả hai người trốn chạy thì đúng hơn. Địa vị ta là tiểu sư đệ chắc cũng thả cho họ.<br />
<br />
Nhưng khi nghe thuật Đào Kỳ ra sông tế Tường-Quy, Trưng Nhị nói :<br />
<br />
– Vậy thì không phải rồi, nếu Tam đệ thả họ đi, chắc y sẽ chịu lỗi với đại ca, chứ y không làm trò hề, bày cuộc tế vọng, lừa dối chúng ta đâu.<br />
<br />
Thiều-Hoa hiểu tính tình Đào Kỳ, vì hai chị em sống bên nhau đã lâu, nàng cũng đồng ý với Trưng Nhị.<br />
<br />
Nghiêm Sơn tưởng thưởng quân sĩ hữu công. Khi điểm danh sách tù binh không thấy tên Trương Thanh và Lưu Chương, chàng ngạc nhiên và được Thiều-Hoa cho biết, Đào Kỳ đã nghe lời Vĩnh-Hoa chém hai người giữa chợ để răn chúng. Vương nhìn Phương-Dung rồi nói với Thiều-Hoa :<br />
<br />
– Ở nhà ta với Dung muội cũng ước tính Phùng Vĩnh-Hoa sẽ chém hai tên này chứ không phải Đào Kỳ.<br />
<br />
Vương giao Tô Định xử lý tù nhân gia đình Lưu, Trương và dùng của cải hai tên này, để phủ tuất nạn nhân của cuộc chiến ở Đăng-châu. Xong chàng quen lệ hỏi :<br />
<br />
– Còn ai khiếu nại điều gì không ?<br />
<br />
Giao-long nữ Trần Quốc dơ tay :<br />
<br />
– Ai có công cũng được thưởng hết. Tiểu muội lặn dưới nước, đục thuyền, cắt dây buồm, bắt sống Lưu Chương sao không được vương huynh thưởng gì hết ?<br />
<br />
– Thế sư muội muốn ta thưởng gì ?<br />
<br />
–Tiểu muội muốn vương huynh gia phong cho làm đô đốc thủy quân !<br />
<br />
– Không được, việc quân không phải việc đùa. Tiểu sư muội mới có 17 tuổi sao lĩnh được chức Đô đốc? Đợi qua năm 18 tuổi thành người lớn đã !<br />
<br />
Giao-long vùng vằng không chịu :<br />
<br />
– Thế xưa kia, tổ sư phái Sài-sơn là Phù-đổng Thiên-vương mới có 7 tuổi đã làm nguyên soái đánh giăc Ân thì sao ? Nếu đợi 18 tuổi thì còn gì là đất nước. Và nếu đại ca bảo tiểu muội là trẻ con, sao đại ca lại dùng trẻ con đánh giặc ? Bất công, tiểu muội nhất định không chịu !<br />
<br />
Nghiêm Sơn đành dỗ :<br />
<br />
– Thôi được, đợi đại quân tới Quế-lâm, ta sẽ giao đội Hải quân cho sư muội chỉ huy. Trong cuộc viễn chinh này chỉ có hải quân Quế-lâm tham dự. Còn hải quân Nhật-nam, Giao-chỉ, Cửu-chân không dùng tới. Họ chỉ lo nhiệm vụ tải lương mà thôi.<br />
<br />
Ngày xuất quân đã đến. Các đoàn quân Hán từ khắp Giao-chỉ, Cửu-chân, Nhật-nam tề tựu về. Các huyện lệnh, huyện úy đều có mặt. Kỵ binh, bộ binh dàn ra. Ở giữa đã dựng sẵn một đài cao. Cờ xí ngợp trời.<br />
<br />
Nghiêm Sơn cỡi bạch mã duyệt binh, rồi vương lên đài :<br />
<br />
Một viên văn quan đọc hịch xuất quân cho ba quân tướng sĩ nghe. Nghiêm Sơn cũng vận khí đơn điền lớn tiếng dặn quân sĩ phải hết lòng, không được trộm cướp, hiếp đáp dân chúng, bất cứ ai vi lệnh sẽ bị chèm không tha. Sau đó ba hồi chiêng, trống vang lên, pháo lệnh nổ liên hồi. Một giáp sĩ dẫn con trâu ra chém trước cờ, lấy chậu hứng máu dâng lên Nghiêm Sơn. Vương quay qua Phương-Dung :<br />
<br />
– Phiền Quân-sư viết chữ cho !<br />
<br />
Phuông-Dung hoa tay cầm bút viết đại tự :  <br />
<br />
Lĩnh-nam vương, Tả tướng quân Nghiêm   <br />
<br />
Nghiêm Sơn ra lệnh để đầu trâu lên đàn tế cờ. Cuộc tế theo nghi thức xong, các tướng dẫn đoàn quân của mình ai về trại đó nghỉ, ngày mai lên đường sớm.<br />
<br />
Nghiêm Sơn ra lệnh :<br />
<br />
– Đào Kỳ lĩnh ấn Chinh-viễn đại tướng quân, thống lĩnh 3 Quân bộ, 3 Sư kỵ với các cao nhân theo trợ giúp là : Nam Hải nữ hiệp, Trường Yên nữ hiệp, Thiên-thủ viên hầu, cùng 3 sư muội là Trần Năng, Lê Chân, Phương-Dung. Tới Côn-minh dừng lại đợi ta.<br />
<br />
– Sư thúc Đinh Công-Thắng lĩnh ấn Hổ-oai đại tướng quân, thống lĩnh đạo Giao-chỉ gồm : 4 Quân bộ, 3 Sư kỵ đi cánh thứ nhì. Phụ giúp có các cao nhân Khất đại phu, Lê Ngọc-Trinh, Quế-Hoa, Quỳnh-Hoa.<br />
<br />
– Sư thúc Triệu Anh-Vũ lĩnh ấn Chinh-di đại tướng quân, thống lĩnh đạo Cửu-chân gồm : 3 Quân bộ, 3 Sư kỵ. Cao nhân theo trợ giúp gồm : Nữ hiệp Phùng Vĩnh-Hoa, Đàm Ngọc-Nga và Vương phi Hoàng Thiều-Hoa.<br />
<br />
– Kỳ dư tất cả đi theo đạo trung quân do vương thống lĩnh !<br />
<br />
Trời tháng mười, gió heo may len lỏi trong sương mai. Cây cỏ tiêu sơ. Miền Bắc Giao-chỉ lạnh buốt xương. Đào Kỳ căn dặn các tướng giữ kỷ luật nghiêm minh, cấm nhũng nhiễu dân chúng. Đi được hai ngày, quân đến một thung lũng ở giữa hai dãy núi hùng vĩ, cao chót vót. Phương-Dung nhìn núi cao, rừng già hỏi :<br />
<br />
– Không biết đây là đất Giao-chỉ hay đã sang Quế-lâm rồi ?<br />
<br />
Trần Năng chỉ ngọn núi cao chót vót :<br />
<br />
– Qua rặng núi này, tới một con sông nữa là địa phận Tiên-yên, nơi hành hiệp của đệ tam sư thúc ? Vì vậy người có mỹ hiệu là Tiên-yên nữ hiệp. Suốt dãy Đông-triều bị ảnh hưởng của Cấm-sơn hay Ma tần lĩnh. Cách đây mấy trăm năm Trung-tín hầu Cao Nỗ tục danh Ông Nồi phá quân Đồ Thư, giết hơn 50 vạnquân Tần ở đây. Tương truyền quân Tần bị vây hãm, rồi bị Hầu dùng hỏa công thiêu chết trong khe núi. Xác chết bốc mùi thối hơn trăm dặm, do đó khi gió lùa đi từ Cấm-sơn ra gây nên bệnh thời khí. Dân chúng dị đoan cho rằng hồn quân Tần ra hại người, nên lập miếu thờ và gọi Cấm-sơn là Ma-tần lĩnh.  <br />
<br />
<i>Ghi chú.<br />
<br />
Địa phận này, ngày nay thuộc vùng Chi-lăng.  <br />
</i><br />
Đi được một lát, Lê Chân chỉ ngôi miếu lớn gần đường, Đào Kỳ và mọi người vào miếu. Dân chúng đang đốt nhang vái xì xụp. Họ thấy quan binh thì tránh dạt sang bên có vẻ sợ hãi. Chợt có người nhận được mặt Lê Chân reo lên :<br />
<br />
– Đông-triều nữ hiệp ! Thì ra là người. Người đi đâu đến đây ?<br />
<br />
Lê Chân phủ dụ họ và hỏi han sự tình. Dân chúng đồng nói :<br />
<br />
– Cách nay mấy ngày, gió chướng từ Ma Tần lĩnh thổi qua, cả vùng bị bệnh, chết không biết bao nhiêu mà kể. Chúng tôi phải cúng quảy những con ma Tần. Khổ lắm cô ơi ! Bọn ma này hoành hành từ lâu đời rồi.<br />
<br />
Đào Kỳ hỏi Trần Năng :<br />
<br />
– Hùng phu nhân, người thử xem họ bịnh gì,<br />
<br />
Trần Năng đến chẩn mạch, xem lưỡi hỏi han mấy con bệnh hiện diện, một lát trở lại nói :<br />
<br />
– Tôi xem mạch, thấy Phù mà xác, lưỡi khô, bợn lưỡi vàng, mồ hôi xuất, người sốt, mắt đỏ, tiện bí. Rõ ràng bị Phong nhiệt làm cảm mạo, chứ không có ma Tần, ma Hán nào làm ra cả. Muốn chữa trị không khó đâu !<br />
<br />
Lê Chân hành hiệp ở vùng này nhiều năm, nàng coi dân chúng như tay chân ruột thịt, vội nối với Trần Năng :<br />
<br />
– Sư muội! Trước đây nhiều lần chị muốn phá ngôi đền này nhưng sợ dân chúng phản đối. Nếu em chữa trị khỏi bệnh cho họ, chị có cách làm cho dân chúng tự động phá miếu.<br />
<br />
– Muốn giải Phong nhiệt, phải dùng Ma hoàng phát mồ hôi. Mồ hôi ra Phong nhiệt được giải. Thêm hạnh nhân cho bớt ho, bớt sưng cổ. Cam thảo làm vị thuốc hòa các vị khác với nhau. Sau cùng Thạch cao để hạ nhiệt xuống. Sở dĩ có người chết vì Phong nhiệt nhập bì mao làm bế tắc phế khí, rồi đưa đến mũi nghẹt, hầu sưng, hơi thở bế tắc, nhiệt độc nhập tim, làm tim ngưng đập. Vì vậy dùng Ma hoàng, Thạch cao, Hạnh nhân giải Phong nhiệt, sẽ khiến Phế khí thông được với bì mao. Bệnh nhân khạc ra đờm được thì bệnh khỏi.<br />
<br />
Bệnh Phong nhiệt mà Trần Năng nói đó ngày nay gọi là Cúm. Theo Tây-y là chứng grippe do siêu vi trùng gây ra. Với y học Việt-Hoa ngày xưa, bài thuốc của Trần Năng chữa trị có kết quả vẹn toàn.<br />
<br />
Trong quân Hán tại Lĩnh-Nam có nhiều thầy thuốc đi theo, họ có sẵn những vị thuốc căn bản thường dùng. Trần Năng cho gọi quân y sĩ lấy một ít, dân chúng tìm hái những vị có sẵn. Nàng sai lấy thùng lớn, nấu thuốc cho dân chúng uống. Vài khắc sau, những người khỏe, bệnh nhẹ, khạc ra đờm hết ho, hết sưng cổ. Những người mê man tỉnh dần nhiệt hạ, ăn uống biết ngon.<br />
<br />
Đào Kỳ căn dặn chư tướng tiếp tục đưa quân lên đường, còn chàng ở lại với bộ chỉ huy chờ trị bệnh cho dân. Chiều Lê Chân nói :<br />
<br />
– Chúng ta nên đi thăm Ma Tần lĩnh, để biết dấu vết chiến trường cổ, nơi Trung-tín hầu đánh tan quân Tần.<br />
<br />
Mọi người theo Lê Chân vào một khu lòng chảo, thấy trê góc núi có một tấm bia đá rất lớn, tạc một bài ký. Phương-Dung lớn tiếng đọc :<br />
<br />
Đại phàm, vạn sự ở thế gian đều do thượng đế sắp đặt. Xưa kia vua Đế Minh cháu ba đời vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ-lĩnh gặp Tiên nữ, kết hôn với nhau, sinh được Thái-tử đặt tên là Lộc Tục. Vua Đế Minh ở với Tiên ít lâu rồi trở về phương Bắc. Ngài truyền các quan lập đàn tế trời rồi thề rằng :<br />
<br />
"Ta nhất sinh có nhiều cung tần mỹ nữ, nhưng chỉ sinh có một Thái tử. Sau lại kết hôn với Tiên nữ ở Động-đình hồ mà có thêm Lộc Tục. Vậy ta phong Thái tử làm vua phương Bắc đến núi Ngũ-lĩnh. Từ núi Ngũ-lĩnh về Nam, gọi là Lĩnh-nam, phong cho Lộc Tục làm vua. Trước đất trời nguyện rằng : Nam, Bắc cương thổ có khác. Nam không xâm Bắc. Bắc không chiếm Nam. Kẻ nào phạm lời nguyền thì chết dưới đao thương ".<br />
<br />
Kể từ đấy thiên hạ chia đôi. Bắc do vua Đế Nghi cai trị. Nam do Thái tử lên ngôi, hiệu là Kinh-dương vương. Nước Lĩnh-nam phía Bắc tới Động-đình hồ, phía Nam giáp với nước Hồ-tôn, phía Tây giáp với Ba Thục, Đông giáp biển Nam Hải. Kinh-dương vương kết hôn với con gái của Động-đình quân là Long nữ đẻ ra Sùng Lãm. Thái tử Sùng Lãm kế tục ngôi vua lấy hiệu là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân kết hôn với Công chúa Âu Cơ con vua Đế Lai, sinh được trăm con. Lạc Long Quân truyền ngôi cho con trưởng làm vua, hiệu là Hùng vương, đặt tên nước là Văn-lang. Lại phong 99 con mỗi người làm chủ một ấp, vì vậy đất Lĩnh-nam mới có trăm họ. Đó là nguồn gốc Bách-việt vậy.<br />
<br />
Nước Văn-lang chia làm 15 bộ :<br />
<br />
Văn-lang Tân-hưng<br />
<br />
Lục-hải Giao-chỉ<br />
<br />
Hoài-hoan Châu-diên<br />
<br />
Vũ-định Ninh-hải<br />
<br />
Cửu-chân Cửu-đức<br />
<br />
Phú-lộc Vũ-ninh<br />
<br />
Dương-tuyền Nhật-nam<br />
<br />
Việt-thường<br />
<br />
Nước Văn-lang truyền được 88 đời vua. Kể từ năm Nhâm-tuất, Kinh-dương vương lập quốc đến năm Quí-mão bị vua An-dương bản triều chinh phật vong quốc dài 2622 năm. Danh hiệu 88 đời coné lưu truyền được 18 đó là :<br />
<br />
1. Lục-dương vương (Kinh-dương vương)<br />
<br />
2. Hùng-hiển vương (Lạc-long quân)<br />
<br />
3. Hùng-quốc vương<br />
<br />
4. Hùng-diệp vương<br />
<br />
5. Hùng-hy vương<br />
<br />
6. Hùng-huy vương<br />
<br />
7. Hùng-chiêu vương<br />
<br />
8. Hùng-vi vương<br />
<br />
9. Hùng-định vương<br />
<br />
10. Hùng-nghi vương<br />
<br />
11. Hùng-trinh vương<br />
<br />
12. Hùng-vũ vương<br />
<br />
13. Hùng-việt vương<br />
<br />
14. Hùng-anh vương<br />
<br />
15. Hùng-triệu vương<br />
<br />
16. Hùng-tạo vương<br />
<br />
17.Hùng-nghi vương<br />
<br />
18. Hùng-tuyên vương<br />
<br />
Năm Đinh-hợi, niên hiệu An-dương vương thứ 44, Tần-thủy hoàng sai tướng Đồ Thư mang 500 ngàn quân sang đánh Bách-việt, chiếm đất phía Nam Ngũ-lĩnh. Đặt ra 3 quận Quế-lâm, Nam Hải và Tượng-quận. Vua An-dương cử ta đem quân chống giặc Tần. Tháng 11 năm ấy giết Đồ Thư, phá tan quân Tần ở chỗ này.<br />
<br />
Than ôi ! Tần-thủy hoàng diệt 800 chư hầu Trung-nguyên, làm vua một vùng đất rộng chưa cho là đủ, quên lời thề tổ tiên, xâm chiếm Lĩnh-nam, nên Đồ Thư mới bị giết.<br />
<br />
Ta nhân ngày lành tạc bia này cho đời sau biết.<br />
<br />
Niên hiệu An-dương thứ 45, năm Mậu Tuất tháng 3 ngày rằm làm bia này.<br />
<br />
Bình-bắc đại tướng quân tước Trung-tín hầu Vũ Bảo-Trung ghi.  <br />
<br />
Trần Năng tính đốt ngón tay nói :<br />
<br />
– Tính từ khi lập quốc đến đời vua An-dương vương là 2.622 năm. Vua An-dương ở ngôi được 50 năm thì bị Triệu Đà chiếm mất. Từ ngày chúng ta mất nước đến nay là 243 năm. Như vậy nước Lĩnh-nam chúng ta lập quốc được 2.915 năm.<br />
<br />
Lê Chân ít đọc sách, không thạo địa dư hỏi :<br />
<br />
– Nước Hồ-tôn là nước nào vậy ?<br />
<br />
Thiên-thủ viên hầu đáp :<br />
<br />
– Tiếp giáp với phía Nam của Nhật-nam. Bây giờ đổi quốc hiệu là Chiêm-thành. Nước này có nền văn hiến không phải tầm thường. Võ công của họ lấy dương cương làm căn bản.<br />
<br />
Đào Kỳ thở dài :<br />
<br />
– Nước Lĩnh-nam chúng ta vốn có cương thổ, trước kia từ hồ Động-đình phía Nam núi Ngũ-lĩnh. Nhà Tần sang đánh, chúng ta phải lùi về vùng Giao-chỉ ngày nay. Đồ Thư chiếm đất đai phía Bắc lập ra Quế-lâm, Tượng-quận, Nam Hải giao cho Triệu Đà trấn nhậm. Khi Triệu Đà khởi binh diệt vua An-dương chiếm Âu-lạc. Lĩnh-nam lại được thống nhất. Không biết bây giờ chúng ta phục quốc, chỉ đòi lại Quế-lâm, Cửu-chân và Giao-chỉ. Hay là đòi hết đất đai từ phía Nam núi Ngũ-lĩnh ?<br />
<br />
Lê Chân khảng khái rút kiếm chém tảng đá bể đôi nói :<br />
<br />
– Phải chiếm lại hết ! Một tấc đất của tổ tiên cũng không bỏ.  <br />
<br />
– Nhưng sư tỷ không biết đó thôi. Từ hơn hai trăm năm nay người phương Bắc xuống lập nghiệp tại vùng Nam Hải, Tượng-quận. Còn người Việt ta bỏ xuống Giao-chỉ, Quế-lâm. Nay muốn chiếm lại đất e khó khăn lắm.<br />
<br />
Trần Năng kiên quyết :<br />
<br />
– Sư thúc, một tấc đất cũng phải đòi. Người Hán đến Tượng-quận, Nam Hải đồng hóa người Việt, nay ta cứ đòi rồi đồng hóa lại họ chứ có gì đâu ?<br />
<br />
Nam Hải nữ hiệp nhìn Trường Yên đại hiệp lẩm nhẩm gật đầu, tỏ ý thông cảm với nhau. Bởi thế hệ của bà đã trên 60 tuổi, sống lâu dài trong tăm tối vong quốc. Bị người Hán đô hộ khổ nhục tưởng không sống được. Thế hệ bà, mọi người chỉ mong người Hán để yên thân, nay hy vọng phục quốc lóe lên, việc phục hồi Lĩnh-nam, chỉ trong một sớm, một tối. Đám trẻ lại muốn đi xa hơn, tức là đòi lại vùng đất phía Nam Ngũ-lĩnh. Bà thấy lòng bừng bừng như uống rượu say, mỉm cười sung sướng một mình. Lê Chân liếc mắt thấy hôm nay nét mặt sư phụ tươi hồng trẻ hẳn lại hàng chục tuổi. Nàng ngạc nhiên :<br />
<br />
– Sư phụ ! Không hiểu sau hôm nay sư phụ lại cao hứng thế ? Sư phụ có thể cho chúng đệ tử biết không ?<br />
<br />
Nam Hải nữ hiệp mỉm cười :<br />
<br />
– Sư phụ thấy con chém đá, Trần Năng lại lập chí đòi đồng hóa lại người Hán, thì biết chúng con hơn chúng ta nhiều, vì vậy ta vui lắm.<br />
<br />
Sau hai ngày, dân chúng hầu hết đã khỏi bệnh. Ba vị trang trưởng thân đến tạ ơn Trần Năng, Đào Kỳ và Lê Chân.<br />
<br />
Phương-Dung nói với Lê Chân và ba vị trang trưởng :<br />
<br />
– Đông-triều nữ hiệp và ba vị trang trưởng ở vùng này sao lại để cho tên giăc bại trận Đồ Thư làm hại dân chúng ? Vừa qua có hàng chục người chết vì chúng, mấy trăm người bệnh hoạn. Nay Hùng phu nhân ra tay cứu chữa khỏi, như vậy trận đấu giữa Hùng phu nhân và đám ma Tần đã rõ. Vậy nữ hiệp còn đợi gì mà không đánh cho chúng mấy roi để lần sau không còn hoành hành hại người ?<br />
<br />
Các trang trưởng nghe vậy mừng lắm. Họ cho rằng nếu trừ tiệt được đám cô hồn Đồ Thư, để khỏi phải cúng tế như một vị thần thì sung sướng biết mấy.<br />
<br />
Lê Chân cùng ba vị trang trưởng tụ tập dân chúng trước bàn thờ Đồ Thư. Mở cửa thấy hai con ngựa gỗ, trên có hai tướng cầm đao oai phong lẫm liệt. Ở giữa bệ Đồ Thư ngồi trên ngai lưng đeo kiếm. Lê Chân lớn tiếng nói với Đào Kỳ :<br />
<br />
– Trước kia Trung-tín hầu Vũ Bảo Trung giết Đồ Thư tại đây, Trung-tín hầu là tổ sư sáng lập phái Cửu-chân. Vậy hiền đệ là đệ tử phái Cửu-chân hãy thay ngài đánh chúng vài chưởng !<br />
<br />
Đào Kỳ lùi lại vận khí, phát một chiêu trong Thiết-kình phi chưởng đánh ngay tượng Đồ Thư. Bình một tiếng tượng tan nát. Đào Kỳ đánh tiếp hai chưởng, đập tan nát cả người lẫn ngựa hai viên tướng hầu. Mọi người thất kinh hồn vía vì thấy máu văng khắp đền tanh hôi chịu không được.<br />
<br />
Lê Chân chỉ vào pho tượng nát vụn, đầm đìa máu quát :<br />
<br />
– Thế là chúng mày chết lần nữa. Từ nay không được hại người.<br />
<br />
Phương-Dung đề nghị dân chúng tạc tượng Trung-tín hầu thờ để trấn áp tên giặc Đồ Thư. Ba vị trang trưởng và dân chúng hoan hỉ làm theo.<br />
<br />
Hôm sau mọi người lên đường, Đào Kỳ thắc mắc hỏi Lê Chân :<br />
<br />
– Sư tỷ! Hôm qua sư tỷ bảo tôi phóng chưởng đánh tượng Đồ Thư, tôi làm theo. Không ngờ bên trong lại có máu là nguyên cớ gì ?<br />
<br />
Lê Chân cười khúc khích :<br />
<br />
– Trước đó tôi đã cho người đổ máu lợn vào bụng tượng. Lúc Đào đệ phóng chưởng đánh tượng, máu văng tung tóe, dân chúng càng tin hơn, chứ có gì lạ đâu !<br />
<br />
Phải mất ba ngày đường nữa, đoàn quân mới tới biên giới Quế-lâm. Từ xa Đào Kỳ đã thấy ba vị võ tướng cỡi ba tuấn mã đứng đầu đoàn thiết kỵ uy vũ, phía sau dân chúng tụ họp đông đủ chờ đón. Lại gần thì ra Thái-thú Hà Thiên, Đô-úy Đặng Thi-Kế vá Đô sát Trương Đằng-Giang.<br />
<br />
Hà Thiên là tam hiệp trong Hợp-phố lục hiệp, hôm Nghiêm Sơn phong Hà làm Thái-thú, Đào Kỳ thấy Hà Thiên miễn cưởng nhậm chức Thái-thú theo lệnh Nghiêm Sơn. Chàng nói riêng với ông :<br />
<br />
– Tam ca đừng lấy việc phải gò ép nơi quan trường, không được tiêu dao làm buồn. Nghiêm đại ca là người suy tính thâm sâu vô hạn. Đại ca bao giờ cũng trọng ý riêng của Tam ca, từ xưa chưa bao giờ làm trái ý. Nay ép Tam ca làm Thái-thú chắc có lý do quan trọng lắm. Em biết được lý do đó. Tam ca là người nghĩa hiệp ưa cứu kốn phò nguy, vậy mà đất Quế-lâm là quê hương của Tam ca. Từ mấy trăm năm nay người Việt bị coi như chó lợn. Nay Nghiêm đại ca thân là Lĩnh-nam vương không thể trực tiếp thay đổi cục diện Quế-lâm, phải nhờ đến Tam ca là người khảng khái, lại là con dân Việt không sợ người Hán; may ra cục diện Quế-lâm đổi khác đi. Gia dĩ bên cạnh Tam ca còn có Đô-sát, Đô-úy là người đồng tâm. Chắc Tam ca không sợ gì bọn quan lại người Hán quen đè đầu, đè cổ dân Việt.<br />
<br />
Hà Thiên nghe Đào Kỳ biện luận, mặt tươi hẳn lên, hăm hở trở về Quế-lâm nhận chức Thái-thú. Bây giờ gặp lại Đào Kỳ, cả hai mừng mừng, tủi tủi.<br />
<br />
Đào Kỳ là Chinh-viễn đại tướng quân, thống lĩnh binh mã toàn cõi Lĩnh-nam, chức lớn hơn Thái-thú, Đô-sát, Đô-úy nhiều. Nhưng thúc phụ chàng với Đặng Thi-Kế là bạn thân. Trương Đằng-Giang lại là sư thúc của Phương-Dung, còn Hà Thiên là sư huynh của Nghiêm Sơn… nên chàng vẫy mọi người xuống ngựa tiến lại ra mắt ba người.<br />
<br />
Trần Năng là tiểu đệ tử của Khất đại phu, được ông cưng chiều đã quen, tính lại tinh nghịch, nàng vừa làm lễ ra mắt Đặng Thi-Kế, vừa nói :<br />
<br />
– Sư huynh, từ hôm sư huynh làm Đô-úy Quế-lâm đến giờ, việc quan bận rộn mà em thấy sư huynh trẻ lại đến mười tuổi. Không biết sư huynh có thêm chị dâu mới người Quế-lâm nào không ?<br />
<br />
Thời bấy giờ ở tuổi 40-50 đã đạo mạo, nghiêm túc lắm. Với tuổi đó, họ là ông nội, ông ngoại một đàn cháu. Huống hồ Đặng Thi-Kế vang danh thiên hạ về võ công, về hiệp nghĩa. Ông lại là thân phụ Đặng Thi-Sách, lãnh tụ số một Lĩnh-nam chủ trương phản Hán phục Việt. Thế mà Trần Năng cũng trêu ông. Nhưng Trần Năng là lương y, nàng đùa, mà là sự thật. Đặng Thi-Kế quả trẻ ra gần 10 tuổi. Suốt mấy năm bị sư thúc Lê Đạo-Sinh cầm tù. Ông buồn vì tù thì ít, buồn vì sư thúc tham danh vọng, mưu đưa Lĩnh-nam làm tôi tớ Hán thì nhiều. Khi Đào Kỳ cứu ông ra, được biết con và dâu là Trưng Trắc tiếng tăm vang lừng thiên hạ vì uy tín phản Hán phục Việt. Tự nhiên ông cảm thấy có bổn phận nghe lệnh những người cầm đầu như Khất đại phu, Nam Hải nữ hiệp đã đành. Ông sẵn sàng nghe lệnh cả Trưng Nhị, Phương-Dung. Đặng Thi-Sách thố lộ với ông, lợi dụng được phong chức tước, Nghiêm Sơn cắt cử anh hùng Lĩnh-nam nắm lấy các chức vụ Thái-thú, Đô-úy, Đô-sát để chuẩn bị khởi nghĩa nếu cuộc cầu phong với Quang-vũ không thành. Vì vậy ông sẵn sàng hy sinh danh tiếng để nhận cái chức Đô-úy Quế-lâm. Ngay khi tới Quế-lâm, ông cùng Hà Thiên với Trương Đằng-Giang lấy lý do Nghiêm Sơn vừa được tấn phong, ba người ban 5 điều lệnh :<br />
<br />
– Thả tù,<br />
<br />
– Tha thuế những người còn thiếu,<br />
<br />
– Những người nghèo khổ, nay phải bán thân làm nô lệ, nay được giải phóng về với gia đình.<br />
<br />
– Ấn định lại mức tô cho tá điền.<br />
<br />
– Bình đẳng giữa người Hán và người Việt.<br />
<br />
Từ trước đến giờ theo luật Tiêu Hà, nông dân tá điền phải nộp một nửa hoa màu cho điền chủ. Nay ba người cải tổ lại : Tất cả nông sản thu được, sau khi trả công cày bừa, gặt hái, tát nước, phân bón và thuê trâu, mới đem chia đôi, chủ một nửa, nông dân một nửa. Trước đó công thợ người Việt chỉ bằng nửa người Hán, đã thế người Việt không được quyền làm sở hữu chủ ruộng đất, chỉ có quyền làm tá điền. Nay do ban hành chính sách mới, người Việt như mới được làm người, nên Đặng Thi-Kế cảm thấy khoan khoái trong lòng, ông trẻ lại vì vậy.<br />
<br />
Sau khi làm lễ ra mắt xong, Chinh-viễn đại tướng quân ra lệnh đóng quân ngoài thành, rồi cùng mọi người trở vào Phiên-ngung, thủ phủ Quế-lâm, dọc đường Đặng Thi-Kế hỏi Trần Năng :<br />
<br />
– Tiểu sư muội, sư thúc đi theo đạo quân nào ?<br />
<br />
Nghe hỏi đến sư phụ, nàng vội lập nghiêm :<br />
<br />
– Đa tạ sư huynh, sư phụ em đi trong đạo quân của Đinh Công-Thắng đại hiệp, có lẽ hai ngày nữa mới tới.<br />
<br />
Vào trong Phiên-ngung, đã thấy đủ mặt quần hào và 3 tướng quân chỉ huy 3 Quân-bộ cùng 3 tướng chỉ huy 3 Sư-kỵ chào đón. Đó là đạo Quế-lâm.<br />
<br />
Quân đội thời Tây-hán chia làm hai loại : Một là quân của Thiên-tử do các tước vương, công, hầu chỉ huy. Đó là đạo quân trừ bị quốc gia. Khi Nghiêm Sơn được lệnh kinh lược Lĩnh-nam, tuy quyền lớn nhưng không có quân trong tay. Nên các Thái-thú coi như không có, muốn làm gì thì làm. Sau 8 năm với tài thao lược, vương gom hết binh quyền Lĩnh-nam về một mối và giao đệ nhất hiệp Lưu Nhất Phương chức Uy-viễn đại tưống quân thống lĩnh. Mới rồi Quang-vũ cần đánh Thục, gia phong vương tước, quyền Tả tướng quân, được điều động binh mã khắp thiên hạ. Vương đã có sẵn binh mã Hán-trung, Trường-an do Ngô Hán chỉ huy; binh mã Kinh-châu, Ích-châu, Lương-châu do Đặng Vũ, Sầm Bành chỉ huy. Tất cả hiện đang cầm chân quân Thục. Vương lấy binh mã Lĩnh-nam trao quyền chỉ huy cho Đào Kỳ. Binh mã Lĩnh-nam lại được vương chia làm 6 đạo. Ba đạo đã được vương cử người làm đại tướng quân thống lĩnh :<br />
<br />
– Đạo Nhật-nam, Long-nhượng đại tướng quân thống lĩnh 3 Quân bộ, 3 Sư kỵ.<br />
<br />
– Đạo Giao-chỉ, Hổ-oai đại tướng quân Đinh Công-Thắng thống lĩnh 4 Quân Bộ, 4 Sư kỵ.<br />
<br />
– Đạo Cửu-chân do Chinh-di đại tướng quân Triệu Anh-Vũ thống lĩnh 3 Quân bộ, 3 sư kỵ. Triệu Anh-Vũ là sư thúc của Nghiêm Sơn, vốn dòng dõi Triệu Đà. Sợ nhân tâm bất phục, vương cử đích thân vương phi Hoàng Thiều-Hoa đi theo đạo quân này cùng Đàm Ngọc-Nga và Phùng Vĩnh-Hoa.<br />
<br />
Chỉ còn quân ba quận Nam Hải, Quế-lâm, Tượng-quận vẫn còn trực thuộc Lưu Nhất-Phương, chờ ngày hội quân ở Quế-lâm mới quyết định tướng chỉ huy.<br />
<br />
Tất cả bá quan văn võ đều biết Đào Kỳ được phong Chinh-viễn đại tướng quân, thống lĩnh quân 6 quận Lĩnh-nam theo Lĩnh-nam vương tăng viện Trung nguyên phạt Thục. Hơn nữa chàng lại là em của vương phi, võ công thao lược gồm tài. Vì vậy các tướng chỉ huy các Quân, Sư đều kính cẩn ra mắt chàng. Đào Kỳ hòa nhã hỏi thăm quân tình, nên được các tướng kính phục.<br />
<br />
Thái-thú Hà Thiên mời Đào Kỳ về dinh, cả hai đàm đạo rất tương đắc. Hà Thiên là Tam hiệp trong Hợp-phố lục hiệp, đệ tử của thân phụ Nghiêm Sơn là Nghiêm Bằng. Từ thiếu thời Hà Thiên theo sư phụ hành hiệp, cùng với 5 huynh đệ lừng danh Hợp-phố lục hiệp. Khi Nghiêm Bằng lâm chung định truyền chức chưởng môn cho Đệ nhất hiệp Lưu Nhất-Phương là đại đệ tử. Giữa lúc ấy nhũ mẫu của Nghiêm Sơn đến thăm bệnh. Bà đuổi hết con cháu, cùng đệ tử ra ngoài, để đàm thoại riêng với ông. Hơn một giờ sau, Nghiêm Bằng gọi con cháu, đệ tử tới để di chúc truyền chức chưởng môn Quế-lâm cho Nghiêm Sơn. Ông lại dặn riêng hai sư đệ là Lương Hồng-Châu và Triệu Anh-Vũ cùng Hợp-phố lục hiệp rằng :<br />
<br />
– Khi ta qua đời, các sư đệ, các đệ tử phái Quế-lâm nhất thiết phải nghe lời Nghiêm Sơn. Nếu thấy y hành động phản dân, hại nước, khi sư diệt tổ, cũng đừng vội chống đối. Vì y lãnh một di mạng cơ mật do ta truyền lại, y phải hành động như thế để đi đến thành công, rạng danh môn phái. Đừng thấy y nhỏ tuổi mà coi thường.<br />
<br />
Nghiêm Sơn vốn mồ côi mẹ từ bé. Vương được nhũ mẫu nuôi nấng, dạy dỗ còn hơn con đẻ. Vương kính yêu nhũ mẫu và tuyệt đối nghe lời bà. Một hôm thấy bà ôm mặt khóc thảm thiết, vương hỏi nguyên do, bà chỉ lắc đầu không trả lời. Ba ngày sau, bà gọi vương đến nói chuyện suốt một ngày.<br />
<br />
Sau đó, Nghiêm Sơn mời Hợp-phố lục hiệp tới và yêu cầu Lục-hiệp cùng chàng đi Trường-sa cứu Thế-tử Lưu Tú con của Trường-sa vương Lưu Hiệp.<br />
<br />
Bảy người lên đường, cứu được hai anh em Lưu Tú. Nghiêm Sơn lại kết huynh đệ với Lưu, giúp Lưu khởi binh ở Côn-dương, đoạt 5 quận, chiếm Kinh-châu, diệt Vương Mãng thắng Xích Mi. Đến đây chỉ còn cần bình định vài sứ quân. Nghiêm Sơn bàn với Quang-vũ để chàng kinh lược Lĩnh-nam gây thanh thế. Quang-vũ nghe, phong chàng làm Lĩnh-nam công. Hợp-phố lục hiệp là người Việt không muốn lãnh quan chức Hán triều, viện tinh thần hiệp nghĩa không muốn bị gò bó, nhưng sẵn sàng theo Nghiêm Sơn bình định đất Lĩnh-nam. Hai tháng trước Nghiêm Sơn được Quang-vũ gia phong vương tước, điều động binh mã phạt Thục. Vương nghĩ phải giữ vững căn bản là Lĩnh-nam nên quyết định cử Lưu Nhất-Phương làm Đại-tư mã Lĩnh-nam, lĩnh chức Uy-viễn đại tướng quân, tước Long-biên hầu. Còn 5 sư đệ của Lưu Nhất-Phương được cử làm Thái-thú 5 quận Quế-lâm, Tượng-quận, Cửu-chân, Nhật-nam, Nam Hải. Cả sáu anh em Hợp-phố lục hiệp nhất quyết từ chối. Nghiêm Sơn phải đem di chúc của cha ra mới thuyết phục được Lục-hiệp. Cả Lục-hiệp cùng nhớ lại rằng khi sư phụ cử Tiểu sư đệ làm chưởng môn, đã để di chúc kỳ lạ bắt mọi người tuân lệnh chàng, dù chàng có hành động phản quốc, hại dân, đều biết rằng chàng được ủy thác một sứ mạng gì lớn lắm.<br />
<br />
Tam hiệp Hà Thiên nhờ Đào Kỳ phân tích mới hơi biết sứ mạng của Nghiêm Sơn do sư phụ giao phó. Bây giờ chàng mới biết sư phụ nhìn xa trông rộng.<br />
<br />
Thời An-dương Quế-lâm vốn thuộc lãnh thổ Âu-lạc. Khi Đồ Thư chiếm lĩnh, giao cho Triệu Đà cai trị. Triệu Đà là người Trung-nguyên, y tham vọng muốn lập cơ nghiệp lâu dài, y trở về Trung-nguyên quy tụ dân trộm cắp, du thủ, du thực đem qua Quế-lâm cấp phát ruộng đất cho chúng làm ăn. Y chỉ áp dụng luật pháp nhà Tần cho người Hán, còn người Việt y coi như man di, mọi rợ. Người Hán muốn đánh thì đánh, muốn giết thì giết. Bọn trộm cắp người Hán được thể đàn áp người Việt khổ sở đến không sống nổi. Từ ngày ấy, dân Lĩnh-nam chia làm hai, thù hận, chém giết lẫn nhau. Khi Triệu Đà phản Hán, thành lập nước riêng, y cho dân Việt và Hán bình đẳng. Nhưng sau khi họ Triệu bị diệt, Lĩnh-nam lại trở về chế độ cũ : dân Hán là người cai trị, dân Việt là người bị trị, đời đời thù hận nhau.<br />
<br />
Hà Thiên kể Đào Kỳ nghe : Khi chàng cùng Đặng Thi-Kế, Trương Đằng-Giang được cử về làm Thái-thú, Đô-sát, Đô-úy quận Quế-lâm, bọn quan lại và các phú gia, địa chủ người Hán thấy cả ba là người Việt tìm cách chống đối.<br />
<br />
Những ngày đầu, Hà Thiên mời Đặng Thi-Kế và Trương Đằng-Giang tìm cách chỉnh đốn guồng máy cai trị, cùng dung hòa mối thù giữa hai sắc dân Hán, Việt. Trương Đằng-Giang là đại quân tử, chủ trương của ông rõ ràng : Phải bình đẳng giữa Hán và Việt. Người Hán có kẻ xấu, người tốt, cũng như Việt có người quân tử, kẻ tiểu nhân. Theo ông, thủ phạm gây ra thù hận giữa Việt-Hán là bọn Hán lưu manh thiển cận, hai nước lân bang. Chúng nghĩ mình là dân giàu trong nước mạnh, có quyền ăn hiếp nước yếu. Ngược lại, có một đám người Việt thiển cận cũng không kém, chúng vơ đũa cả nắm thù hận tất cả mọi người Hán. Cứ như thế đời đời hai dân tộc Việt-Hán thù hận, chém giết nhau đến bao giờ mới hết ? Ông có rất nhiều bạn Hán cũng đồng ý với ông phải trừng trị những người Hán bạo tàn, lưu manh. Ông ngỏ ý đó với Hà Thiên và Đặng Thi-Kế. Cả ba cùng một nhận định. Họ quyết định cách chức ba huyện lệnh không chịu thi hành cải cách, tiếp tục kỳ thị, tham ô, tàn bạo và đem xử chém. Khi 3 huyện lệnh bị tống giam, ngay chiều hôm đó phủ Thái-thú nhận được danh thiếp của bẩy huyện lệnh khác, cùng 50 phú gia, điền chủ người Hán xin yết kiến, đòi ân xá cho chúng.<br />
<br />
Thấy người Hán phản ứng mạnh, chàng bàn định cùng Đặng, Trương hai người rồi quyết định : Gửi phúc bẩm về Lĩnh-nam vương xin chỉ thị. Hai ngày sau sứ giả của Lĩnh-nam vương đem lệnh tới : Xử chém 3 huyện lệnh, tịch thu tài sản sung công quỹ. Chính sứ giả sẽ chứng kiến cuộc xử trảm.<br />
<br />
Bọn tham quan Hán kinh hoàng không dám chống đối cải cách của ba người nữa. Tuy nhiên, mầm chống đối vẫn âm ỉ chưa tàn. Ba người lo lắng tìm cách giải quyết sao cho êm đẹp, vì dân Quế-lâm phân nửa là người Hán, họ nắm hết các chức huyện lệnh, huyện úy, cùng các chức quan trọng trong phủ Thái-thú, Đô-úy,Tế-tác. Ngoài dân chúng, họ là những điền chủ giàu có thế lực, cùng là thương gia tiền rừng, bạc biển. May thay lúc đó có công thư khẩn cấp rằng lệnh của Tả đại tướng quân sẽ hội binh tại Quế-lâm ban lệnh đánh Thục. Ba đạo Nhật-nam, Giao-chỉ, Cửu-chân sẽ hợp với đạo Quế-lâm cùng xuất phát. Riêng hai đạo Tượng-quận và Nam Hải chỉ tướng soái về họp mà thôi, quân sĩ sẽ có lệnh sau. Bây giờ quan lại người Hán thấy đạo quân Nhật-nam đi theo Đào Kỳ hùng tráng, kỷ luật nghiêm minh. Các tướng soái hòa nhã. Trong quân còn có nhiều nữ tướng xinh đẹp. Lại nghe đồn các vị nữ tướng võ công kinh người. Họ đành nhìn nhau tự an ủi.<br />
<br />
– Thôi đành chịu thua Thái-thú Hà Thiên cho bọn chó Việt được làm người.<br />
<br />
Hôm sau các tướng sĩ nhập Phiên-ngung. Phiên-ngung vốn là thủ đô nước Nam Việt, Triệu Đà và con cháu đóng đô ở đây gần trăm năm, nên thành trì rộng lớn hơn Long-biên và Luy-lâu. Dân cư đông đúc ngựa xe qua lại tấp nập.<br />
<br />
Thái-thú Hà Thiên làm tiệc khao quân, tất cả tướng chỉ huy Quân, Sư hai đạo Nhật-nam và Quế-lâm cùng bá quan văn võ được mời dự tiệc tại dinh Thái-thú. Phủ Thái-thú dựa trên bờ sông nước chảy xiết. Trong tiệc, một viên Quân bộ đạo Quế-lâm tiến đến trước Nam Hải nữ hiệp cúi xuống hành đại lễ :<br />
<br />
– Đệ tử là Minh Giang, xin tham kiến Nam Hải sư thúc, kính chúc sư thúc an khang.<br />
<br />
Phương-Dung thấy vậy lấy làm lạ tự hỏi : Nam-hiệp là con trưởng, lại là người đứng đầu phái Sài-sơn thì sao lại có người gọi bằng sư thúc ? Viên tướng này là ai ?<br />
<br />
Riêng Nam Hải nữ hiệp nghe giọng Việt của Minh Giang hơi khác lạ, bà hỏi :<br />
<br />
– Cháu là đệ tử cao nhân nào, sao ta không nhận ra ?<br />
<br />
Minh Giang kính cẩn thưa :<br />
<br />
– Tiểu đồ là đệ tử Trần Nhất Gia Khúc-giang. Sư phụ cháu thường nhắc tới sư thúc. Người lại sặn rằng, trong kỳ hội quân này thế nào sư thúc cũng tới. Phải tìm sư thúc vấn an thay sư phụ.<br />
<br />
– Thì ra cháu là đệ tử của Đăị sư huynh trong Khúc-giang ngũ hiệp. Các vị sư huynh của ta mạnh khỏe không ?<br />
<br />
– Sư phụ của đệ tử và bốn vị sư thúc đều khỏe mạnh. Các vị đi Trung-nguyên, không biết để làm gì ?<br />
<br />
Đào Kỳ thấy Minh Giang có liên quan với võ lâm Lĩnh-nam, chàng ân cần giới thiệu từng người với Minh Giang :<br />
<br />
– Đây là Trường Yên đại hiệp Cao Cảnh-Minh.<br />
<br />
Minh Giang thưa :<br />
<br />
– Tôi được nhge đồn rằng Trường Yên đại hiệp bắn tên xa trăm trượng. Mỗi lần buông tên hai chim nhạn rơi xuống. Nay được tương kiến thật là tam sinh hữu hạnh.<br />
<br />
Kế tiếp Đào Kỳ giới thiệu thứ tự từng người. Minh Giang chỉ biết Nam Hải nữ hiệp và Phương-Dung. Còn Trần Năng, Lê Chân y chưa được biết. Khi nghe được Đào Kỳ giới thiệu Trần Năng là đệ tử của Khất đại phu, Minh Giang mừng rỡ :<br />
<br />
– Thì ra sư thúc là đệ tử của Thái sư thúc. Gần đây khắp Nam Hải, Quế-lâm đồn rằng Thái sư thúc thành tiên bay đi chữa bệnh cho dân chúng !<br />
<br />
Trần Năng cười :<br />
<br />
– Sự thực không phải sư phụ tôi thành tiên đâu. Chẳng qua người ẩn hiện không chừng. Tính người dễ dãi, khi uống nước suối ngủ rừng. Khi uống rượu ăn thịt. Người lấy việc chữa bệnh làm lẽ sống. Dân chúng kính phục người gọi là Tiên ông. Người cũng sắp tới đây.<br />
<br />
Minh Giang nói với Đào Kỳ :<br />
<br />
– Tiểu tướng nghe tin anh hùng võ lâm anh hùng Cửu-chân, Nhật-nam và Giao-chỉ cùng theo Lĩnh-nam vương gia Bắc viện lập công, hầu xin hoàng thượng cho Lĩnh-nam tái lập quốc, thật mừng vô tả. Không biết có vị võ lâm nào thuộc Quế-lâm, Na-hải, Tượng-quận nào tòng chinh chăng ?<br />
<br />
Đào Kỳ thấy Minh Giang có phong thái giống Nghiêm Sơn, chàng lấy làm thích thú trả lời :<br />
<br />
– Quế lâm có Triệu Anh-Vũ, Lương Hồng-Châu cùng tòng chinh. Triệu Anh Vũ lĩnh ấn Chinh-di đại tướng quân, còn Lương Hồng-Châu theo cạnh Lĩnh-nam vương. Còn Tượng-quận và Nam Hải chưa thấy.<br />
<br />
Tiệc tan, Đào Kỳ muốn dò xét dân tình Quế-lâm, Nam Hải nên mời Minh Giang đi chung với chàng. Chàng biết Minh Giang là đệ tử Khúc-giang ngũ hiệp, nên tuy y là người Hán, chàng cũng đặt hết lòng tin tưởng. Trên đường đi Minh Giang hỏi Đào Kỳ :<br />
<br />
– Đào tướng quân, không biết ý Lĩnh-nam vương gia muốn xin phục hồi Lĩnh-nam như thế nào? Ngài muốn phục hồi gồm tất cả đất Lĩnh-nam cũ gồm 6 quận Nam-ải, Quế-âm, Tượng-uận, Cửu-hân, Nhật-am, Giao-hỉ, hay chỉ xin ba quận mà bỏ Quế-âm, Nam-ải, Tượng-qận ?<br />
<br />
Đào Kỳ không trả lời mà hỏi ngược lại :<br />
<br />
– Theo ý đại ca thì nên thế nào ?<br />
<br />
Minh Giang thở dài :<br />
<br />
– Đất Quế-âm hiện quá nửa là người Hán. Đất Nam-hûi, Tượng-uận còn tệ hơn nữa. Người Việt bị Triệu Đà cai trị hơn trăm năm, lại bị Hán cai trị hơn 200 năm. Họ bị đàn áp coi như tôi mọi quen rồi, mất cả hùng khí. Riết rồi họ coi cái nhục không hơn chó lợn là việc thường. Đã thế suốt ba quận, dưới huyện là xã, là làng chứ không có chế độ lạc hầu, lạc tướng, nên dân chúng không có người cầm đầu, khó nổi dậy được. Về môn phái chỉ có Quế lâm, Khúc giang là môn phái người Việt. Còn người Hán họ làm chủ ba quận đã lâu đời. Trên quan lại, dưới điền chủ phú gia, đều là người Hán, bây giờ bảo họ phải trực thuộc Lĩnh-nam khó lòng họ chịu theo mình. Cứ coi như vừa rồi Hà thái thú ban hành chính sách mới mà còn bị người Hán chống lại, đến nỗi phải xin lệnh Lĩnh-nam vương mới dám trị tội các tham quan người Hán thì đủ biết !<br />
<br />
Phương-Dung nghe đến đây cũng nhập cuộc :<br />
<br />
– Theo ý Minh huynh, nếu Kiến-vũ hoàng đế không chịu cho phục hồi đất Lĩnh-nam, thì ta phải làm gì ?<br />
<br />
Minh-Giang nói ngay :<br />
<br />
– Ý dân là ý trời. Chúng ta đã lập đại công đánh Thục. Lại tỏ ý quy phục xin phong. Việc cử quan lại cũng thế, mà để chúng ta tự trị làm một chư hầu cũng thế. Hoàng đế có tốn tiền, tốn gạo gì đâu ? Chẳng qua là một tờ giấy ban chiếu chỉ mà thôi. Nếu như người không chịu thì kiếm trong tay, dân một lòng ta há sợ gì ?<br />
<br />
Đào Kỳ cảm động hai tay nắm lấy hai tay Minh Giang, cả hai như nghẹn lời không nói được câu nào.<br />
<br />
Lát sau Minh Giang lại góp ý :<br />
<br />
– Ý tôi như thế này : Nay mai khi Lĩnh-nam vương tới đây. Đào đại ca đặt vấn đề sẽ lấy quân số ở đâu để bổ sung quân Hán khi bị hao hụt đánh Ích-châu. Lúc đó tôi tình nguyện đưa ý kiến rằng, nếu lấy tráng đinh thì một là chưa kinh nghiệm, hai là phải mất thời gian huấn luyện. Chi bằng lấy trong các địa phương bổ sung. Tỉ như thiếu 300 quân, thì lấy 300 quân Hán ở các lữ địa phương, rồi tuyển 300 tráng đinh thay vào. Đề nghị như vậy chắc vương gia và các đại tướng quân cho rằng tôi sốt sắng, khôn ngoan hết lòng với đoàn quân phạt Thục. Nhưng sự thực lại khác, vì các Thái-thú gửi quân Hán đi, tất phải tuyển các tráng đinh Việt thế vào. Chỉ vài trận là các ữ địa phương trở thành toàn quân Việt. Trường hợp phải bổ sung các tốt trưởng, lữ trưởng cũng thế. Các Thái-thú phải ưu tiên đưa người Hán đi thay.<br />
<br />
Phương-Dung khen ngợi Minh Giang :<br />
<br />
– Minh huynh thật là người đa mưu túc kế. Với ý kiến như vậy, chúng ta sẽ thành công.<br />
<br />
Hai hôm sau đạo Trung-quân của Lĩnh-nam vương mới đến Quế-lâm. Hà thái thú đem bá quan văn võ, cùng nam phụ, lão ấu treo đèn kết hoa, đốt pháo mừng ông vua nhân đức áo gấm về làng.<br />
<br />
Nguyên năm Đinh-hợi tức 214 trước Tây lịch, nhà Tần cướp đất Lĩnh-nam, trải qua nhà Triệu phản Tần, rồi nhà Hán diệt Triệu lập Lĩnh-nam thành quận, huyện cai trị đã gần 300 năm Dân Lĩnh-nam là kẻ bị trị, dãn chúng nhục nhã vô cùng, người Việt không được làm bất cứ quan chức gì. Mãi cho đến khi Nghiêm Sơn được phong Lĩnh-nam công được toàn quyền kinh lý mọi việc, chàng mới cho người Việt làm tới chức huyện úy, huyện lệnh, trong quân được cử tới cấp sư trưởng. Nay Nghiêm được phong tới tước vương, và cho người Việt giữ cả chức Thái-thú, Đô-úy, Đô-sát. Đã thế chính vương là người Quế-lâm bảo sao dân chúng không vui mừng hoan hô dậy đất ?<br />
<br />
Nghiêm Sơn dùng phủ Thái-thú làm đại bản doanh. Bộ chỉ huy của Đại-tư mã Đặng Vũ và Xa-kỵ tướng quân Ngô Hán đã tề tựu đông đủ. Vương hẹn ba hôm nữa sẽ họp tướng lãnh toàn quân, bàn định kế sách. Chiều hôm ấy cơm nước xong, Hoàng Thiều-Hoa hỏi chồng :<br />
<br />
– Bây giờ đại ca dẫn em về thăm nhà đi chứ ? Em mang tiếng là đồ đệ Đào hầu, lễ nghĩa có thừa, vậy mà lấy chồng đã sáu, bảy năm cũng chưa biết gia đình nhà chồng ra sao, nghĩ thực xấu hổ !<br />
<br />
Nghiêm Sơn nắm tay nàng cảm động :<br />
<br />
– Đó là lỗi tại anh. Vì bận rộn, nên chưa đưa em về thăm nhà. Họ hàng nhà anh rất đông, lại thêm người trong môn phái. Bây giờ chắc họ tụ hội ở trang ấp, chờ chào mừng chúng mình.<br />
<br />
Đoạn vương cho mời hai vị sư thúc Triệu Anh-Vũ và Lương Hồng-Châu, rồi tất cả lên ngựa về thăm nhà. Trang ấp của thân phụ Nghiêm Sơn tên Nhạn-sơn, nằm ở phía Nam thành Phiên-ngung. Phụ thân vương vốn là một đại tướng quân ở Trường-sa thời Tây-Hán. Ông về Quế-lâm dưỡng lão, ông giàu có, gia sản súc tích, tráng đinh, đệ tử trong ấp hàng trăm người. Khi từ trần ông để lại cho vương. Cách đây 8 năm, khi Nghiêm Sơn được phong Lĩnh-nam công. Thái-thú Quế-âm đã tuyển thợ khéo cất phủ đệ cho vương. Nhưng chưa bao giờ chàng về Nhạn-sơn mà chỉ ở Long-biên và Luy-lâu thuộc Giao-chỉ. Kịp khi được gia phong tước phong tước vương, Thái-thú Hà Thiên lại xuất công quỹ tu sửa, dinh thự trở thành một vương phủ tráng lệ. Thái-thú lại cắt cử quân lính, mã phu, thị nữ phục dịch. Khi mọi việc vừa hoàn tất thì kịp Nghiêm Sơn dẫn binh phạt Thục về qua.<br />
<br />
Hôm nay vương cùng vương phi và hai sư thúc một Hán, một Việt cùng là hai đại tướng quân và sư huynh là Thái-thú sở tại trở về nhà. Nên dân địa phương náo nức chờ đón ông Vua nhà mình, quang cảnh thực là náo nhiệt. Dân chúng trong trang ấp vừa sung sướng, vừa hãnh diện. Họ hãnh diện vì là con dân thang mộc ấp, họ sung sướng vì theo luật thời bấy giờ, họ được miễn mọi thứ thuế má binh dịch.<br />
<br />
Nghiêm Sơn có lòng nhân từ, vương không muốn phiền hà dân chúng đón đưa, nên âm thầm dẫn một ít người về thăm nhà không tiền hô, hậu ủng. Vậy mà khi về gần tới trang Nhạn-sơn, đã thấy dân chúng dàn hàng phủ phục hai bên đường chào đón. Đến cửa trang, đã thấy cờ biển rực rỡ, giáp sĩ gươm giáo sáng choang đứng dàn chào. Vương mời các bô lão, nhân sĩ địa phương, đệ tử bản môn vào dinh dự tiệc. Bước vào sảnh đường, vương nói với quan khách :<br />
<br />
– Nhờ phúc ấm tổ tiên Nghiêm Sơn này được phong Lĩnh-nam vương. Cô không lấy tước vương làm quý, mà lấy việc tạo phúc cho dân làm lẽ chính. Song thân tôi qua đời sớm, nay áo gấm về làng chỉ còn nhũ mẫu. Chữ hiếu là kỷ cương của trời đất. Vậy xin quý vị ngồi uống rượu để vợ chồng tôi vào vấn an nhũ mẫu đã.<br />
<br />
Đọan vương và Thiều-Hoa bước vào nội đường thăm nhũ mẫu. Hoàng Thiều-Hoa đã được Nghiêm Sơn kể cho nghe rằng vương có một nhũ mẫu, nuôi dưỡng, thương yêu vương từ nhỏ. Vương kính như mẹ đẻ.<br />
<br />
Đến nội đường, thấy căn nhà mỹ lệ, cột kèo chạm trổ tinh vi. Trước nhà có nữ tỳ đứng hầu, thấy vương gia và vương phi đến, họ vội quỳ xuống vấn an. Nghiêm Sơn khóat tay miễn lễ hỏi :<br />
<br />
– Má má ta ở trong này phải không ? Người vào thông báo có ta và hiền thê cầu kiến.<br />
<br />
Hoàng Thiều-Hoa kinh ngạc, vì thời bấy giờ nhũ mẫu là một thứ tôi đòi, vậy mà Nghiêm Sơn gọi bằng má má, tức tiếng dùng để gọi mẹ đẻ. Lại nữa vương là vương gia dù nhũ mẫu cũng phải quỳ đón, tại sao lại phải nhờ nữ tỳ thông báo, xin cầu kiến như đối với một vị thái hậu vậy ?<br />
<br />
Một lát nữ tỳ ra nói :<br />
<br />
– Phu nhân mời vương gia và vương phi !<br />
<br />
Nghiêm Sơn đẩy cửa bước vào. Thiều-Hoa cũng vào theo, nàng thấy một thiếu phụ tuổi khoảng trên 30, nhan sắc diễm lệ, ngồi trên ghế sơn son thiếp vàng. Nghiêm Sơn chạy đến ôm lấy bà gọi :<br />
<br />
– Má má con về thăm má má đây !<br />
<br />
Vương vẫy Thiều-Hoa :<br />
<br />
– Em lại ra mắt má má đi.<br />
<br />
Thiều-Hoa nghe chồng nói bỡ ngỡ đến ngẩn người ra. Trong tâm nàng nảy không biết bao nhiêu nghi vấn : Dù vương có đến đâu chăng nữa, cũng không thể bất nàng là một vương phi ra mắt một nhũ mẫu, tức một loại tôi tớ. Trước đây vương nói : Nhũ mẫu nuôi sữa vương suốt hai năm liền. Sau này vương sống bên cạnh nhũ mẫu, nên tính tình vương không giống mẹ mà giống nhũ mẫu. Năm nay Nghiêm đã 33 tuổi, ít ra bà cũng khoảng trên dưới 50, chứ sao lại chỉ chừng 30 tuổi ? Cho rằng phụ thân vương là đại tướng quân bỏ tiền mướn nhũ mẫu cho vương, nhưng sao lại có người xinh đẹp đến thế mà chịu đi làm nhũ mẫu ? Nàng thấy bà có sắc đẹp giống Đinh Hồng Thanh, nhu nhã mềm mại, mờ mờ như người trong sương khi có, khi không ?<br />
<br />
Thiều-Hoa tiến lại, còn đang bỡ ngỡ không biết phải dùng lễ gì ra mắt, bà đã nắm lấy tay nàng, kéo ngồi xuống cạnh bà :<br />
<br />
– Đẹp đẹp thực ! Trên đời, ta chưa từng thấy ai đẹp như thế này. Xưa kia ta và sư tỷ nổi danh là hai hoa khôi đất Trường-sa, nhưng so với vương phi còn kém xa.<br />
<br />
Bà lại kéo tai Nghiêm Sơn :<br />
<br />
– Thằng chó con này, mấy năm không về thăm má má. Thì ra con có vợ đẹp rồi quên má má hẳn ? Ta nghe Quang-vũ chờ công chúa Vĩnh-Hòa lớn lên rồi gả cho con. Khi công chúa được 15 tuổi, Quang-vũ nghe tin con mới cưới vợ, quần thần tâu rằng : Con là Quốc-công, tỳ thiếp bao nhiêu mà không được, cứ gả công chúa Vĩnh-Hòa cho con. Hồi ấy ta nghe Thái-thú Tích Quang cũng mật tấu về rằng vợ con là gái Việt. Con chỉ sủng ái mình nàng, nhất quyết không để ý đến người thứ nhì.<br />
<br />
Ngừng một chút ngắm nghía Thiều-Hoa, bà tiếp :<br />
<br />
– Công chúa Vĩnh-Hòa là con gái sư tỷ của ta. Chúng ta đẹp ngang nhau, không ai hơn. Vậy mà ta nghe đâu công chúa còn đẹp hơn mẹ. Ta nghe truyện cứ tiếc cho con mãi. Bây giờ gặp mặt vương phi thấy con chỉ sủng ái mình nàng là đúng. Nếu ta là con, ta cũng hành sử như vậy. Nàng đẹp thực !<br />
<br />
Rồi bà cười với ThiềuHoa :<br />
<br />
– Ta nghe vương phi xuất thân danh gia đệ tử, học trò Đào hầu đất Giao-chỉ, nổi danh võ nghệ cao cường, lễ nghĩa văn học đều thông. Nhìn sắc diện vương phi nếu nói ôn nhu, văn nhã cũng có vẽ ôn nhu, văn nhã. Nếu nói có vẻ thanh tao yểu điệu thì cũng có vẽ thanh tao, yểu điệu. Nhưng điều khó kiếm là sắc diện tươi hồng của người tập võ. Hiếm có nữ lưu nào lại vẹn toàn như vương phi.<br />
<br />
Thiều-Hoa càng ngạc nhiên, khi bà gọi hoàng đế bằng tiếng trống trơn Quang-vũ. Thiên tử cùng Lĩnh-nam vương bà mặc nhiên coi như người dưới. Vậy mà với nàng bà vẫn một điều gọi là vương phi.<br />
<br />
Nghiêm Sơn tỉ tê tường thuật tất cả những gì xảy ra xung quanh vương. Bà chăm chú nghe, thỉnh thoảng hỏi thêm chi tiết. Cuối cùng căn dặn chàng :<br />
<br />
– Con cố gắng giúp Quang-vũ. Nó là anh em kết nghĩa với con. Nó làm hoàng đế Trung-nguyên, con làm vua Lĩnh-nam, má má chỉ mong hai đứa thi ân bố đức cho thiên hạ, là má má mát lòng.<br />
<br />
Bà lại thăm hỏi Thiều-Hoa từng li, từng tí. Bà đứng lên bưng ra cái hộp nhỏ thiếp vàng, rồi mở nắp. Bên trong, có một chiếc vòng ngọc đỏ như máu và một chuỗi hạt trai. Bà cầm hai chiếc vòng ngọc đeo vào hai tay Thiều-Hoa và đem chuỗi hạt trai choàng cổ nàng. Nàng thấy bà đầm ấm, dáng điệu ôn nhu, yểu điệu kỳ lạ. Nàng tự nghĩ : Không biết sao nhũ mẫu của Nghiêm Sơn lại có những thứ trân bảo nhất thế gian này? Bà đeo vào người tặng ta, cũng chẳng cần hỏi xem ta có thuận hay không. Thật kỳ lạ.<br />
<br />
Bà bước lui ngắm nhìn Thiều-Hoa rồi nói :<br />
<br />
– Hai chiếc vòng và chuỗi ngọc là kỷ vật của Tiên vương đã tặng má má, bây giờ má má cho con.<br />
<br />
Thiều-Hoa ngắm cặp vòng, trên có khắc chữ "Chính-hòa tam niên". Nàng giật mình, vì Chính-hòa là niên hiệu Vũ-đế nhà Tây-hán. Kể từ năm Chính-hòa thứ ba đến bây giờ vừa đúng 135 năm !<br />
<br />
Trọn đêm đó, Nghiêm Sơn và Thiều-Hoa lưu lại trang Nhạn-sơn. Nhũ mẫu mang đàn ra tấu hơn chục nhạc khúc. Thiều-Hoa học văn, học võ đều giỏi, nhưng nàng không có kiến thức nhiều về âm nhạc. Nghe bà tấu hơn 10 khúc nàng chỉ nhận ra có khúc Phượng cầu kỳ hoàng của Tư-mã Tương Như, khúc Dương xuân bạch tuyết của Tiêu Sử và khúc Ly-tao của Khuất Nguyên.<br />
<br />
Đêm ấy, khi vào trướng với chồng, nàng đem những thắc mắc ra hỏi Nghiêm Sơn, nhưng cũng chỉ được chồng nói sơ lược về nhũ mẫu :<br />
<br />
– Khi anh được mấy tháng, thân mẫu bị bệnh mất sữa. Nhân thân phụ đi săn gặp nhũ mẫu bị nạn, người cứu bà về nhà. Nhũ mẫu cũng vừa bị mất con, sữa làm căng ngực khó chịu, bà nhận nuôi anh. Từ đấy tình yêu anh quyến luyến bà theo gia đình anh về Quế-lâm. Bà lớn hơn anh đúng 18 tuổi, năm nay vừa đúng 51, song bà là đệ nhất hoa hậu đất Trường-sa, lại giỏi âm nhạc. Tính bà ưa thanh nhàn, thích ẩn dật nên trẻ lâu, vì vậy sắc diện bà tưởng chừng mới 30. Cũng như ái thê của anh, lấy chồng từ thuở 18, đã 8 năm rồi mà vẫn như mới 20 tuổi vậy !<br />
<br />
 <br />
<br />
Hết Hồi 39<br />
<br />
[toc]book|no[/toc][toc][/toc]</div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://tvvn.org/forum/forumdisplay.php?f=135">Fiction</category>
			<dc:creator>Phượng Hoàng 4</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3916</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Anh Hùng Lĩnh Nam - Quyển IV - Hồi 38 - Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ</title>
			<link>http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3915&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Thu, 19 Nov 2009 19:52:09 GMT</pubDate>
			<description>HỒI THỨ BA MƯƠI TÁM 
 
Thước Gươm Đã Quyết 
Chẳng Dung Giặc Trời 
 
(Chinh phụ ngâm khúc) 
 
  
 
Tô Định kết bạn với Ngũ phương thần kiếm đã lâu...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><b>HỒI THỨ BA MƯƠI TÁM</b><br />
<br />
<i>Thước Gươm Đã Quyết<br />
Chẳng Dung Giặc Trời</i><br />
<br />
(Chinh phụ ngâm khúc)<br />
<br />
 <br />
<br />
Tô Định kết bạn với Ngũ phương thần kiếm đã lâu ngày, nên y biết tính tình cùng phương cách xử thế của họ : họ hào sảng, xả thân giúp người đến nơi, đến chốn. Còn như ai tự nhiên gây hấn với họ, thì coi như suốt đời gặp một đối thủ ghê gớm. Trước đây vì nhẹ dạ tin người, Tô đánh thuốc mê bắt Ngũ kiếm tra tấn bằng cực hình ghê độc ; đến nỗi Ngũ kiếm công lực thâm hậu biết là chừng nào mà cũng bị mê man bất tỉnh. Tô ngồi hỏi cung họ mà luôn mạt sát họ là quân trộm cướp. Tô còn bạo miệng nói rằng Ngũ kiếm tuy có Thượng-phương bảo kiếm trong tay, nhưng đó là do Cảnh-thủy hoàng đế ban cho chứ không phải của Kiến-vũ hoàng đế, vì vậy nếu y giết Ngũ kiếm không chừng y còn được Kiến-vũ hoàng đế vui lòng ban khen.<br />
<br />
Bây giờ nỗi oan của Ngũ kiếm y biết không thể vài lời mà bỏ qua thù hằn bấy lâu, nên y đành hỏi ngược :<br />
<br />
– Sự thể đã như thế, xin Ngũ phương thần kiếm định thế nào, tôi chịu như thế chứ biết làm sao ?<br />
<br />
– Vay nợ thì trả phải trả cả vốn lẫn lời. Tô thái thú bắt giam chúng tôi tra tấn cực hình suýt bỏ mạng. Chúng tôi phải dưỡng thương đến hơn năm. May được Đông-triều nữ hiệp Lê Chân cô nương cầu Khất đại phu trị cho mới khỏi tàn tật. Bây giờ chúng tôi cũng xin Tô thái thú trả đúng như vậy mà thôi.<br />
<br />
Tô Định nghe mà ớn da gà. Như thế có nghĩa Ngũ phương thần kiếm muốn đánh Tô Định 5 lần đau như Tô Định đã đánh họ. Chỉ cần bằng một lần, Tô cũng đã đủ chết rồi. Trước đây mỗi lần gặp tai vạ, Tô Định đều nhờ Nghiêm Sơn giúp đỡ, nhưng gần đây y dựa thế Mã thái hậu tìm cách chống đối Nghiêm Sơn, không biết Nghiêm chặt đầu y lúc nào, hy vọng gì cầu cứu nữa ?<br />
<br />
Nhưng tính Tô hèn hạ, y đành đưa mặt mo :<br />
<br />
– Lĩnh-Nam vương gia, xin vương gia thương tình giúp tiểu nhân qua cơn hoạn nạn này !<br />
<br />
Nghiêm Sơn lắc đầu :<br />
<br />
– Ngũ phương thần kiếm không phải quan lại đất Giao-chỉ, thành ra tôi không can thiệp vào việc của họ. Họ cũng không phải thần dân đất Lĩnh nam, tôi không nhân danh Lĩnh-Nam vương xử lý việc của họ. Tô thái thú đã là bằng hữu của họ, nên điều đình thẳng với họ thì hơn.<br />
<br />
Trưng Nhị nhìn Ngũ phương thần kiếm nói :<br />
<br />
– Ngũ hiệp, nếu các vị không chê tôi kiến thức thô lậu, để tôi giải quyết vụ này dùm được không ?<br />
<br />
Bạch kiếm chắp tay :<br />
<br />
– Trưng cô nương đã cứu anh em chúng tôi, chúng tôi xin để cô nương xử sự. Cô nương quyết đoán thế nào anh em chúng tôi cũng nghe theo.<br />
<br />
Trưng Nhị quay hỏi Tô Định :<br />
<br />
– Còn Tô thái thú nghĩ sao ?<br />
<br />
Tô Định nghĩ dù Trưng Nhị xử cách nào cũng nhẹ hơn cách của Ngũ kiếm nên y vội gật đầu :<br />
<br />
– Tôi xin kính cẩn nghe lời cô nương.<br />
<br />
– Điều này dễ thôi; Người ám hại Ngũ kiếm là Trương Thanh, Huyện-lệnh Đăng-châu. Vậy Tô thái thú phải xử tội y đã làm mất lòng Ngũ kiếm. Đó là trừ một món nợ.<br />
<br />
Tô Định chắp tay :<br />
<br />
– Tôi sẽ xử tử y. Dù Trưng cô nương không đặt vấn đề tôi cũng không tha y được. Tội y phải giết cả nhà mới đáng.<br />
<br />
Trưng Nhị tiếp :<br />
<br />
– Trong vụ này người bị khảo đả oan ức nhất là chủ nhân Anh-hùng tửu lâu Phùng Đại-Niên tiên sinh, thân phụ Đăng-châu nữ hiệp Phùng Vĩnh-Hoa. Huyện-lệnh Trương Thanh tra khảo tiên sinh tàn bạo, độc ác. Trong khi Tô công tử bị bắt giam, Ngũ phương thần kiếm tìm cách cứu người, được Đăng-châu nữ hiệp giúp đỡ đánh Lưu Chương chứ không phải Phùng tiên sinh hành động. Vậy mà người bị Trương Thanh đổ tội lên đầu, tra tấn và còn định giết chết. Tô đại nhân nên giúp Ngũ hiệp đền ơn Đăng-châu nữ hiệp thế nào để chuộc lỗi với Phùng tiên sinh. Như vậy trừ được món nợ thứ hai.<br />
<br />
Tô Định quay qua Nghiêm Sơn :<br />
<br />
– Phùng tiên sinh vốn là người trưởng giả, tính khí ôn hòa, là thân phụ Đăng-châu nữ hiệp. Xin vương gia chuẩn cho tiểu nhân được mời Phùng tiên sinh nhậm chức Huyện-lệnh thay Trương Thanh.<br />
<br />
Nghiêm Sơn gật đầu :<br />
<br />
– Như vậy còn gì bằng. Vĩnh-Hoa sư muội ! Người mời lệnh đường dùm ta nghe ! Lệnh đường mà làm Huyện-lệnh, dân chúng sẽ sống những ngày Nghiêu, tháng Thuấn.<br />
<br />
Phùng Vĩnh-Hoa chắp tay :<br />
<br />
– Tiểu muội cố gắng mời thân phụ như Đại ca dạy.<br />
<br />
Trưng Nhị lại tiếp :<br />
<br />
– Người bắt giam Tô công tử là Huyện-úy Bắc-đái. Vậy phải bắt y xử tội để Ngũ kiếm được mát lòng. Điều đó thuộc quyền Lĩnh-Nam vương gia, không biết vương gia có ưng không để trừ món nợ thứ ba của Tô thái thú.<br />
<br />
Nghiêm Sơn nói :<br />
<br />
– Ta đã cho ngựa lưu tinh đi bắt hết bộ thuộc, tòng đảng của Lê Đạo-Sinh, có lẽ giờ này chúng đã bị giam hết rồi. Tại hạ xin mời Trần Quốc-Dũng thiếu hiệp phái Sài-sơn đảm nhiệm chức Huyện-úy Bắc-đái. Xin thiếu hiệp vì dân tình mà nhận cho.<br />
<br />
Quốc-Dũng vừa đinh lên tiếng từ chối, nhưng chàng liếc thấy Trưng Nhị, Vĩnh-Hoa đưa mắt nháy. Chàng đành chắp tay :<br />
<br />
– Nếu vương gia ra lệnh vì dân mà làm Huyện-úy tôi xin kính cẩn nghe theo.<br />
<br />
Trưng Nhị tiếp :<br />
<br />
– Huyện lệnh Chu-diên là cha Trương Thanh, xin vương gia cách chức, vì tội gia pháp bất nghiêm, không dạy con. Như vậy trừ được bốn món nợ với Ngũ kiếm, còn người thay thế là việc của Nghiêm vương gia.<br />
<br />
Nghiêm Sơn nói :<br />
<br />
– Tôi đồng ý để Trưng cô nương xử lý vụ Thần kiếm, vậy quyết định cách chức Huyện-lệnh Chu-diên và mời tỷ phu Trưng cô nương là Đặng Thi-Sách tiên sinh hùng tài dũng lược, lại thương dân như con đỏ, làm Huyện-lệnh đất Chu-diên.<br />
<br />
Quần hùng đều ồ một tiếng kinh ngạc. Vì Đặng Thi-Sách nổi tiếng khắp Lĩnh-Nam vì chủ trương phản Hán phục Việt, đã không bị bắt tội chặt đầu, lại được mời làm Huyện-lệnh một huyện lớn nhất Lĩnh nam.<br />
<br />
Đặng Thi-Sách ngơ ngác không ngờ Nghiêm Sơn mời mình. Ông do dự một chút, liếc mắt nhìn Nghiêm Sơn, thấy Nghiêm nháy mắt ngón tay trỏ lay động, ra hiệu chấp thuận. Ông biết Nghiêm Sơn và Trưng Nhị đã bàn nhiều điều ích lợi cho Lĩnh-Nam. Ông chắp tay nói :<br />
<br />
– Tôi xin tuân lệnh !<br />
<br />
Trưng Nhị tiếp :<br />
<br />
– Ngũ phương thần kiếm nghĩa tới mây xanh, các vị lại không thích quan tước. Vậy Tô thái thú hãy giao cho người lệnh bài đặc biệt. Trên được trừng phạt các cấp từ Huyện-lệnh, dưới được tha tội các lương dân bị oan ức trên toàn đất Giao-chỉ. Có như thế Ngũ phương thần kiếm hành hiệp giang hồ được mọi điều thuận tiện.<br />
<br />
Tô Định gật đầu :<br />
<br />
– Như vậy có khác gì Ngũ phương thần kiếm thay tôi đi kinh lược khắp xứ. Tôi còn mong gì hơn.<br />
<br />
Sau cùng Trưng Nhị quay qua Ngũ kiếm :<br />
<br />
– Không biết Ngũ phương thần kiếm có chấp nhận lối giải quyết của tôi không ?<br />
<br />
Hoàng kiếm nói :<br />
<br />
– Từ trước đến giờ người ta cứ đồn rằng Đào gia ở Cửu-chân thù hận người Hán. Chúng tôi là người Hán, thế mà cứu chúng tôi và Tô công tử là Đào tam công tử cùng phu nhân. Thì ra người Đào gia chỉ ghét bọn Hán tàn ác tham ô hại dân. Đối với ơn nghĩa này, chúng tôi không thể nói mấy lời mà trả hết ơn. chỉ xin hứa rằng : Từ nay Đào gia cần gì đến anh em chúng tôi, chúng tôi xin tuân lệnh. Còn giải pháp của Trưng nữ hiệp nhằm hóa giải mối thù của chúng tôi với Tô thái thú, thì toàn là như’ng điều nhân đức và công bình, sáng suốt. Chúng tôi xin hoàn toàn đồng ý. Xin cám ơn Trưng nữ hiệp.<br />
<br />
Câu nói của Hoàng kiếm làm mọi người Hán, Việt có mặt hôm đó giật mình. Vì họ là 5 người uy bao trùm khắp vùng Mân-Việt, Lĩnh nam, kiếm thuật lại thần thông khôn lường. Khi họ đã hứa một lời dù mất mạng cũng thực hiện bằng được.<br />
<br />
Phương-Dung nói với Hoàng kiếm :<br />
<br />
– Ngũ hiệp, chúng tôi xin đa tạ thịnh tình của Ngũ hiệp.<br />
<br />
Nghiêm Sơn bảo Tô Định :<br />
<br />
– Lê Đạo-Sinh phạm tội, Cô gia cách chức y và bổ nhiệm Đốc-bưu La Quốc kiêm nhiệm Đô-úy.<br />
<br />
La Quốc tên thật là Trần Khổng-Chúng, ông là người Việt. Khi ông sang Trung-nguyên đầu quân lấy tên này. Hiện nay chỉ có Nguyễn Trát, Đào Kỳ, Phương-Dung là biết chân tướng của ông mà thôi.<br />
<br />
Sau đó quần hùng giải tán. Những người được đề cử tòng chinh Trung-nguyên cùng Nghiêm Sơn và Tô Định đến dinh Lĩnh-Nam vương chờ ngày lên đường.<br />
<br />
Toàn đất Lĩnh-Nam rúng động vì những cuộc chuyển quân. Chúng ta nên nhớ thời bấy giờ, lãnh thổ Lĩnh-Nam gồm từ Quảng-bình ra Bắc, kể cả Quảng-đông, Quảng-tây và Vân-nam thuộc Trung-quốc ngày nay, dân số chưa tới 10 triệu người, mà cuộc di chuyển lên đến 30 vạn người, ngựa nên rất là nhộn nhịp. Nhất là quân Hán ở đâu lấy vợ, sinh con, làm nhà cửa ở đó. Bỗng chốc họ được lệnh về Trung-nguyên, có người sung sướng được về quê, có người lưu luyến đất mới, ra đi phải bỏ lại tài sản, nhà cửa lòng đầy luyến tiếc.<br />
<br />
Thiều-Hoa được coi như một võ tướng cầm quân, nàng cũng chuẩn bị xuất chinh theo chồng. Cuộc viễn chinh làm nàng hồi hộp, nhưng vì đi bên cạnh còn có Đào Kỳ, Phương-Dung, Trưng Nhị là những người nàng quý mến, yêu thích nên cũng vui.<br />
<br />
Hồ Đề từ tạ Nghiêm Sơn trở về Tây-vu chuẩn bị đạo quân đặc biệt của nàng. Nghiêm Sơn nói :<br />
<br />
– Sư muội lên đường tôi trao cho sư muội lệnh bài đặc biệt : Với lệnh bài này, sư muội đại diện tôi, được toàn quyền trưng dụng quân sĩ, lương thực dọc đường để hoàn tất cuộc di chuyển đạo quân đặc biệt của Tây-vu. Không biết sư muội cần ai giúp sức không ?<br />
<br />
Hồ Đề cười :<br />
<br />
– Ở đây có ba bộ óc kinh thiên động địa là Trưng Nhị, Phương-Dung, Vĩnh-Hoa. Đạo quân của tôi có hơi đặc biệt, vậy xin cho một trong ba người đi theo bày mưu tính kế, chứ tôi thì ngu lắm !<br />
<br />
Nghiêm Sơn hỏi :<br />
<br />
– Không biết trong ba vị ai sẵn sàng giúp Hồ sư muội ?<br />
<br />
Nam Hải nữ hiệp xen vào :<br />
<br />
– Trong ba nhân tài này thì Phương-Dung giỏi điều quân hơn mưu mẹo, Phùng Vĩnh-Hoa giỏi bày mưu nhưng không quen bày binh bố trận. Cả hai cùng ưa tinh nghịch, gặp cháu Hồ Đề cũng tinh nghịch, ta e có điều quá đáng. Chỉ có Trưng Nhị vừa nhiều mưu cơ, vừa giỏi bày binh bố trận, làm việc thao lược, tính lại nghiêm cẩn, vậy cháu nên đi với Hồ Đề thì hơn.<br />
<br />
Nghiêm Sơn cũng nghĩ như vậy, vương đồng ý :<br />
<br />
– Vậy phiền Trưng cô nương đi với Hồ muội. Suốt một dải đất Quế-lâm, Giao-chỉ, cô nương được toàn quyền điều động văn từ Huyện-lệnh, Huyện-úy, võ từ Sư-trưởng trở xuống để chuyển quân. Hẹn nhau ngày 25 tháng 10 sẽ hội nhau ở Quế-lâm làm điểm hội quân tiến đánh Ích-châu. Nhưng xin quý vị chờ ngày 15 tháng 9 làm lễ tế cờ rồi hãy lên đường cũng chưa muộn.<br />
<br />
Trong khi Nghiêm Sơn phải họp liên miên miên với bộ tham mưu, lo chuẩn bị cho đoàn quân viễn chinh, thì Trưng Nhị cũng lo họp với Trưng Trắc, Thi-Sách, Nguyễn Trát, Nguyễn Tam-Trinh hoạch định kế hoạch chuẩn bị khởi nghĩa, trong trường hợp đề nghị trả Lĩnh-Nam cho ngưới Việt bị bác bỏ.<br />
<br />
Trong một buổi họp. Đào Kỳ trầm tư suy nghĩ rồi phát biểu ý kiến :<br />
<br />
– Giữa việc làm của chúng ta và Lê Đạo-Sinh, tôi thấy có đôi phần giống nhau. Lê cho đệ tử và người thân thích ra làm Huyện-úy với giặc, đồng thời thi ân bố đức cho dân chúng, xin được hoàng đế nhà Hán phong cho làm Thái-thú. Còn chúng ta làm hơn thế nữa : Chúng ta cho người làm Huyện-úy, Huyện-lệnh khắp nơi. Chúng ta lại theo đội quân Hán đánh giặc không công cho họ, để cầu được tái lập lại đất Lĩnh-Nam, có gì khác hơn đâu ? Lê Đạo-Sinh bắt giam các cao nhân võ học Nguyễn Phan, Đặng Thi-Kế, Nguyễn Thành-Công, chúng ta bắt giam Ngũ phương thần kiếm. Lê Đạo-Sinh dựa thế người Hán đánh phá các trang ấp không phục tùng y, chúng ta cũng mượn người Hán đánh phá các trang ấp của y. Theo thiển ý, y còn khá hơn chúng ta, việc ác là ác, việc thiện là thiện. Còn chúng ta bắt giam Ngũ phương thần kiếm rồi giả nhân, giả nghĩa cứu họ ra, đổ tội cho Trương Thanh với Lê Đạo-Sinh. Tôi thấy chúng ta phải đổi thái độ, nếu không thiên hạ bất phục, việc quang phục khó thành đấy.<br />
<br />
Lời nói của Đào Kỳ làm nhiều người ngẫm nghĩ gật đầu đồng ý, vì họ cảm thấy những biến chuyển gần đây lôi kéo họ vào chỗ thân thiết với người Hán. Nhất là những người có uy danh hiển hách như Nguyễn Thành-Công, Đào Thế-Kiệt, Đinh Đại, Đặng Thi-Sách mà ra làm quan với Hán thì thực uổng phí oai danh đã có bao lâu. Nhưng họ chỉ cảm thấy có điều gì bất ổn khó nói lên lời. Bây giờ được Đào Kỳ nói rõ tâm sự, họ mới hả dạ một chút.<br />
<br />
Nghe Đào Kỳ nói, Trưng Nhị nhìn Phương-Dung, Vĩnh-Hoa rồi cả ba bỗng rũ ra cười. Nhất là Vĩnh-Hoa cười đến đỏ cả mặt lên. Hồ Đề là người bộc ttrực hỏi :<br />
<br />
– Vĩnh-Hoa sao em lại cười như vậy ? Đào tam đệ nói đúng đó. Chính chị cũng nghĩ như vậy. Em cười là chê Tam đệ, chê Tam đệ là chê chị đấy. Nếu có ong ở đây, thế nào chị cũng đốt em ít mũi cho biết tay !<br />
<br />
Hồ Đề là người nóng tính, khi giận nàng nói lắp bắp, giọng Việt hơi ngọng, mặt nàng đỏ bừng.<br />
<br />
Vĩnh-Hoa lè lưỡi ra :<br />
<br />
– Trước khi giận em, chị cũng phải cho em giải thích chứ. Chị Trưng Nhị, Phương-Dung và em cười Đàøo tam đệ vì lối suy nghĩ một chiều. Thôi em để chị Trưng Nhị giải thích.<br />
<br />
Trưng Nhị chưa kịp trả lời, Thiên-thủ viên hầu Lại Thế-Cường vẫy tay cho mọi người im lặng rồi nói :<br />
<br />
– Cháu Kỳ, để ta thay Trưng Nhị hỏi cháu điều này : Cháu gần Trưng Nhị đã lâu, có bao giờ thấy Trưng Nhị lo cho bản thân, cho gia đình hay cho môn phái của nàng điều gì không ? Nàng có ghen ghét với võ lâm đồng đạo không ? Có bao giờ nàng âm mưu ám hại người trung lương của Lĩnh-Nam không ?<br />
<br />
Đào Kỳ và mọi người im lặng không trả lời, công nhận lời của Thiên-thủ viên hầu là đúng. Ông lại tiếp :<br />
<br />
– Trưng Nhị là người như thế. Vĩnh-Hoa, Phương-Dung cũng như Trưng Nhị có khác gì đâu ? Bây giờ các vị xem xét. Ba thiếu nữ chủ trương hành động của chúng ta có người nào thích ăn ngon mặc đẹp, thích tiền tài danh vọng không ? Tuyệt nhiên không, họ là những giai nhân tuyệt thế, văn học làu thông, võ công không thua kém ai. Vậy tại sao họ phải ưu tư suy nghĩ ? Chẳng qua vì nòi giống Âu-lạc mà ra cả. Nào ! Hãy so sánh hành động của chúng ta với Lê Đạo Sinh. Lê chỉ lo cho tham vọng bản thân : Đầu tiên y muốn làm Thái sơn bắc đẩu võ lâm, tiền rừng bạc bể là chỉ lo cho cá nhân mình, y muốn có nhiều trang ấp, quy dân lập nghiệp đông đảo là muốn lo cho gia đình mình. Y bắt giam Nguyễn Phan để lấy tinh hoa võ học Long-biên cho bọn Lê Nghĩa-Nam. Xúi Phong-châu song quái phản sư môn theo y phá người đồng môn, hầu nắm môn hộ của người. Y vu oan cho người trung lương, mượn tay người Hán tiêu diệt Đinh hầu, Đào hầu ở Cửu-chân, đó là ghen ghét với võ lâm đồng đạo. So sánh Lê Đạo-Sinh với Trưng Nhị, Phương-Dung, Vĩnh-Hoa thật khác một trời, một vực. Một bên chỉ lo bản thân, giết hại đồng bào, hại dân,hại nước, còn một bên chỉ biết đại nghĩa của thiên hạ, dốc một lòng phục hưng nòi giống Âu-lạc.<br />
<br />
Tiếng Lại Thế Cường sang sảng vang động trong khoang thuyền, làm mọi người tỉnh ngộ.<br />
<br />
Nam-hải nữ hiệp lại tiếp lời Thiên-thủ viên hầu :<br />
<br />
– Lê Đạo-Sinh chỉ muốn làm một chức quan lớn của triều Hán, cỡi lên đầu, lên cổ của chúng ta. Còn chúng ta đồng tâm hiệp lực lập lại Lĩnh-Nam cho người Việt, khác nhau ở chỗ đó. Y cho đệ tử, than-thích làm Huyện-úy là y tạo vây cánh, gây uy thế với triều Hán để được phong chức quan lớn.Y và đệ tử cúi đầu tuân phục Hán. Còn chúng ta ra làm việc với Hán là để nắm giữ binh quyền, một mai dễ dàng cử đại sự. Vì vậy việc chúngta với Lê Đạo-Sinh khác nhau một trời, một vực. Hai bên như mặt trăng, mặt trời vậy.<br />
<br />
Lúc đó Trưng Nhị mới ngỏ lời :<br />
<br />
– Những điều Nam-hải nữ hiệp và Thiên-thủ viên hầu nói ra là những điều chúng tôi muốn nói. Vĩnh-Hoa cười là cười Đào tam đệ. Tam đệ là chồng Phương-Dung, hai người tuy mới là vợ chồng, nhưng đã đi bên cạnh nhau như hình với bóng từ bốn năm qua, mà Tam đệ vần không hiểu vợ. Nếu người khác thì Vĩnh-Hoa không cười, nhưng cười Tam đệ, vì Tam đệ đã đọc đủ sách Trung-nguyên, trên từ Tứ thư Ngũ kinh, Bách gia chu tử cho tới Lục-thao của Thái-công. Binh pháp của Tôn Vũ, Ngô Khởi, lại là học trò yêu của Lục Mạnh Tân tiên sinh mà vẫn còn phán đoán như vậy.<br />
<br />
Vĩnh-Hoa cũng nghiêm trang nói :<br />
<br />
– Đào tam đệ! Chúng ta bắt giam Tô Phương cũng khác xa với việc Lê Đạo-Sinh bắt giam các cao thủ. Chúng ta bắt giam Tô Phương để chia rẽ Ngũ phương thần kiếm và Tô Định, chia rẽ Ngũ phương thần kiếm với Trương Thanh, để sư thúc Đào Thế-Hùng nắm trọn quyền ở Đăng-châu. Đăng châu sát Luy-lâu, có đạo quân Đăng-châu trong tay, khi khởi sự, chỉ phất tay là Luy-lâu ở trong tay chúng ta. Thời cơ đến, ta lại thả Tô Phương để chia rẽ Lê Đạo-Sinh và Tô Định. Tam đệ nghĩ xem trước đây mấy năm Tô Định cấu kết với Lê Đạo-Sinh, Ngũ phương thần kiếm mạnh đến chừng nào mà y còn dám chống lại cả Nghiêm Sơn. Bây giờ y cụt hết chân tay. Nghiêm Sơn là người của chúng ta. Ngũ phương thần kiếm là bạn của Tam đệ, còn Lê Đạo-Sinh và đồng bọn thân bại danh liệt. Các Huyện-úy, Huyện-lệnh gần như do người của chúng ta nắm hết. Tô Định chỉ còn cố thủ trong dinh của y mà thôi.<br />
<br />
Ngừng lại một lúc để mọi người thấm lời, nàng tiếp :<br />
<br />
– Chỉ vì đất Lĩnh-Nam chúng ta ít người, chứ không bất cứ ai trong chúng ta, chỉ cần đột nhập vào dinh đâm y một nhát là đất nước này thuộc hẳn về chúng ta. Nhưng liệu như thế, chúng ta có giữ vững được không ? Khi mà dân Trung-nguyên đông gấp trăm, gấp ngàn ta. Khi họï kéo đại quân sang, trong lúc chúng ta chưa kịp cũng cố lực lượng, thì nạn diệt chủng không tránh khỏi. Bởi vậy chúng ta đi một bước dùng lễ trước, đó là ngoài mặt chúng ta tỏ ý quy phục như trước vua Hùng, vua An-dương đã làm. Việc chúng ta cùng Nghiêm Sơn xuất binh đánh Ích-châu, ta đâu có mang binh theo mà sợ bị hao tổn xương máu, mà bảo đánh thuê ? Chỉ mấy người võ lâm dẫn người Hán đánh người Hán. Quân Hán đánh với đạo quân Thục, dù thắng, dù bại đạo quân này cũng hao tổn quá nửa, sau này không đủ sức trở về thống trị đất này nữa. Hơn nữa chúng ta góp mặt viễn chinh để tỏ cho Hán đế biết : Lĩnh-Nam đầy rẫy anh hùng, liệt nữ, nhưng lại sẵn sàng tuân phục Hán triều. Nếu Hán để yên chúng ta yên, ta sẽ là bạn tốt. Nhược bằng họ muốn đánh chúng ta, thì sẽ gặp cái vạ hao tinh, tổn tướng như Tần Thủy-hoàng. Tóm lại việc đi viễn chinh ở Trung-nguyên đem lại hai lợi ích : Một đem quân Hán rời khỏi Lĩnh-Nam. Hai là cho người Hán biết tài thao lược của anh hùng Lĩnh-Nam. Chúng ta đâu có đi đánh dùm để được tiền, được bạc mà gọi là đánh thuê, đánh mướn?<br />
<br />
Phương-Dung tiếp lời Vĩnh Hoa :<br />
<br />
– Chủ trương này phù hợp với đạo dùng binh. Binh pháp Tôn Tử nói : " Bảo tồn quân đội là nhất, làm tan đội quân là điều cấm kỵ ". Lật ngược đi, ta làm cho đội quân Hán ở Lĩnh-Nam phải rời khỏi Lĩnh-Nam, rồi bị thiệt hại nặng. Dù thắng, dù bại ở đất Ích châu. Trên đất Lĩnh-Nam ta chỉ còn các quân đội địa phương người Việt, do chính các Huyện-lệnh, Huyện-úy của ta chỉ huy, thì còn lo sợ gì nữa ?<br />
<br />
Tất cả hào kiệt ngồi đó đều tỉnh ngộ, họ thầm nghĩ : Kiến thức mình còn thua xa ba cô gái trẻ này. Có lẽ sau này khi khởi binh khôi phục đất Lĩnh-nam, phải để Trưng Trắc làm thủ lĩnh, Trưng Nhị làm Nguyên-soái, Phương-Dung, Vĩnh-Hoa làm Quân-sư mới phải.<br />
<br />
Đào Kỳ cũng nhận thấy kiến thức mình còn thua vợ rất nhiều. Chàng là người quân tử nên thích thú nhiều hơn ghen tỵ.<br />
<br />
Tan họp Đào Kỳ, Phương-Dung vừa về tới phủ Lĩnh-Nam đã thấy Quế Hoa ra đón :<br />
<br />
– Đại ca vừa về kịp, Nghiêm đại ca đang mong đại ca lắm đấy.<br />
<br />
Bước vào trướng, Đào Kỳ thấy bộ tham mưu của Nghiêm Sơn người nào mặt cũng nghiêm trọng. Nghiêm Sơn nắm tay Đào Kỳ :<br />
<br />
– Có việc quan trọng phải nhờ tiểu sư đệ mới được.<br />
<br />
Quỳnh-Hoa ngắt lời :<br />
<br />
– Nghiêm đại ca cho em góp một lời được không ?<br />
<br />
– Được, sư muội cứ nói.<br />
<br />
– Ngày xưa, Đào tam ca mới mười một, mười hai tuổi, Hoàng sư tỷ thường dắt đi chơi mới kêu là tiểu sư đệ. Còn bây giờ Đào tam ca đã quá 20 tuổi, cao lớn hơn cả Đại ca, thế mà Đại ca cứ gọi Tiểu sư đệ thì...<br />
<br />
Nghiêm Sơn gật đầu :<br />
<br />
– Cám ơn sư muội nhắc ta. Từ 8 năm nay ta sống gần Đào tam đệ, cứ gọi vậy thành quen mất rồi.<br />
<br />
Chàng quay lại nói với Đào Kỳ :<br />
<br />
– Ta cho người lên bắt Trương Thanh, thì y cùng với Lưu Chương xuất tráng đinh mười mấy trang ấp, cùng bản bộ binh mã Đăng-châu chống lại. Nếu ta cử đại quân lên đánh thì hao tổn binh mã cả hai bên. Hiện Tam đệ đã là Chinh-viễn đại tướng quân, vậy ta muốn Tam đệ cùng Vĩnh-Hoa, Lê Chân, Đàm Ngọc-Nga, Trần Quốc giải quyết vụ này. Nhất thiết tránh đổ máu, nếu có đổ càng ít, càng tốt.<br />
<br />
Hoàng Thiều-Hoa bảo Nghiêm Sơn :<br />
<br />
– Đại ca cho em đi cùng Tam đệ được không ? Sao đại ca không cử Phương-Dung đi giúp Tam đệ vậy ?<br />
<br />
Nghiêm Sơn lắc đầu :<br />
<br />
– Phương-Dung là Quân sư của ta. Hiện đang có nhiều việc quan trọng cần bàn thảo, ta cần giữ nàng cùng trưng Nhị ở cạnh.<br />
<br />
Chàng nhìn Đào Kỳ láy mắt một cái, Đào Kỳ hiểu ngay, sở dĩ Nghiêm Sơn cho chàng đi giải quyết vụ này, vì ở Đăng-châu còn có Tường-Quy. Nếu để Phương-Dung đi, nàng sẽ thẳng tay, e rằng đổ máu nhiều. Nghiêm Sơn là người chỉ huy tướng sĩ hàng trăm trận, chàng xử dụng người rất giỏi.<br />
<br />
Đào Kỳ, Hoàng Thiều-Hoa, Phùng Vĩnh-Hoa, Đàm Ngọc-Nga và Lê Chân cùng hơn trăm quân kỵ lên đường ngay. Đội thiết kỵ được cử theo Lĩnh-Nam vương phi và Chinh-viễn đại tướng quân lần này, họ đều vui sướng ra mặt. Bởi trong quân Hán đồn rằng Hoàng-Thiều Hoa là tiên nữ giáng trần, ai cũng muốn diện kiến nàng một lần. Đây họ được đặt dưới quyền, đi chung với nàng thì còn gì sung sướng hơn.<br />
<br />
Từ Luy-lâu đi Đăng-châu mất hơn hai giờ, mãi chiều tối mới đi tới nơi. Viên tướng sư trưởng đã dẫn quân bao vây huyện lỵ Đăng-châu, nhưng chưa dám tấn công, vì Lĩnh-Nam vương ra lệnh án binh bất động. Nay y thấy đích thân Lĩnh-Nam vương phi cùng Chinh-viễn đại tướng quân xử lý vụ này, y như được cất đi gánh nặng. Đào Kỳ cùng mọi người vào trướng, viên sư trưởng trình bày tình hình.<br />
<br />
– Tiểu nhân là Tôn Mạnh, sư trưởng bộ binh Luy-lâu. Cách nay 7 ngày Lĩnh-Nam vươngsai sứ giả lên bắt Trương Thanh, thì Lưu Chương bắt giam sứ giả. Y còn điều động tráng đinh các ấp cố thủ chống lại. Lữ trưởng kỵ binh theo Trương Thanh làm phản dẫn quân kỵ chống ta. Tiểu nhân được lịnh vương gia đến vây án binh bất động, chờ vương phi tới. Vậy xin vương phi và Đào tướng quân hoạch định kế sách.<br />
<br />
Đăng-châu nữ hiệp Phùng Vĩnh-Hoa móc trong bọc ra một trục lụa trải trên bàn nói :<br />
<br />
– Đăng-châu là quê hương tôi và Đàm Ngọc-Nga, chúng tôi thuộc hết đường xá. Đây là bản đồ Đăng-châu.<br />
<br />
Đào kỳ với Thiều-Hoa cùng với ban tham mưu của Tôn Mạnh cùng nghiên cứu. Tôn Mạnh lấy bút khoanh vào những trang ấp theo Trương Thanh, cùng cách dàn binh của y. Đào Kỳ cười :<br />
<br />
– Trương Thanh thực ngu như lợn, chúng bố trí quân như thế này mà đòi làm phản, thì thực tự tử không bằng. Này nhé huyện đường ở cạnh con sông, chúng bố trí một tốt bảo vệ huyện đường, bốn tốt bốn góc toàn những đường chánh vào huyện đường. Chúng bỏ trống hai bên hông cánh đồng hoang này. Nếu ta cho dàn quân làm áp lực, rồi cho một đội kỵ binh chọc vào hông tiến tới huyện đường, thì lập tức bốn ngả đều hỗn loạn, không đánh cũng bị bại. Đây là nói cách hành quân, nhưng Nghiêm vương gia không cho giao chiến. Vậy ta cần phải nghiên cứu kỹ mới được. Ngươi có biết Huyện-úy Đăng-châu theo Trương Thanh hay chống lại y không ?<br />
<br />
Tôn Mạnh lắc đầu:<br />
<br />
– Tiểu nhân không rõ vì, chưa liên lạc được với Đào Thế-Hùng.<br />
<br />
Đào Kỳ nhìn Thiều-Hoa :<br />
<br />
– Nghiêm đại ca là người hiệp nghĩa, thành ra không ước tính được bụng dạ tiểu nhân. Nếu Nghiêm đại ca gửi một phong thư mật cho chú em, thì ông chỉ cần trở tay một cái là bắt được Trương Thanh. Đại ca tưởng Trương Thanh tuân theo phép nước như ở Trung-nguyên, sai đi bắt về. Chó cùng đường thì nó cắn lại, cho nên Trương Thanh xuất lĩnh bản bộ binh mã làm phản, sau đó sẽ cùng gia đình trốn chạy. Được! Chúng ta hãy nghỉ ngơi đã, nhưng phải đề phòng chúng chạy. Nếu Trương Thanh chạy thì srẽ không chạy đường bộ, vì quân ta trấn đóng hết rồi. Y sẽ chạy theo đường thủy. Tại Đăng-châu có một Hải đội Hán, không biết họ có theo y không ?<br />
<br />
– Không ! Trương Thanh bắt các quan tại huyện ký giấy chống Tô thái thú. Hải đội trưởng không chịu ký, y bị giết ngay tại chỗ. Thủy thủ thấy chúa tướng bị giết, họ liền nhổ neo. Hải đội có 10 chiến thuyền, 8 cái chạy được, hiện neo ở gần đây chờ lệnh. Để tôi gọi Hải đội phó đến hầu tướng quân.<br />
<br />
Lát sau Hải đội phó vào trướng hành lễ :<br />
<br />
– Hải đội phó Đăng-châu Trần Như-Ý xin tham kiến Đại-tướng quân.<br />
<br />
Đào Kỳ gật đầu :<br />
<br />
– Thì ra Hải đội phó là người Việt, quê của người ở đâu ?<br />
<br />
– Thưa tiểu nhân ở Thiên-trường, thuộc trang Vị-hoàng.<br />
<br />
– Thế nhân huynh có anh em gì với Trần Quốc-Hương tiên sinh không ?<br />
<br />
– Thưa đó là thúc phụ tiểu nhân.<br />
<br />
– Tôi đã có dịp lưu lại trang Thiên-trường mấy ngày được Trần sư bá dạy dỗ. Xin nhân huynh cho biết, thủy thủ là người Hán hay người Việt, họ có tuân lệnh nhân huynh không ?<br />
<br />
_ Trần Như-Ý thấy Đại-tướng quân ngọt ngào và có tình thân với gia đình mình, thì mừng lắm :<br />
<br />
– Thưa Hải đội có 200 người, Hải đội trưởng là người Hán, bị Trương Thanh bắt giết cùng hai thủy thủ. Cộng thêm 18 người bị bắt giữ là 21 người. Hiện còn 175 người đều tuân lệnh tôi, tất cả đều là người Việt.<br />
<br />
Phùng Vĩnh-Hoa ghé tai Đào Kỳ nói nhỏ mấy câu, Đào Kỳ gật đầu :<br />
<br />
– Thay mặt Lĩnh-Nam vương, kể từ lúc này tôi cử Hải đội phó làm Hải đội trưởng Đăng-châu. Trần nhân huynh tiến cử người có tài đức làm Hải đội phó.<br />
<br />
Trần Như-Ý chắp tay :<br />
<br />
– Đa tạ Đại tướng quân !<br />
<br />
Đào Kỳ ngồi ngay ngắn lại :<br />
<br />
– Nếu Trương Thanh chạy sẽ chạy bằng đường thủy. Y không biết chúng tôi có mặt tại đây. Vậy chúng sẽ làm như ngu, dốt cho hải thuyền chạy về hướng Nam. Chúng ta mải bao vây ba chiến thuyền, chúng sẽ dùng dân thuyền chạy về hướng Bắc, sau đó sẽ lên bờ trở về Trung-nguyên. Ý đồ của y cho rằng chúng ta tưởng chúng chạy về phương Nam mà thôi, vì về hướng Bắc, nước ngược, thuyền đi rất khó. Ta phải giả ngu, mắc kế chúng, ta mới dễ dàng bắt được cả bọn.<br />
<br />
Chàng tiếp :<br />
<br />
– Vậy Như-Ý huynh chia Hải đội ra làm hai : 4 chiến thuyền chuyển lên phía Bắc Đăng-châu, 4 chiếc khác xuôi xuống Nam Đăng-châu. Tất cả dàn hàng ngang sông, cấm bất cứ thuyền bè nào qua lại. Ai trái lệnh cứ giết không tha. Nhưng có Lưu Chương làm phản theo Trương Thanh, nên trên thuyền Trương Thanh thế nào cũng có y. Võ công y rất cao, vậy phiền sư tỷ Lê Chân theo đoàn thuyền phía Nam. Sư tỷ Đàm Ngọc-Nga, sư tỷ Thiều-Hoa theo đoàn thuyền phía Bắc. Tôi đoán Trương Thanh sẽ chia làm hai để chạy, một nửa sẽ làm nghi binh chạy về phía Nam, còn đích thân y sẽ chạy lên phía Bắc. Mình sẽ làm như mắc mưu, khi gặp thuyền phía Nam ta sẽ đánh rất gắt, quyết không cho đi, còn thuyền phía Bắc ta đánh cầm chừng. Khi nào Lưu Chương xuất hiện, sư tỷ Thiều-Hoa sẽ đấu chưởng với y. Công lực của sư tỷ hiện giờ hơn hẳn Lưu Chương, vậy sư tỷ dụ y tới mạn thuyền rồi đánh y rơi xuống nước, để tôi có kế bắt sống. Nếu sư tỷ tìm bắt được Trương Thanh xin bắn tên lửa làm hiệu.<br />
<br />
Hoàng Thiều-Hoa là vương phi nàng được mọi người trọng vọng, nay được cậu Tiểu sư đệ ra lệnh, nên thấy vui vui, ra đi.<br />
<br />
Đào Kỳ lại nói với Phùng Vĩnh-Hoa :<br />
<br />
– Sư tỷ đi đón bá phụ. Ngày mai chiếm Đăng-châu, bá phụ phải cầm quyền ngay. Huyện Đăng-châu không nên một ngày không có chủ.<br />
<br />
Phùng Vĩnh-Hoa gật đầu :<br />
<br />
– Được tôi lên đường ngay.<br />
<br />
Đào Kỳ cho gọi Giao-long nữ vào. Nàng thấy Trần Như-Ý, thì kêu lên :<br />
<br />
– Sư huynh, người ở đây à ?<br />
<br />
Anh em gặp nhau mừng mừng, tủi tủi.<br />
<br />
Đào Kỳ dặn Giao-long nữ :<br />
<br />
– Sư muội cùng ta đi thám thính Đăng-châu. Nhất thiết sư muội không được ra tay...Bởi tính sư muội ưa nghịch ngợm.<br />
<br />
Trần Quốc cười :<br />
<br />
– Lỡ người ta đánh tiểu muội, tiểu muội cũng phải chịu hay sao ?<br />
<br />
– Được, nếu người ta đánh thì sư muội được phản công.<br />
<br />
Chàng dặn dò Tôn Mạnh ít câu, rồi cơm nước, chờ trời tối cùng Trần Quốc theo ngả rừng vào Đăng-châu. Trong huyện lỵ vắng bóng người qua lại. Chàng đi về phía trang Hiển-minh, tới phía Đông chỗ hàng rào thấp, chàng dắt Trần Quốc vượt rào vào trong. Đường sá trong trang chàng thuộc làu nên không bị lạc. Đi một lát tới đaÏi sảnh, nơi Đào Thế-Hùng ở. Phía trước sân, Đào Phương-Dung đang đứng nhìn trời. Vốn sủng ái cô em họ, chàng rón rén đến bên cạnh, đánh một chưởng vào vai. Phương-Dung giật mình đẩy chưởng về sau chống đỡ. Chàng bắt lấy chưởng rồi hai tay ôm chặt lưng nàng. Phương-Dung hoảng hốt giật mạnh tay thoát ra, nhưng không được. Nàng móc chân về sau đá vào hông Đào Kỳ, Đào Kỳ vận khí chịu một cước. Phương-Dung thấy đá một cước mà đối phương không hề hấn gì, nàng thất kinh hồn vía hỏi :<br />
<br />
– Người là ai ?<br />
<br />
Đào Kỳ nói khẽ vào tay nàng :<br />
<br />
– Ta là tướng cướp tới đây kiếm vàng !<br />
<br />
Đào Phương-Dung quát :<br />
<br />
– Người không phải là cướp. Cướp không có võ công bằng người.<br />
<br />
Đào Kỳ bật cười thành tiếng, buông nàng ra. Phương-Dung thoát ra được, nhìn lại thấy anh mình, nàng đánh nhẹ vào vai Đào Kỳ :<br />
<br />
– Anh làm em hết hồn. Tại sao anh lọt vào đây ? Vào nhà mau, bố em có chuyện lo lắng.<br />
<br />
Sau đại hội Tây-hồ, Đào Thế-Hùng được Trưng Nhị và Lê Chân tới thăm, hai người nhờ ông khuyên Đào Thế-Kiệt đừng kết tội Thiều-Hoa lấy chồng Hán, và nhất là bớt cứng rắn cho hai con ra làm việc với người Hán để nắm binh quyền trong tay, chờ khi khởi binh đã có lực lượng sẵn. Ông đồng ý cử hai con là Hiển-Hiệu và Quý-Minh ra đảo. Việc ở đảo xong hai người theo Đào Kỳ đến Lục-hải. Rồi từ Lục-hải hai người đi thẳng Đăng-châu chứ không ghé Luy-lâu. Hai người đã tường trình mọi việc cho ông rõ. Nghe hai con kể chuyện, lòng ông mừng rỡ tưởng như nhìn thấy ngày Lĩnh nam phục quốc không còn bao xa nữa. Ông vội rời Đăng-châu, đi liên lạc với nhữnhg người ở trang Văn-lạc của Đào Kỳ, lo sắp đặt kế hoạch cho việc khởi nghĩa. Khi từ Văn-lạc trở về, ông được biết Hiển-Hiệu Quý-Minh và vợ ông được mời vào huyện đường, rồi bắt trói giữ làm con tin. Trương Thanh yêu cầu ông đứng ngoài cuộc tranh chấp giữa y và Nghiêm Sơn. Tuy không biết tường tận những việc mới xảy ra ở Luy-lâu, như việc Nghiêm Sơn bao vây Thái-hà trang, giải thoát Tô Phương, nhưng ông lờ mờ hiểu đã có xích mích giữa Tô Định với Trương Thanh. Vì lo cho tính mệnh vợ với hai con, ông cũng phải đem tráng đinh phòng thủ trang ấp mình.<br />
<br />
Nay thấy Đào Kỳ xuất hiện thuật hết các biến chuyển mới, ông mới võ lẽ. Là người đa mưu, túc trí, quyết đoán mau lẹ, ông bảo Đào Kỳ :<br />
<br />
– Phương-Dung ở nhà giữ trang, còn ta với cháu và Giao-long nữ đi thám thính hai chiến thuyền coi sao rồi hãy quyết định kế hoạch.<br />
<br />
Đào Kỳ đồng ý, thế là ba người lần trong đêm tối đi đến mé sông. Hai chiến thuyền đậu sát bờ, trên thuyền có ánh đèn chiếu ra. Hai tấm ván từ thuyền nối liền với bờ được rào kỹ bằng bằng những dây mây đầy gai.<br />
<br />
Đào Kỳ bảo chú :<br />
<br />
– Chú trấn trên bờ, cháu với Trần Quốc xuống thuyền xem sao.<br />
<br />
Chàng cùng Trần Quốc hai người ra bãi sông bơi nhẹ đến sát thuyền, rồi bám dây neo, trèo lên thuyền. Đào Kỳ hiểu rõ lối kiến trúc chiến thuyền Hán, chàng và Giao-long nữ tiến đến đằng lái. Qua cửa sổ khoang có ánh đèn, ghé mắt nhìn vào, chàng thấy ngồi bên trong có 4 người đàn bà ăn mặc sang trọng, một khoảng 50 tuổi, còn 3 người khoảng 20-25tuổi. Cạnh đó là Trương Thanh-Mai, con gái Trương Thanh, chàng đã biết mặt.<br />
<br />
Chợt Trương Thanh-Mai lên tiếng :<br />
<br />
– Mẫu thân, thân định mai chúng ta lên đường. Nhưng chạy đâu bây giờ ? Con thấy trên sông, cả hai phía Nam, Bắc đều có chiến thuyền của họ ngăn cản, làm sao chúng ta đi được ?<br />
<br />
Người đàn bà lớn tuổi đáp :<br />
<br />
– Con đừng hoảng sợ, ngày mai Lưu thúc thúc ra lệnh đốt huyện Đăng-châu, lùa dân chúng xuống thuyền chạy về cả hai ngã Bắc, Nam. Thủy thủ trên các chiến thuyền có hạn làm sao kiểm soát hết? Thừa cơ hỗn loạn ta sẽ trà trộn với dân mà đi.<br />
<br />
Một người đàn bà trẻ hỏi :<br />
<br />
– Như vậy lính Tế-tác ngày mai sẽ đi lùa dân chúng trong huyện ?<br />
<br />
– Đúng thế.<br />
<br />
Lại thấy người đàn bà khác tiếp lời :<br />
<br />
– Chúng ta sợ là sợ Sư bộ binh của Tôn Mạnh, chứ còn Hải đội chỉ có gần 200 người, chia làm hai thì sợ gì ? Nguyên một mình Lưu thúc cũng đã đủ đánh chúng tan nát, lại còn chị Tường-Quy nữa võ công đâu kém gì ai ?<br />
<br />
Đào Kỳ nghe nhắc đến Tường-Quy tim chàng lại đau nhói một cái. Chàng vẫy Trần Quốc bơi vào bờ, cả ba sau đó trở về trang Hiển-minh. Đào Kỳ thuật cho Đào Thế-Hùng nghe đối thoại trên thuyền, ngẫm nghĩ một lúc chàng tiếp :<br />
<br />
– Thưa chú, cháu nghĩ vấn đề bắt Trương Thanh không khó nữa, chỉ làm sao tránh đổ máu mà thôi. Theo chú năm tốt trưởng có thật tâm theo Trương Thanh hay không ?<br />
<br />
Đào Thế Hùng lắc đầu :<br />
<br />
– Trong 5 tốt trưởng thì 3 là đệ tử của chú, còn 2 là người Hán. Cả hai người này chưa chắc đã theo y. Điều khó khăn là thím và hai em bị lọt vào tay chúng.<br />
<br />
Đào Kỳ quyết định :<br />
<br />
– Đêm mai chúng ta ra tay trước, xin chú cho tráng đinh chuẩn bị sẵn. Đợi cháu trở về điều quân cứu thím và các em. Sau đó chú cho vây huyện đường,. Tại huyện đường chỉ có gần 100 người, chúng ta khống chế dễ dàng. Bốn tốt canh phòng bốn phía, chỉ cần chúng không tiếp cứu huyện đường. Còn hai tốt của người Hán cháu sẽ cho bao vây.<br />
<br />
Chàng lại nói với Giao-long nữ :<br />
<br />
– Sư muội ra bờ sông, lên hai chiến thuyền, làm sao cắt đứt những dây giương buồm. Nhớ cắt làm nhiều đoạn, để họ không nối được, rồi xuống nước phá bánh lái.<br />
<br />
Giao-long nữ cười :<br />
<br />
– Chỉ có việc dễ như vậy sao ?<br />
<br />
Đào Kỳ gật đầu :<br />
<br />
– Dễ, nhưng tất cả mọi ngườn không ai làm được, trừ sư muội.<br />
<br />
Đào Kỳ sau đó kiếu từ Đào Thế-Hùng cùng Giao-long biến vào đêm tối. Về tới bản doanh, các tướng sĩ vẫn ngồi chờ lệnh. Đào Kỳ phân công :<br />
<br />
– Chúng ta phải đánh Đăng-châu ngay bây giờ. Sư huynh Tôn Mạnh đem 2 tốt lên phía Bắc Đăng-châu lục soát kỹ, sẽ thấy mấy cỗ xe ngựa dấu trong rừng. Phải bắt sống phu xe và giữ ngựa, xe. Khi thấy Trương Thanh bỏ thuyền lên bờ tìm chỗ dấu ngựa, xe. Sư trưởng phải bắt hết không cho một người chạy thoát. Cố tránh giết người, cấm không cho quân sĩ cướp bóc, hãm hiếp đàn bà con gái. Trái lệnh chém tại chỗ.<br />
<br />
– Lữ trưởng lữ 1, dẫn bản bộ binh mã tiến vào cửa Nam Đăng-châu. Tốt trưởng ở đó là người Hán, hãy dùng lời chiêu dụ rằng nếu đầu hàng sẽ được khoan hồng. Nếu y không chịu hàng, phải bao vây chờ lệnh không được tự động chém giết.<br />
<br />
Chàng ngừng lại đoạn tiếp :<br />
<br />
– Còn các Lữ trưởng khác bao vây vòng ngoài, ai chạy ra bắt hết, tập trung một chỗ dù đàn bà trẻ em cũng vậy.<br />
<br />
Điều quân xong, Đào Kỳ trở lại trang Hiển-minh, đã thấy Đào Thế-Hùng chuẩn bị xong tráng đinh, ra lệnh âm thầm tiến đến huyện đường. Ông cũng viết ba phong thư sai người đưa đến 3 đệ tử đang giữ chức vụ tốt trưởng trấn giữ 3 cửa Tây, Bắc, Đông dặn phải án binh bất động không tiếp cứu huyện đường.<br />
<br />
Ông với Đào Kỳ tiến về huyện đường. Là huyện úy, ông thuộc hết mọi ngõ ngách, ông lựa một chỗ bóng cây, cùng Đào Kỳ nhảy vào sân. Ông khẽ bảo Đào Kỳ :<br />
<br />
– Hai em bị giam trong công đường, do lính Tế-tác canh giữ. Bây giờ chú cháu mình đánh thẳng vào tất cứu được.<br />
<br />
Hai người tời sát trước cửa công đường, có hai tên lính cầm đao canh giữ. Đào Kỳ vọt lên, chộp cổ hai tên bóp mạnh. Chúng phát hiện ra chàng, vừa định kêu thì cổ họng tắt nghẽn. Chàng xách hai tên ra bụi cây, dí dao vào cổ hỏi :<br />
<br />
– Nếu chúng mày kêu lên một tiếng ta giết chết. Ta hỏi chúng mày : huyện lệnh Trương Thanh ở đâu ?<br />
<br />
Một tên đáp :<br />
<br />
–Ở công đường với Lưu Chương.<br />
<br />
– Hai công tử con Đào huyện úy bị giam ở đâu ?<br />
<br />
– Giam ở phòng giam sở Tế-tác.<br />
<br />
Đào Kỳ xé áo chúng nhét vào miệng, dùng giây lưng trói lại bỏ vào bụi hoa, đe dọa :<br />
<br />
– Nằm yên, nếu lên tiếng ta chém đầu. Ta chỉ bắt Trương Thanh mà thôi, không việc gì đến ngươi. Sáng mai ngươi sẽ được tha.<br />
<br />
Chàng cùng Đào Thế-Hùng đến sở Tế-tác, trước phòng giam có một đội binh Hán cầm vũ khí đi đi lại lại canh phòng. Chàng nhảy vèo đến nơi. Véo véo véo, chàng phóng ba chỉ đã đánh ngã ba tên. Trong khi đó Đào Thế-Hùng dùng chưởng đánh bật cửa nhà tù, ông nhảy vào trong đánh lửa soi rõ. Nhà tù trống rỗng. Bên ngoài Đào Kỳ cũng thanh toán xong đám lính sở Tế-tác. Đào Thế-Hùng lại mở các cửa phòng giam bên cạnh, cũng không thấy các con đâu.<br />
<br />
Ông hoảng hốt hỏi Đào Kỳ :<br />
<br />
– Thế này là thế nào ?<br />
<br />
Đào Kỳ cũng giật mình :<br />
<br />
– Chúng ta bị mắc mưu Lưu Chương, chúng bắt giam thím và các em một nơi, rồi phao lên là ở sở Tế-tác hầu đánh lừa ta. Bây giờ phải đánh thẳng vào công đường.<br />
<br />
Lúc đó binh Hán đã báo động, đèn đuốc đốt sáng trưng. Đào Kỳ bảo chú :<br />
<br />
– Chú xuất hiện là đủ, cháu ẩn mặt tùy nghi hành động.<br />
<br />
Đào Thế-Hùng Lấy một mũi tên lửa bắn lên, lệnh cho đệ tử bao vây huyện đường.<br />
<br />
Quân Hán xuất hiện, chĩa tên vào Đào Thế-Hùng. Lưu Chương, Trương Thanh xuất hiện. Lưu Chương cười :<br />
<br />
– Đào huynh! Tôi không bắt Đào huynh theo tôi, chỉ cần huynh án binh bất động. Thế mà Đào huynh không giữ lời, đến đây định giải cứu phu nhân và hai lệnh lang phải không ? Ba người hiện ở một nơi rất an toàn, không ở trong phủ này đâu !<br />
<br />
Phía ngoài tráng đinh reo hò bao vây bốn phía huyện đường. Không thấy quân tiếp viện, biết việc không xong, Trương Thanh hướng vào Đào Thế Hùng :<br />
<br />
– Phiền Đào huynh mở lối ra sông, khi lên thuyền rồi chúng tôi sẽ tha phu nhân và hai công tử ngay.<br />
<br />
Đào Thế-Hùng đành phất tay ra hiệu, tráng đinh mở lối. Trương Thanh, Lưu Chương dẫn theo một số người tiến về bờ sông. Đám Hán binh giật lùi, hướng tên về phía sau đề phòng.<br />
<br />
Đào Kỳ từ mái nhà nhảy xuống sân nói với chú :<br />
<br />
– Như vậy ta đã phá hỏng ý đồ đốt huyện lùa dân của chúng. Bọn chúng như kiến bò chảo nóng, chạy đâu cho thoát? Ta hãy lục soát huyện đường tìm thím và hai em đã.<br />
<br />
Đào Thế-Hùng cho tráng đinh tiến chiếm huyện đường, lục soát khắp nơi, vẫn không thấy ba người. Ông chợt vỗ đùi kêu lên :<br />
<br />
– Thôi rồi ! Ta ngu quá! Chúng giam người dưới thuyền rồi.<br />
<br />
Đào Kỳ cùng chú chạy ra bờ sông, thì hai chiến thuyền cùng hàng chục dân thuyền đã rời bến. Hai người vội lấy hai dân thuyền đuổi theo. Đào Thế-Hùng bơi về phía Nam. Còn Đào Kỳ bơi về phía Bắc. Một lúc sau Đào Kỳ đã thấy phía thượng lưu, ba chiến thuyền dàn thành hàng ngang sông, đèn đuốc sáng rực, thủy thủ gươm giáo, cung tên sáng ngời. Thấp thoáng dưới ánh lửa, Đàm Ngọc-Nga, Phùng Vĩnh-Hoa đứng trên đài chỉ huy.<br />
<br />
Trên hai chiến thuyền chạy trốn. Lưu Chương đứng ở mũi chỉ huy đội binh Hán bắn tên sang chiến thuyền Thiều-Hoa. Thình lình Lưu Chương phi thân sang chiến thuyền Đàm Ngọc-Nga, y phóng chưởng tấn công. Đàm Ngọc-Nga vung kiếm trả đòn. Võ công Lưu Chương thuộc loại thượng thừa, không thua gì Đào Thế-Hùng, trong khi võ công Đàm Ngọc Nga chỉ bình thường. Vì vậy, qua mấy chiêu đã thấy nàng thất thế, phải nhảy lui về phía lái. Lưu Chương dồn công lực, định phóng chưởng đánh nàng rơi xuống sông. Thình lình phía sau y, một Hán binh quăng vào y một cuộn dây, y vội né tránh, nhờ thế Đàm Ngọc Nga chạy thoát. Lưu Chương bỏ Đàm Ngọc-Nga vọt lên đài chỉ huy định khống chế thuyền trưởng, nhưng mới tới lưng chừng y chợt thấy có luồng gió mạnh như cuồng phong tạt vào mặt. Hoảng kinh y vội giơ song chưởng ra đỡ, tay y tê dại. Y nhìn đối thủ, thì ra là một thiếu phụ trẻ, quần đen áo vàng sắc nước hương trời. Y ngẩn người ra như phỗng :<br />
<br />
– Ối trời ơi ! Từ thuở sinh ra đến giờ, ta chưa từng thấy ai đẹp như nàng, mà võ công dũng mãnh vào hàng thượng thừa. Chiêu thế dường như thuộc phái Cửu-chân, nhưng còn có vẻ mạnh hơn Đào Thế-Hùng.<br />
<br />
Y vội hít vào một hơi, phóng ra một chưởng. Hoàng Thiều-Hoa đón đở rồi phản công lại liền. Hai người quấn lấy nhau mắ đấu. Đúng ra với bản lãnh Thiều-Hoa hiện giờ, chỉ cần vài chiêu nàng đã có thể thắng Lưu Chương, nhưng nàng mới học các chiêu số do Đào Kỳ truyền lại, nên chưa thuần thục đủ kinh nghiệm. Trải qua vài chục chiêu, nàng dồn Lưu Chương về phía mạn thuyền. Y thấy yếu thế, quật một chưởng rồi cười lớn :<br />
<br />
– Mỹ nhân ơi ! Ta chịu thua ngươi, ta đi đây.<br />
<br />
Nói rồi y nhảy ùm xuống sông. Tên Hán binh quăng dây để giải cứu cho Đàm Ngọc-Nga lúc nãy cũng nhảy theo xuống nước.<br />
<br />
 <br />
<br />
Hết Hồi 38<br />
<br />
[toc]book|no[/toc][toc][/toc]</div>

]]></content:encoded>
			<category domain="http://tvvn.org/forum/forumdisplay.php?f=135">Fiction</category>
			<dc:creator>Phượng Hoàng 4</dc:creator>
			<guid isPermaLink="true">http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3915</guid>
		</item>
		<item>
			<title>Anh Hùng Lĩnh Nam - Quyển IV - Hồi 37 - Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ</title>
			<link>http://tvvn.org/forum/showthread.php?t=3914&amp;goto=newpost</link>
			<pubDate>Thu, 19 Nov 2009 19:43:59 GMT</pubDate>
			<description>HỒI THỨ BA MƯƠI BẢY 
 
Nhiệm Tính Hiệp Đạo 
 
  
 
Phương-Dung nói tiếp : 
 
– Việc thứ nhất, vương mang quân đi chuyến này với tất cả sự ước vọng...</description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><b>HỒI THỨ BA MƯƠI BẢY</b><br />
<br />
<i>Nhiệm Tính Hiệp Đạo</i><br />
<br />
 <br />
<br />
Phương-Dung nói tiếp :<br />
<br />
– Việc thứ nhất, vương mang quân đi chuyến này với tất cả sự ước vọng của Kiến-vũ hoàng đế. Vương không được thất bại. Vì thất bại thì Công-tôn Thuật sẽ cử một đạo binh chinh phục Lĩnh-Nam. Giải đất này sẽ trở thành phên lũy của Thục. Bấy giờ Thuật chỉ cần tiến quân từ Lĩnh-Nam vòng theo bờ biển Mân Việt đánh vào phía sau Kinh-châu. Đạo quân của Đại tư mã Đặng Vũ sẽ trở thành lưỡng đầu thọ địch. Nếu Đặng Vũ tan, Lạc dương không còn nữa. Vương tiến quân dựa vào lương thảo, binh lính bổ sung của Lĩnh-Nam, vậy trước khi tiến quân, phải có phương pháp giữ vững gốc rễ. Đạo dùng binh, cần nhất an lòng sĩ tốt, lương thảo đầy đủ. Xưa Cao tổ xuất quân, an tâm vì có thừa tướng Tiêu Hà chu cấp đầy đủ lương thảo. Vậy nay vương gia cần an lòng sĩ tốt đã. Muốn an lòng sĩ tốt vương gia đã làm gì và làm đến mục nào rồi ?<br />
<br />
Các tướng sĩ cùng gật đầu công nhận lời của nàng đúng. Nàng để mọi người xì xầm một lúc, rồi tiếp :<br />
<br />
– Điều thứ nhì, cách nay mấy tháng đại hội Tây-hồ đề cử các gia, phái cùng đi với vương gia sang Trung-nguyên xin triều kiến Hoàng-thượng, xin thụ phong. Các gia, phái đều chuẩn bị lên đường. Trước kia Vương gia tước Công, phải dẫn cao nhân các phái sang Trung-nguyên xin phong. Nay Vương gia là Vương thì toàn quyền, xin vương gia ban cho một lời, chỉ một lời của vương gia cũng đủ để mời tất cả các cao nhân cùng tòng chinh đánh Công-tôn Thuật.<br />
<br />
Nghiêm Sơn gật đầu :<br />
<br />
– Quân sư nói rất đúng. Vậy Cô gia quyết định :<br />
<br />
"Kể từ ngày hôm nay bãi bỏ Ngũ lệnh trên toàn cõi Lĩnh-nam.<br />
<br />
Luật nhà Hán do thừa tướng Tiêu Hà soạn thảo được áp dụng trên toàn cõi Lĩnh-Nam.<br />
<br />
Người Hán, người Việt hoặc các sắc dân khác sinh sống trên đất Lĩnh-Nam đều có quyền lợi như nhau.<br />
<br />
Các chức quan lớn nhỏ sẽ trao cho người tài đức được dân chúng mến mộ".<br />
<br />
Quần hùng Lĩnh-Nam có mặt vỗ tay hoan hô rúng động cả sảnh đường.<br />
<br />
Chờ tiếng hoan hô dứt, Nghiêm Sơn tiếp :<br />
<br />
"Trong khi Cô gia chinh phạt Thục, Thái-thú tùy nghi bổ nhiệm các chức vụ cho người tài đức. Từ trước đến giờ Huyện-lệnh là người Hán, nay theo quyết định trên; các Thái-thú có thể bổ nhiệm người Việt. Tuy nhiên các Huyện-úy cũng như các chức vụ khác do đích thân Cô gia quyết định, khi vắng mặt Cô gia các Thái-thú không được tự ý thay đổi. Nếu họng phạm tội phải trình Uy viễn đại tướng quân lấy quyết định, không được tự chuyên".<br />
<br />
Nghiêm Sơn đưa ra quyết định này, vì vương không muốn Tô Định lũng đoạn khi vắng mặt vương. Vương lại tiếp :<br />
<br />
– Công-tôn Thuật khéo chiêu hiền nạp sĩ, nên võ sĩ theo về rất đông. Võ công cao như Sầm Bành, Phùng Dị mà còn bị đánh bại. Vậy Cô gia phải nhờ anh hùng Lĩnh-Nam ra tay giúp sức, việc này Cô gia nhờ Đào tiểu sư đệ mời các cao nhân tùng chinh, cũng đã tạm xong. Về binh mã ta có sẵn hai đạo Hán-trung, Kinh-châu, nay có thêm đạo Lĩnh-Nam nữa. Riêng đạo Lĩnh-Nam ta có 19 Quân bộ, 19 Sư kỵ, tổng số gần 30 vạn người. Binh pháp có nói Binh quý hồ tinh, bất quý hồ đa. Giáp sĩ của Ngô Hán trên 20 vạn mà bị quân Thục đánh bại, giáp sĩ của Đặng Vũ trên 25 vạn, mà cũng bị 20 vạn quân của Công-tôn Thuật đánh bại. Bây giờ ta có trên 30 vạn tinh binh, hợp với số quân còn lại của hai đạo kia lo gì không thắng Công-tôn Thuật. Mai này nhân buổi họp với các cao nhân võ học Lĩnh-nam Cô gia sẽ chánh thức mời họ tham dự cuộc tiễu phạt Công-tôn Thuật. Vậy lẽ tất thắng của ta không còn điều gì đáng nghi ngờ nữa.<br />
<br />
Cuộc họp vừa tan, Phương-Dung đến trước mặt Tô Định nháy mắt ra hiệu. Từ ngày sang đất Lĩnh-Nam, Tô Định dựa thế Mã thái hậu, chống Nghiêm Sơn nhiều lần. Vừa qua y khích Lê Đạo-Sinh đánh úp Nghiêm Sơn, bị thất bại. Song quái thuyết phục các nơi phản Nghiêm Sơn đã bị bắt. Huyện-úy Lục-hải Hoàng Đức-Phi là tay chân của Tô, mưu sát Nghiêm, đã bị Nghiêm chặt đầu. Ngày đêm y lo ngay ngáy không biết Nghiêm chặt đầu cách chức lúc nào. Trong buổi họp hôm nay, không thấy Nghiêm đả động gì đến, y mới gỡ được mối lo bấy lâu. Người mà y sợ nhất là Đào Kỳ, Phương-Dung thì trong buổi họp cả hai luôn nhìn y mỉm cười. Bây giờ Phương-Dung nháy mắt ra hiệu, y biết nàng muốn nói riêng với y điều gì, nên y đi chậm lại phía sau. Phương-Dung tiến lên ngang Tô nhét vào tay y một miếng giấy. Tô đoán có điều cơ mật. Về dinh, y mở giấy ra coi chỉ thấy vỏn vẹn có mấy chữ :<br />
<br />
"Tô lão bá cháu, là bạn với Tô công tử. Suốt ba năm cháu đi dò xét tin người. Nay đã biết được. Mong gặp riêng lão bá để trình bày. Đào Kỳ và Phương-Dung kính bái"<br />
<br />
Tô Định hồi hộp ngơ ngác nghĩ thầm :<br />
<br />
– Con ta bị Ngũ kiếm hay bắt giam chính ta cũng không rõ. Không biết sao hai người này lại có tin tức ! Thư lờ mờ, không biết con ta còn sống hay đã chết ! Vậy ta phải tìm gặp hai người này mới được. Cả hai là sư đệ, sư muội của Lĩnh-Nam vương phi, ta cứ đến vương phủ gặp họ không khó gì.<br />
<br />
Ngồi trong dinh, Tô đem mảnh giấy ra cùng vợ bàn luận. Vợ Tô Định nói :<br />
<br />
– Trước đây nhân chứng đều nói con ta đi cùng một nam, một nữ người Việt, không lẽ là Đào Kỳ và Phương-Dung? Nếu vậy vụ nghi án này có thể sáng tỏ được rồi.<br />
<br />
Cả hai đang băn khoăn bàn luận, thì có quân hầu báo :<br />
<br />
– Có đôi nam, nữ xưng là sư đệ, sư muội Lĩnh-Nam vương phi đến cầu kiến.<br />
<br />
Tô Định vội cùng vợ ra cổng đón. Một là Tô nể phục võ công hai người. Hai là Tô nóng lòng muốn biết tin đứa con trai yêu quý đã mất tích từ ba năm. Cả hai vợ chồng cúi rạp người đón Đào Kỳ và Phương-Dung. Trà nước yên vị, Phương-Dung cứ hỏi hết chuyện này sang chuyện, khác không đề cập tới việc Tô Phương. Một lúc vợ Tô Định nóng ruột quá vào đề :<br />
<br />
– Đào phu nhân! Nghe nói phu nhân quen thân với Tô Phương nhà tôi, xin phu nhân cho biết tin tức được không ?<br />
<br />
Phương-Dung thở dài, làm vợ chồng Tô Định muốn run lên. Nàng nói :<br />
<br />
– Cách đây ba năm, anh em chúng tôi từ Long-biên lên Bắc-đái thì gặp Tô công tử. Người thực nhã lượng, hào sảng, không tự cao con đại quan mà kết thân với chúng tôi. Chúng tôi đi cùng đường với với công tử, trên đường đi có cả Ngũ-kiếm. Rồi chúng tôi gặp Trương Minh-Đức. Minh-Đức hỗn láo bị Lam kiếm sửa trị. Đêm đến y đem thủ hạ vào khách điếm xông thuốc mê, bắt công tử cùng Ngũ kiếm. Anh em chúng tôi vắng mặt nên không bị bắt. Khi trở về, sang phòng công tử thấy hành lý còn đó, chúng tôi vội mang đi. Sáng hôm sau, chủ khách điếm không thấy chúng tôi, y báo cùng Huyện-lệnh Truơng Thanh. Trương Thanh cho người đến điều tra chỉ thấy hành lý của Ngũ kiếm, mà không thấy hành lý của Tô công tử và của chúng tôi là thế.<br />
<br />
Tô Định mở to mắt gật đầu :<br />
<br />
– Nghi vấn trước đây tôi cho điều tra vì không biết hai vị thiếu hiệp là ai? Đi đâu ? Cũng như hành lý của con tôi biến mất. Chính Trương Thanh cũng điên đầu vì vụ này. Bây giờ phu nhân nói tôi mới rõ mọi sự.<br />
<br />
Đào Kỳ chậm rãi tiếp lời :<br />
<br />
– Chúng tôi tìm đến Đăng-châu lao xá cứu công tử. Trương Minh-Đức vì trót tra tấn làm nhục công tử nên không dám thả ra. Y giữ công tử ở đâu tôi tìm chưa ra, nên đành cứu Ngũ kiếm. Ngũ kiếm cùng chúng tôi tìm công tử không thấy. Lại bị Lưu Chương giám sở Tế-tác đem quân vây đánh và bàn nhau phúc bẩm rằng Ngũ kiếm giết công tử để đoạt vàng bạc. Ngũ kiếm không biết mưu đó trở về Luy-lâu. Còn Lưu Chương một mặt sai con rể và đệ tử Lê Đạo-Sinh là Chu Bá và Đức Hiệp cùng Phong-châu song quái giam giữ công tử. Một mặt sai quân đưa đồ đạc hằng ngày của công tử dấu tại nhà của Ngũ kiếm. Vì vậy Tô đại nhân mắc mưu tra khảo Ngũ kiếm. Chính tôi và Dung muội phải xả thân cứu Ngũ kiếm vì biết Ngũ kiếm hàm oan. Vì tính mạng của công tử chúng tôi đã vô phép với Nghiêm tỷ phu, may mà tỷ phu không bắt lỗi. Hiện Ngũ kiếm phiêu bạt nơi đâu chúng tôi cũng không rõ.<br />
<br />
Phương-Dung tiếp lời :<br />
<br />
– Chúng tôi tiếp tục một mình dò la manh mối công tử, rất may gần đây đã kiếm ra.<br />
<br />
Vợ Tô Định thấy Phương-Dung úp mở, không chịu nói con mình còn sống hay chết, trong lòng phát run :<br />
<br />
– Thế thì Tô Phương...<br />
<br />
Phương-Dung thấy làm vợ chồng Tô Định lo sợ như vậy đã đũ, nàng lấy vạt áo có chữ máu của Tô Phương đưa ra. Tô Định với vợ run run cùng đọc, nước mắt chan hòa. Tô Định đập mạnh tay xuống bàn đánh bình một cái.<br />
<br />
– Ta thề băm vằm Lê Đạo Sinh ra từng mảnh mới được. Xin thiếu hiệp cho biết con ta bị giam ở đâu ?<br />
<br />
Phương Dung chậm rãi nói :<br />
<br />
– Thế lực Lê Đạo-Sinh không nhỏ. Chúng có tới 6 Huyện-úy là đệ tử, có tới 6 Huyện-úy là thân thích. Trang ấp thuộc quyền lớn vô cùng. Nếu đại nhân hấp tấp, chúng khởi binh làm phản tất nguy đến sự cứu viện Trung-nguyên, mà tính mạng Tô công tử khó vẹn toàn.<br />
<br />
Tô Định thấy Phương-Dung nói thế, nhận thấy rất đúng. Y đứng dậy chắp tay vái hai người.<br />
<br />
– Hai vị là bạn con tôi. Nếu hai vị nghĩ cách vẹn toàn cứu được nó, vợ chồng chúng tôi vô cùng cảm tạ. Tiền bạc thì quý vị không cần, nhưng nếu quý vị sai khiến điều gì mà Tô này có thể làm được, đều xin tuân theo.<br />
<br />
Phương-Dung cùng Đào Kỳ cũng đứng dậy đáp lễ :<br />
<br />
– Tô đại nhân là ntgười lớn lời hứa là vàng. Anh em chúng tôi đã nghĩ ra kế, hẹn ba ngày sẽ cứu công tử về đoàn tụ cùng đại nhân và phu nhân. Bây giờ chúng tôi xin kiếu từ.<br />
<br />
Hai người rời phủ Thái-thú ra bến xe ngựa, tìm người người phu xe có đeo khăn trắng ở cổ, gửi thư cho Vũ Trinh-Thục cùng Trưng Nhị, nhờ mời họp anh hùng Lĩnh-Nam trên con thuyền của trang Mai-động, đậu bên bờ hồ Tây. Sau đó trở về vương phủ. Hoàng Thiều-Hoa thấy Đào Kỳ, Phương-Dung đón vào nói :<br />
<br />
– Nghiêm đại ca cùng Hồ Đề và Giao-long nữ đang chờ các em về ăn cơm.<br />
<br />
Trong bàn ăn Nghiêm Sơn nói với Phương-Dung :<br />
<br />
– Sư muội, trong cuộc chinh phạt này tỷ phu được sư muội làm quân sư chắc chắn Công-tôn Thuật sẽ bị ta bắt. Sau khi chúng ta thắng giặc, Kiến-vũ thiên tử thế nào cũng chấp nhận lời xin của ta trả đất Lĩnh-Nam cho người Việt.<br />
<br />
Phương-Dung, Đào Kỳ cũng kể sơ lược vụ Tô Phương với đầy đủ chi tiết. Nghiêm nghe nhưng không hề ngờ rằng vụ này do Đào Kỳ, Phương-Dung, Lê Chân và Phùng Vĩnh-Hoa đạo diễn. Vương cũng tin hai người như Tô Định.<br />
<br />
Đào Kỳ kết luận :<br />
<br />
– Vậy với mối lo Lê Đạo-Sinh, coi như đã giải quyết vì giữa y và Tô Định có mối thù bất cộng đái thiên. Ngày mai, sau khi đại hội, đại ca định để Tô Định thanh toán Lê Đạo-Sinh và tay chân hay đại ca sẽ tự ra tay ?<br />
<br />
Nghiêm Sơn suy nghĩ :<br />
<br />
– Ta để cho Tô Định ra tay thì hơn. Lê là người xu phụ Tô, nay ta để Tô giết Lê cho đáng đời bọn xảo quyệt !<br />
<br />
Đến ngày hẹn, anh hùng Lĩnh-Nam tề tựu đông đủ trên con thuyền lớn của trang Mai-động. Buổi hội này Đào Kỳ nhân danh Chinh-viễn đại tướng quân chỉ huy đạo Lĩnh-Nam tổ chức, nên phủ Tế-tác Giao-chỉ, ngay cả Tô Định cũng không dám tò mò. Thật là buổi họp kỳ lạ nhất : Anh-hùng Lĩnh-Nam bàn chuyện phản Hán phục Việt trên con thuyền lớn, mà hai bên bờ sông, kỵ binh người Hán của Chinh-viễn đại tướng quân rong ruỗi... canh phòng !<br />
<br />
Khi thấy trên thuyền đủ mặt, thuyền ra giữa sông Phùng Vĩnh-Hoa đứng dậy nói :<br />
<br />
– Buổi họp hôm nay chúng ta phải đề cử lấy người chủ tọa, không biết quý vị sẽ đề cử ai ?<br />
<br />
Nam-hải nữ hiệp Trần-thị Phương-Châu nói :<br />
<br />
– Nếu bàn về võ công tất không ai hơn Khất đại phu. Khất đại phu là một tiên ông. Chí của người là trị bịnh cho dân chúng, tiêu dao sơn thủy. Vậy chúng ta không nên ép người vào chuyện phục quốc. Phục quốc không nhất thiết dùng người có võ công cao. Mà cần người có tấm lòng sắt son, thiên hạ đều biết.<br />
<br />
Nguyễn Trát cũng phụ họa :<br />
<br />
– Đúng vậy ! Khi bàn về phục quốc, dân chúng thường truyền tụng Bắc Nhị Trưng, Nam Đinh Đào. Vậy cần mời Đào hầu, Đinh hầu hoặc Nhị Trưng đứng ra chủ trì thì việc mới thành. Đinh hầu hiện vắng mặt, hiện diện tại đây chỉ có Đào hầu và Nhị trưng, vậy ta đề cử ai ?<br />
<br />
Khất đại phu đứng lên nói :<br />
<br />
– Tốt hơn hết, chúng ta mời Đào hầu cùng Trưng Trắc cùng chủ tọa, như thế vừa có uy của Bắc, vừa có đức của Nam.<br />
<br />
Đào Thế-Kiệt suốt cuộc đời chỉ mong có ngày hôm nay, nghe Khất đại phu đề cử mình, ông đứng dậy nói :<br />
<br />
– Tôi tài hèn, sức mọn nhưng nếu quý vị dạy bảo điều gì, tôi xin kính cẩn nghe theo.<br />
<br />
Trưng Trắc cũng nói :<br />
<br />
– Các vị cao nhân, sư đệ, sư muội đồng đề cử, tôi kính cẩn nghe lời mà ngồi đồng chủ tọa buổi hội hôm nay.<br />
<br />
Cử tọa vỗ tay vang dội, Đào Thế-Kiệt và Trrưng Trắc lên ngồi ghế chủ tọa, còn quần hùng, mạnh ai tìm chỗ an tọa không phân biệt tuổi tác chức phận.<br />
<br />
Trưng Trắc nhìn qua một lượt rồi khoan thai nói :<br />
<br />
– Chúng ta tuy đồng tâm mà hầu hết không biết mặt, Phương-Dung đi nhiều, biết nhiều xin đứng ra giới thiệu. Buổi hội này khác với buổi hội đại hội võ lâm, mà là những người quyết tâm phản Hán phục Việt. Cục diện biến đổi, kế hoạch đã bàn đi từ đảo Đào hầu về Bắc không hợp nữa. Cần có kế hoạch khác hợp với hoàn cảnh mới.<br />
<br />
Phương-Dung tuân lệnh đứng lên :<br />
<br />
– Trước tiên tôi giới thiệu phái Tản-viên, các vị có địa vị cao nhất là Khất đại phu, kế đến các sư bá Nguyễn Thành-Công, Đặng Thi-Kế. Các sư huynh, sư tỷ Lê Anh-Tuấn, Trưng Trắc, Trưng Nhị, Nguyễn Quý-Lan, Lê Ngọc-Lan.<br />
<br />
Đợi quần hào ngớt vỗ tay, nàng nói tiếp :<br />
<br />
– Kế đến đông đảo nhất, ở đây là phái Sài-sơn : Tất cả 8 vị Thái-bảo đều có mặt. Đệ nhất Thái-bảo Nam-hải nữ hiệpTrần-thị Phương-Châu với đệ tử của người là Đông-triều nữ hiệp Lê Chân, Hạ-long nữ hiệp Hùng Xuân-Nương. Đệ nhị Thái-bảo Trần Công-Minh, tức Nam-thành vương thống lĩnh nghĩa quân châu Ký-hợp chống Hán từ 5 năm nay. Đệ tử và cũng là cháu ruột của người là Nguyễn Thánh-Thiên là một đại tướng quân, phó thống lĩnh cho người. Sư tỷ Thánh-Thiên võ công tuy không cao, nhưng tài dụng binh với mưu thần chước thánh không biết đâu mà lường. Đệ tử của Nam-thành vương hiện diện hôm nay còn có Nguyệt-điện nữ hiệp Đàm Ngọc-Nga. Đệ tam Thái-bảo Tiên Yên nữ hiệp Trần-thị Phương-Chi, đệ tử của người là Đăng châu nữ hiệp Phùng Vĩnh-Hoa.<br />
<br />
Tiên Yên nữ hiệp không mấy khi ra ngoài, tiếng tăm ít người biết đến. Song Phùng Vĩnh-Hoa tiếng tăm đã vang dội, nên Phương-Dung phải ngừng cho mọi người hoan hô rồi tiếp :<br />
<br />
– Đệ tứ Thái-bảo Cầm tiêu tiên sinh Nguyễn Tam-Trinh. Năm người con của tiên sinh nổi danh Mai-động ngũ hùng : Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín và con gái Giao-Chi được tôn là Thanh-long tiên tử. Đệ tử mới là bé Tía tức Tử-Vân. Đệ ngũ Thái-bảo là Phương-lâu đại hiệp Vũ Công-Chất, cùng ái nữ của người là Bát-nàn nữ hiệp Vũ Trinh-Thục. Đệ lục Thái-bảo là Nam-thiên đại hiệp Đặng Đường Hoàn. Các đệ tử của người là Đào Chiêu-Hiển, Đào Tam-Lang, Đào Đô-Thống. Ba vị sư huynh hiện trông coi trang Ngọc-động. Đệ thất Thái-bảo Thiên-trường đại hiệp Trần Quốc-Hương, đệ tử là Trần Bá-Sơn và Giao-long nữ hiệp Trần Quốc. Đệ bát Thái-bảo Vân-hà nữ hiệp Trần Vĩnh-Huy.<br />
<br />
Ngừng một lúc Phương-Dung giới thiệu tiếp :<br />
<br />
– Phái Cửu-chân, Cửu-chân song kiệt hôm nay chỉ có Đào hầu hiện diện, bào đệ người là sư thúc Trần Thế-Hùng. Đệ tử của các người là Đào Nghi-Sơn, Đào Biện-Sơn, Đào Kỳ, Trần Dương-Đức, Đào Hiển-Hiệu, Đào Quý-Minh, Đào Phương-Dung, Đinh Hồng-Thanh, Quách Lãng, Đinh Bạch-Nương, Đinh Tĩnh-Nương, Hoàng sư tỷ là Lĩnh-Nam vương phi hôm nay vắng mặt.<br />
<br />
Phương-Dung phải ngừng lại vì quần hùng vỗ tay vang dội hết tràng này sang tràng khác. Nguyên phái Cửu-chân không phải là võ công đệ nhất, nhưng suốt bao năm qua từ sư phụ đến đệ tử luôn chủ trương phản Hán phục Việt, đều nổi danh vì khí tiết. Quần hùng hoan hô, là hoan hô khí tiết của họ.<br />
<br />
Phương-Dung tiếp tục :<br />
<br />
– Phái Hoa-lư Thái-thượng chưởng môn là Trường-yên đại hiệp Cao Cảnh-Minh, sư đệ của người là đại hiệp Cao Cảnh-Sơn. Đệ tử của người là Cao Cảnh-Khê, Cao Cảnh-Nham, Cao Cảnh-Thụy, Cao Cảnh-Thạch.<br />
<br />
Phái Quế-lâm, Lư-giang đại hiệp Lương Hồn-Châu. Kim-sa đại hiệp Triệu Anh-Vũ, Lôi-sơn đại hiệp Đinh Công-Thắng. Đệ tử của Kim-sa đại hiệp là Đinh Công-Minh.<br />
<br />
_ Thống lĩnh 72 động Tây-vu sư tỷ Hồ Đề.<br />
<br />
Hồ Đề vừa đứng lên, quần hùng vỗ tay cười ồ, vì nghĩ đến cái nghịch ngợm tai quái của nàng trong kỳ đại hội hồ Tây vừa rồi.<br />
<br />
Phương-Dung lại tiếp :<br />
<br />
– Thống-lĩnh Lôi-sơn Đinh Hồng Thanh và các vị sư bá Đinh Công-Hùng, Trần Năng, Hùng Bảo.<br />
<br />
– Ngoài ra còn phái Nhật-Nam, Thiên-thủ viên hầu Lại Thế-Cường, ở xa thành ra không tham dự kịp. Cũng như Khúc-giang ngũ hiệp tuy không về được nhưng tất cả khẳng định sẵn sàng tuân theo lệnh đại hội<br />
<br />
Sau khi Phương-Dung giới thiệu, Đào Thế-Kiệt nói :<br />
<br />
– Đại hội này bàn về việc phục quốc. Ai là con dân Lĩnh-Nam đều có quyền phát biểu. Tất cả ý kiến được tôn trọng, chúng ta sẽ lấy quyết định theo biểu quyết. Nếu ý kiến được đa số tán thành, tất cả mọi người phải tuân theo. Bây giờ mời quý vị cho ý kiến.<br />
<br />
Lê Chân nói :<br />
<br />
– Trước đây chúng ta tìm trăm phương ngàn kế tách rời Tô Định với Nghiêm Sơn, làm Tô Định và Lê Đạo-Sinh mất uy tín. Vì việc này chúng ta đã trừ được Phùng Chính-Hòa, Vũ Hỷ, Hoàng Đức-Phi. Chúng ta phác họa kế hoạch cử hiền tài cho Nghiêm Sơn, để khi khởi sự chúng ta có người trong hàng ngũ giặc. Bây giờ kết quả đi quá ước vọng, trừ Giao-chỉ, còn tất cả các Đô-úy, Đô-sát, Đốc-bưu đều là người Việt. Các Huyện-úy chiếm tới 9 phần 10. Huyện-lệnh tới 7 phần 10. Toàn quân Lĩnh-Nam do Đào Kỳ thống lĩnh. Chúng ta có nên khởi binh hay không ? Nếu khởi binh bây giờ chỉ cần đánh một tiếng trống là xong.<br />
<br />
Nguyễn Thánh-Thiên nói :<br />
<br />
– Chúng ta mong mỏi Hán quân rời khỏi Lĩnh-Nam, bây giờ ta được như ý muốn. Còn lại chỉ có quân địa phương người Việt do các Huyện-úy điều khiển, mà Huyện-úy chúng ta chiếm 9 phần 10 rồi. Tô Định muốn làm gì cũng bó tay, Lĩnh-Nam vương ra lệnh Tô không được tự quyền thay đổi Huyện-úy như vậy ta yên tâm. Đào Kỳ tuy được phong Chinh-viễn đại tướng quân, chỉ huy toàn quân Lĩnh-Nam ttrên 30 vạn người ; Trưng Nhị, Phương-Dung, Phùng Vĩnh-Hoa là quân sư của Lĩnh-Nam vương, nhưng ta không thể khởi binh lúc này, tại sao ?<br />
<br />
Thánh-Thiên ngừng lại cho cử tọa suy nghĩ rồi tiếp:<br />
<br />
– Một là người Việt được cử làm Đô-sát, Đô-úy, Đốc-bưu, nhưng mới được bổ nhiệm chưa nắm được guồng máy cai trị. Trong khi đó các quan lại thuộc các phủ Thái-thú, Đô-úy, Đô-sát, Đốc-bưu quá nửa vẫn là ngưới Hán.<br />
<br />
– Hai là quân Hán đóng ở Lĩnh-Nam đã lâu đời, vợ con, nhà cửa tài sản còn ở đây. Bây giờ phải đi đánh Thục lòng vẫn còn lưu luyến. Ta cần thời gian ít lâu để quân Hán rời khỏi Lĩnh-Nam, đem vợ con tài sản theo. Bấy giờ chúng ta khởi sự chưa muộn.<br />
<br />
– Đào Kỳ tiếng là chúa tướng, nhưng các tướng chỉ huy Quân, Sư, Lữ toàn là người Hán. Chúng ta khởi sự bây giơ,ø chưa chắc lệnh Đào Kỳ đã được các tướng nghe theo. Đó là điều thứ ba.<br />
<br />
– Quân Hán ra đi, mà ta chưa tổ chức được quân đội, nếu Quang-vũ lại cử đại binh sang, chúng ta làm sao chống giặc ? Vậy phải cần một thời gian đợi khi ta tổ chức được binh đội. Đó là điều thứ tư khiến ta không nên khởi sự lúc này.<br />
<br />
Từ trước đến giờ, quần hào từng nghe Nguyễn Thánh-Thiên là phó tướng cho Nam-thành vương, bây giờ mới thấy kiến thức của nàng rất rộng, tầm nhìn rất xa.<br />
<br />
Trưng Trắc gật đầu :<br />
<br />
– Vậy ta phải làm gì ?<br />
<br />
Nguyễn Thánh-Thiên nói :<br />
<br />
– Chúng ta chia người làm hai. Một số theo giúp Lĩnh-Nam vương đánh Thục. Tất Nghiêm Sơn phải giao quyền tướng quân cho chúng ta, khi đó ta học hỏi cách tổ chức, huấn luyện, điều quân, xung phong, hãm trận của quân Hán. Rồi với kinh nghiệm học hỏi, ta tổ chức quân đội, chiến pháp riêng cho Lĩnh-Nam. Khi đánh Thục, quân Hán ở Lĩnh-Nam phải hao tốn đến 7-8 phần. Chúng ta bổ sung bằng tráng đinh Việt. Quân và tướng chỉ huy các Quân, Sư, Lữ đều dần trở thành Việt. Bấy giờ Nghiêm Sơn tâu với Quang-vũ xin trả đất Lĩnh-Nam cho người Việt, Quang-vũ thuận thì tốt, nếu không thuận, ta dùng đạo quân Lĩnh-Nam toàn người Việt quay về Lĩnh-Nam khởi binh. Đồng thời phân nữa chúng ta ở nhà huấn luyện tráng đinh, tích trữ lương thảo. Cả hai lại chúng ta có đầy đủ một đạo quân kinh nghiệm với đầy đủ lương thảo. Khi ấy ta sợ gì quân Hán !<br />
<br />
Sau khi Thánh-Thiên trình bày, quần hùng bàn tán hơn thiệt, và đồng ý kiến với nàng.<br />
<br />
Sau cùng Trưng Trắc kết luận :<br />
<br />
– Đào Kỳ phúc bẩm với Lĩnh-Nam vương là quần hùng Lĩnh-Nam sẵn sàng giúp người đánh Thục. Người muốn mời bất cứ ai, chúng ta đều hết lòng. Bây giờ chúng ta đến vương phủ để ra mắt Lĩnh-Nam vương.<br />
<br />
Đại hội chấm dứt, trên đường từ hồ Tây về vương phủ, Đào Kỳ bàn với Vĩnh-Hoa, Lê Chân, Trưng Nhị kế hoạch đưa Tô Phương vào giam trong lao xá Thái-hà. Tất cả đồng ý phải nhờ đến Khất đại phu mới xong. Đào Kỳ vẽ lại chi tiết bản đồ nhà tù để Khất đại phu đem Tô Phương đánh thuốc mê vào giam trong đó.<br />
<br />
Khi tới Lĩnh-Nam vương phủ đã thấy đèn đuốc sáng trưng, quân giáp sĩ nghiêm trang đứng dàn chào, không cần nói cũng biết việc một vị Nguyên soái đón tiếp anh hùng rất chu đáo và trang trọng. Mọi người được mời vào cẩm đôn đã đề tên sẵn. Khi mọi người an tọa, viên tham quan sai người đốt pháo lệnh, cổng vương phủ khép chặt. Quân giáp sĩ tuần tiễu vòng trong, vòng ngoài cực kỳ nghiêm mật.<br />
<br />
Khi đó Lĩnh nam vương Nghiêm Sơn nghiêm trang tiến ra hành lễ với mọi người nói :<br />
<br />
– Thưa các vị tiền bối, thưa các vị huynh đệ. Buổi họp hôm nay là buổi hội của võ lâm đồng đạo Lĩnh-Nam, chứ không phải của Lĩnh-Nam vương, Tả tướng quân Đại Hán !<br />
<br />
Cử tọa hoan hô vang dậy, Nghiêm Sơn sang sảng tiếp :<br />
<br />
– Trước đây Kiến-vũ hoàng đế bị gian thần xàm tấu, ban Ngũ lệnh xuống đất Lĩnh-Nam, khiến trời sầu đất thảm. Chúng ta phải tổ chức đại hội Tây-hồ, tuyển cao nhân các phái sang Trung-nguyên cầu phong. Sắp lên đường thì tại hạ nhận được chiếu chỉ phong Tả tướng quân, Lĩnh-Nam vương, cùng ban cho Thượng phương bảo kiếm mang binh mã nửa thiên hạ chinh phạt Công-tôn Thuật. Tại hạ được toàn quyền quyết định mọi sự ở Lĩnh-Nam, Kinh-châu, Đông-xuyên, Tây-xuyên và Lương châu.<br />
<br />
Nghiêm Sơn phải dừng lại, vì toàn hội trường tiếng hoan hô vang lên như sấm dậy. Chờ một lát vương tiếp :<br />
<br />
– Đất Lĩnh-Nam quá xa Lạc-dương, Từ trước đến nay bị coi như Man, Di. Các quan cai trị Hán tới đây chỉ lo vơ vét, coi người Việt như chó, lợn. Vì vậy tại hạ sẽ xin Thiên-tử trả đất Lĩnh-Nam cho người Việt và Lĩnh-Nam sẽ là chư hầu phên dậu cho Trung-nguyên. Như vậy nhà Đại Hán có một chư hầu hằng năm tiến cống hơn là có một cõi đất Man di luôn luôn chống đối, khiến máu đổ thịt rơi công khố hao tổn. Để lời bảo tấu của tại hạ sau cuộc phạt Thục có kết quả như ý, tại hạ đề nghị các gia, phái đề cử hào kiệt theo quân diệt giặc lập công khuôn phò nhà Đại Hán.<br />
<br />
Như đã đồng ý trước, quần hào hăng say tán thành, khiến Nghiêm Sơn cảm động, vương hô lớn :<br />
<br />
– Phái tản viên xin Khất đại phu cử người.<br />
<br />
Khất đại phu nói :<br />
<br />
– Lão phu cử người bản phái Trưng Nhị, Quỳnh-Hoa, Quế-Hoa, Lê Ngọc-Trinh.<br />
<br />
Nghiêm Sơn sai người ghi danh rồi tiếp :<br />
<br />
– Phái Sài-sơn xin Nam-hải nữ hiệp cử người.<br />
<br />
Nam-hải nữ hiệp lên tiếng :<br />
<br />
– Tôi đề cử đệ tử Lê Chân, sư điệt Phùng Vĩnh-Hoa, Trần Quốc, Mai-động ngũ hùng, Nguyễn Giao-Chi. Ngoài ra còn có hai đội Giao-long binh Thiên-trường 100 đệ tử. Đội Thần-long của Mai-động 100 người lặn dưới nước như raí cá.<br />
<br />
Mắt Nghiêm Sơn rạng ngời, vương được Đào Kỳ cho biết quần hào Lĩnh-Nam sẵn sàng giúp vương, nhưng vương không thể ngờ được họ giúp tận tình như vậy. Có thể nói các phái đã dốc túi cử các đệ nhất hảo thủ theo vương. Chỉ riêng đội 200 đệ tử võ lâm, lặn dưới nước như rái cá, vương đã có ưu thế về thủy chiến.<br />
<br />
– Phái Hoa-lư xin Trường-yên đại hiệp Cao Cảnh-Minh đề cử người.<br />
<br />
Cao Cảnh-Minh chỉ 4 đệ tử nói :<br />
<br />
– Tôi xin cử Thần-nỏ Âu-lạc, chỉ huy 4 đội Thần-nỏ. Mỗi đội gồm trăm xe chở nỏ liên châu.<br />
<br />
Nghiêm Sơn nghe Cao Cảnh-Minh nói, vương liếc mắt nhìn Đào Kỳ. Vương biết phái Hoa-lư là đệ tử Cao Cảnh hầu thời Âu-lạc. Cao Cảnh hầu Cao Nỗ đã chế nỏ thần, bắn một phát cả ngàn mũi tên. Tên bắn lại xa gần bằng 5 lần sức người. Sau khi Cao Nỗ và em là Cao Tứ tuẫn quốc, kỹ thuật bị thất truyền. Gần đây Đào Kỳ tìm được sơ đồ chế nỏ thần ở cây gậy đồng, trao lại cho phái Hoa-lư. Phái Hoa-lư đã theo đó chế tạo, luyện tập được 10 đội Thần-nỏ, nay đem giúp vương 4 đội. Thần-nỏ mà bắn ra làm sao quân Thục chịu được?<br />
<br />
Phái Long-biên xin Nguyễn Phương-Dung cử người.<br />
<br />
Phương-Dung đứng dậy:<br />
<br />
– Thân phụ và Đào hầu vì có việc khẩn cấp không thể tới họp, nên đã để tiện muội chuyển lời đề cử : Phái Long-biên đề cử chính tiện muội. Phái Cửu-chân Đào hầu đề cử tướng công của tiện muội là Đào Kỳ và Thiều-Hoa sư tỷ Lĩnh-Nam vương phi !<br />
<br />
Quần hào và cả Nghiêm Sơn cười như ong vỡ tổ, không khí thật cởi mở. Đợi bớt tiếng cười nói Nghiêm Sơn tiếp :<br />
<br />
– Châu Lôi-sơn xin mời cựu Châu trưởng Trần Năng đề cử.<br />
<br />
Trần Năng chỉ Đinh Công-Thắng :<br />
<br />
– Tôi đề cử Đinh tam gia trong Lôi-sơn tam hiệp.<br />
<br />
– 72 động Tây-vu xin mời Hồ thống lĩnh đề cử.<br />
<br />
Hồ Đề đứng lên cười :<br />
<br />
– Vương gia cho tôi cử nhiều được không ?<br />
<br />
Nghiêm Sơn chỉ ngán tính tinh nghịch của Hồ Đề, nay thấy nàng nói vậy mừng lắm :<br />
<br />
– Hồ thống lĩnh cử bao nhiêu người cũng được, càng nhiều, càng tốt.<br />
<br />
Hồ Đề cười nói :<br />
<br />
– Người của tôi thì ít, nhưng đội binh rừng thì nhiều.<br />
<br />
Đến đây nàng hú lên một tiếng dài liên tu bất tận, lập tức ngoài phòng hội cũng có một tiếng hú đáp lại, rồi 6 thiếu niên tuổi khoảng 13-15 chạy vào. Chúng hành lễ với Hồ Đề. Quần hào, võ tướng bật cười vì 6 đứa trẻ phục sức như 6 con khỉ, đồng thời cũng giật mình kinh hãi, vì Hồ Đề chỉ đi họp có một mình. Vậy mà không hiểu sao 6 đứa trẻ này vượt được quân giáp sĩ tuần phòng vào được tận phòng họp mà không ai báo động? Cả 6 đứng nhìn mọi người nhăn nhó, gãi tai giống hệt mấy con khỉ. Hồ, Đề giới thiệu :<br />
<br />
– Đây là Tây-vu lục hầu tướng, chỉ huy đoàn thần hầu. Trước hết là Trấn bắc hầu tướng thường mặc quần áo đen, gọi là Khỉ đen, chỉ huy 100 thần hầu lông đen. Thứ nhì là Trấn Tây hầu tướng, quần áo trắng, thường gọi là khỉ trắng chỉ huy 100 Thần hầu lông trắng. Thứ ba là Bình nam hầu tướng, mặc quần áo đỏ, thường gọi khỉ lửa hoặc khỉ đỏ mỏ. Chỉ huy 100 Thần hầu đỏ đít. Thứ tư là Chinh đông hầu tướng, mặc quần áo xanh, chỉ huy Thần hầu lông nâu. Thứ năm Trung quân hầu tướng, quần áo vàng, chỉ huy 100 thần hầu mặt vàng. Cuối cùng là Hậu quân hầu tướng, quần áo rằn chỉ huy 100 dã nhân, thường gọi là đười ươi. Đội Thần hầu dùng để vượt rừng tiếp tế, leo mặt thành thám sát, ám sát chủ tướng.<br />
<br />
Hồ Đề ngừng một chút, ra lệnh 6 đứa trẻ lui về sau, rồi tiếp :<br />
<br />
– Tiểu muội đề cử thêm :<br />
<br />
Thứ nhì là Tây-vu tam hổ tướng. Hắc hổ, Hoàng hổ, Bạch hổ. Ba Hổå tướng không có mặt ở đây, mỗi Hổ tướng chỉ huy 100 Thần hổ, để phục kích xung phong, hãm trận.<br />
<br />
– Thứ ba là Tây vu tam báo tướng. Hắc, Hoàng, Bạch báo chỉ huy 300 Thần báo, dùng để leo cây phục kích xung phong hãm trận.<br />
<br />
– Thứ tư là đội Thần-long, do Tây-vu ngũ long công chúa chỉ huy, đó là Hoàng, Bạch, Hắc, Thanh, Xích long công chúa chỉ huy. Mỗi công chúa thống lãnh 500 Thần-long gồm Hổ lửa, Mái gầm, Trăn, Lục tổng số 2500 con để phục kích gây hỗn loạn khi cướp trại.<br />
<br />
– Thứ năm là đội Thần tương, do em trai tôi là Hồ Hác thống lĩnh gồm 200 thớt voi. Dùng cho các tướng cỡi, đuổi giặc, chống kỵ binh địch.<br />
<br />
– Thứ sáu là đội Thần-phong, do Lục phong quận chúa thống lĩnh gồm 10 triệu ong bầu đốt, tấn công địch.<br />
<br />
Đến đây quần hùng xôn xao bàn tán, vì họ thấy sự lợi hại của các đội quân Hồ Đề. Chưa cho là đủ Hồ Đề tiếp :<br />
<br />
– Thứ bảy là Tây-vu Thiên ưng lục tướng, thường gọi Lục Sún. Sún Lé, Sún Cao, Súng Đen, Sún Lùn, Sún Rỗ và Sún Hô chỉ huy 600 thần ưng, để do thám, canh phòng và tấn công từ trên cao.<br />
<br />
– Cuối cùng là Ngao-sơn tứ lão, do 4 vị lão tướng chỉ huy 400 Thần-ngao, tức chó sói để canh gác phòng vệ.<br />
<br />
Quần hào và chư tướng nghe Hồ Đề kể, lại nhớ đến hôm đại hội Tây-hồ, nàng dùng thú rừng dấy động khiến mọi người tán đởm kinh hồn. Bây giờ họ mới biết nàng nuôi thú rừng, dạy dỗ dùng làm quân lính !<br />
<br />
Lại nghe Hồ Đề nói :<br />
<br />
– Ngoài ra tôi còn một đội Tê-giác khoảng 10 thớt không đáng kể. Thưa Lĩnh-Nam vương gia như vậy đã đủ chưa ? Nếu vương gia cho là chưa đủ, tôi sẽ dốc toàn lực Tây-vu tòng chinh. Ở Tây-vu tôi còn lực lượng để dành nhiều gấp 4 lần các đội này !<br />
<br />
Hồ Đề là người Mường, nàng định nói lực lượng trừ bị mà quên mất nên nói lực lượng để dành. Nghiêm Sơn nghe nàng tiến cử thất kinh hồn vía !<br />
<br />
– Đủ rồi ! Đủ quá rồi Hồ sư muội, vấn đề tiếp tế lương thực cho đao quân của sư muội ra sao đây ?<br />
<br />
Hồ Đề cười :<br />
<br />
– Đội thần hầu, chúng ăn trái cây rau đậu. Thần-phong ăn đường, Thần-tương ăn cỏ; còn Hổ, Báo, Rắn, Ưng, Chó Sói chúng ăn thịt. Đại ca chỉ lo cho chúng khi đi qua làng mạc. Đường rừng chúng tự túc. Còn khi xuất trận đã có sẵn thịt quân giặc, khỏi cần nuôi ăn chúng.<br />
<br />
Quần hùng nghe nói thất kinh hồn vía.<br />
<br />
Nghiêm Sơn là người đánh quen trăm trận, vương nghĩ thầm : Nếu có đội quân rừng này trợ chiến, việc công thành xung phong thám sát sẽ thuận lợi biết bao.<br />
<br />
Vương nói :<br />
<br />
– Bây giờ tới phái Quế-lâm, xin hai vị sư thúc Triệu Anh-Vũ và Lương Hồng-Châu theo giúp sư điệt. Cuối cùng là phái Nhật-Nam, xin Thiên-thủ viên hầu Lại Thế-Cường đại hiệp cử người.<br />
<br />
Lại Thế-Cường đứng lên nói :<br />
<br />
– Chúng tôi xin cử Trần gia tam nương.<br />
<br />
Cử tọa ồ lên những tiếng kinh ngạc, vì Thiên-thủ viên hầu ở quá xa với Giao-chỉ, không ngờ lại có đệ tử ở vùng Quất-lưu là Trần gia tam nương. Nguyên ba chị họ Trần là Đạm nương, Hồng nương, Thanh nương là ba chị em ruột, võ nghệ kinh người, nhan sắc mặn mà, không biết từ đâu đến vùng Quất-lưu lập ấp, dân chúng quy phục rất đông. Trên từ Nghiêm Sơn, Tô Định cho tới võ lâm không ai biết Tam nương thuộc môn phái nào, bây giờ mới biết là đệ tử của Thiên-thủ viên hầu.<br />
<br />
Họp mãn, Nghiêm Sơn truyền dọn tiệc, Thiều-Hoa lẽ ra không dự vào việc tiếp khách vì tục lệ Hán trọng nam khinh nữ, dầu phu nhân các đại quan đều ăn ở phòng the. Nhưng Nghiêm Sơn áp dụng phong tục Việt, người phụ nữ có nhiều quyền. Vả lại Thiều