Albanian Arabic Bulgarian Catalan Chinese Croatian Czech Danish Dutch English Estonian Filipino Finnish French Galician German Greek Hebrew Hindi Hungarian Indonesian Italian Japanese Korean Latvian Lithuanian Maltese Norwegian Polish Portuguese Romanian Russian Serbian Slovak Slovenian Spanish Swedish Taiwanese Thai Turkish Ukrainian Vietnamese

Go Back   Diễn Đàn Thư Viện Toàn Cầu > Blogs > Hereami

Chấm điểm: 3 lần cho điểm, trung bình 2.00.

Ca Dao—Tục Ngữ Việt Nam (Q.1: 1-300)

Submit "Ca Dao—Tục Ngữ Việt Nam (Q.1: 1-300)" to Digg Submit "Ca Dao—Tục Ngữ Việt Nam (Q.1: 1-300)" to del.icio.us Submit "Ca Dao—Tục Ngữ Việt Nam (Q.1: 1-300)" to StumbleUpon Submit "Ca Dao—Tục Ngữ Việt Nam (Q.1: 1-300)" to Google
Posted 11-01-2009 at 03:52 AM by Hereami

-Q-
(Câu 1-234—Hết)

1-
Quảng Nam nổi tiếng boòng boong,
Chà viên Bình Ðịnh vừa ngon vừa lành,
Chín mùi da vẫn còn xanh,
Mùi thơm cơm nếp, vị thanh đường phèn.

2-
Quảng Nam sản phẩm muôn ngàn,
Trà Mi Rừng Quế, kho vàng Bồng Miêu.

3-
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên,
Em đố anh mấy tỉnh, em kết duyên tỉnh nào?

4-
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Bình,
Hỏi trong ba tỉnh, em thuận tình tỉnh mô?

5-
Quất ngựa truy phong.

6-
Quấy hôi bôi nhọ.

7-
Quần đen, áo trắng nhởn nhơ,
Làm cho anh chạy sụp bờ, gãy chân.

8-
Quần áo nhà nghèo.

9-
Quần chó táp không tới.

10-
Quần chùng, áo dài.

11-
Quần còn lai, áo còn bâu.

12-
Quần dài thì ăn mắm thối,
Quần tới đầu gối thì ăn mắm thơm.

13-
Quần hồ áo cánh.

14-
Quần hồ áo cánh làm chi,
Quần hồ áo cánh có khi ăn mày.

15-
Quần hồ lơ, áo lại hồ lơ,
Đến bữa hết gạo biết sờ vào đâu.

16-
Quần không cái áo cũng không,
Em lấy tấm chồng thân trụi mình trơ.

17-
Quần là áo lượt.

18-
Quần manh, áo mảnh.

19-
Quần nâu, áo vải.

20-
Quần rộng, áo dài.

21-
Quần tam, tụ ngũ.

22-
Quần thay ống, áo vá quàng.

23-
Quầng cạn, tán mưa.

24-
Quận ông đã tiến về đây,
Quận Cồ nức tiếng đông tây khắp vùng.

25-
Quận Tuy Hòa có hòn Tháp Nhạn,
Chốn Sông Cầu dừa mát bóng râm,
Phú Yên lắm cảnh danh lam,
Sơn Hòa có suối, Đồng Xuân có rừng.
Tuy An nước lặng mây dừng,
Đất vườn mầu mỡ nên xuân xứ nầy.
Thương chàng tỏ thiệt nơi đây,
Phú yên trù phú tháng ngày thong dong.

26-
Quẹt mỏ như gà.

27-
Quế càng già càng tốt,
Mía dài đốt càng ngon,
Anh thương em đặng nghĩa vuông tròn,
Mấy sông cũng lội, mấy hòn cũng leo.

28-
Quạ đội lốt công.

29-
Quạ đen có của có công,
Còn như loan phượng, lại không có gì.

30-
Quạ đen lông kêu bằng ô thước,
Thấy em có chồng vô phước anh thương.

31-
Quạ đen lông xuống sông khó tắm,
Bậu không chồng khó lắm bậu ơi.

32-
Quạ bay mỏi cánh quạ sà,
Lấy chồng xa xứ, bỏ mẹ già hắt hiu.

33-
Quạ chẳng mổ mắt quạ.

34-
Quạ già trăm khoang không bằng phượng hoàng mới nở.

35-
Quạ kêu ba tiếng quạ sà,
Khi nào qua rảnh qua nhà bậu chơi.

36-
Quạ kêu nam đáo nữ phòng,
Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương.
Liệu bề đạt được thì đương,
Đừng gầy rồi bỏ thói thường cười chê.

37-
Quạ kêu nam đáo nữ phòng,
Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương.
Chỉ điều ai khéo vấn vương,
Mỗi người mỗi xứ mà thương nhau đời.

38-
Quạ kêu nam đáo nữ phòng,
Em ôm lòng em chịu, nữ đáo nam phòng anh liệu làm sao.
Bởi anh chơi nguyệt, giỡn đào,
Bông hoa đà nở nhụy, anh liệu sao cho thiếp nhờ.
- Quạ kêu nam đáo nữ phòng,
Căn duyên ông trời định, nữ đáo nam phòng trộm lịnh mẹ cha.
Bao giờ em khai nhụy nở hoa,
Lâm câu bất hiếu, mẹ cha lỗi nghì.
Vái cùng trời đất chứng tri,
Khai hoa nở nhụy tứ vi vẹn toàn.
Đứng xa kêu thục nữ là nàng,
Bụng làm dạ chiu, không bỏ nghĩa nàng đâu mà lo.

39-
Quạ kêu nam đáo nữ phòng,
Người dưng khác họ đem lòng nhớ thương.
Dẫu rằng khác họ người dưng,
Tâm đầu ý hiệp không thương sao đành.

40-
Quạ kia nhắn nhủ với diều,
Cần câu xóm Rở được nhiều cá tôm.

41-
Quạ mổ diều tha.

42-
Quạ mà đã biết quạ đen,
Có đâu quạ dám mon men gần cò.

43-
Quạ nuôi tu hú.

44-
Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa.

45-
Quạt nầy để nắng che đầu,
Để nực em quạt, đi đâu em cầm.
Quạt nầy là quạt tri âm,
Để dành che miệng nói thầm cùng nhau.

46-
Quạt nan, mũ bạc, nhài đồng,
Phú Đa thợ nhuộm trát hồng tô xanh.

47-
Quả đào tiên ruột mất, vỏ còn,
Buông lời hỏi bạn, đường mòn ai đi ?

48-
Quả báo ăn cháo gãy răng,
Ăn cơm gãy đũa, xỉa răng gãy chày.

49-
Quả báo nhãn tiền.

50-
Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân,
Nay anh học gần, mai anh học xa,
Tiền gạo thì của mẹ cha,
Cái nghiên, cái bút thật là của em.

51-
Quả cau nho nhỏ, cái vỏ vân vân,
Nay anh học gần, mai anh học xa,
Lấy chàng từ thuở mười ba,
Đến năm mười tám thiếp đà năm con.
Ra đường người nghĩ còn son,
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.

52-
Quả chuông treo mấy cửa chùa,
Làm thân con gái bán mua mấy lần.

53-
Quả dưa gang ngoài xanh, trong trắng,
Quả mướp đắng ngoài trắng, trong vàng.
Từ ngày anh gặp mặt nàng,
Lòng càng ngơ ngáo, dạ càng ngẩn ngơ.

54-
Quả dưa trong héo, ngoài tươi,
Thương chàng như thể thương người lầu tây.
Ai về đằng ấy hôm nay,
Để đêm em nhớ, để ngày em thương.
Yêu nhau đi nhớ, về thương,
Em về cái chốn buồng hương em nằm.
Thấy chiếu mà chẳng thấy chăn,
Thấy chỗ mình nằm chả thấy mình đâu.

55-
Quả gì năm múi sáu khe?
Quả gì nứt nẻ như đe thợ rào?
Quả gì kẻ ước người ao?
Quả gì lấp lánh như sao trên trời?
Quả gì ăn đủ năm mùi?
Quả gì to lớn có người ở trong?
Quả gì khắc chữ, chạm rồng?
Quả gì cùi trắng, nước trong đó chàng?
Quả gì da nó lại vàng?
Quả gì lăn lóc giữa đàng cái đi?
Quả gì da nó sù sì?
Anh mà giảng được, em thì theo không!
-Quả khế năm múi sáu khe,
Quả na nứt nẻ như đe thợ rào.
Quả mận kẻ ước, người ao,
Quả mơ lấp lánh như sao trên trời.
Quả lê ăn đủ năm mùi,
Quả đất to lớn có người ở trong.
Quả chuông khắc chữ, chạm rồng,
Quả dừa cùi trắng, nước trong đó nàng.
Quả thị da nó vàng vàng,
Quả bóng lăn lóc giữa đàng cái đi.
Quả mít da nó sù sì,
Anh đã giảng hết, em thì nghĩ sao?

56-
Quả không vo mà tròn.

57-
Quả kiếp nhân duyên.

58-
Quả năm ngăn trong lòng sơn đỏ,
Mấy lời anh to nhỏ, bỏ bạn không đành.
Chừng nào chiếc xáng bung vành,
Tàu tây thôi chạy, anh mới đành bỏ em.

59-
Quả năm ngăn trong lòng sơn đỏ,
Mấy lời to nhỏ nên bỏ không đành,
Áo rách thời khéo vá, chớ lành em thời vụng may.

60-
Quả năm ngăn trong lòng sơn đỏ,
Qua mấy lời em to nhỏ, sao anh bỏ em đành.
Thế gian tiếng dữ đồn lành,
Bao giờ ông vua Trụ hiền lành em mới xa anh.

61-
Quả sầu đâu trong tươi, ngoài héo,
Cây đu đủ trong héo, ngoài tươi,
Rượu chè, thuốc xái, chơi bời,
Gẫm trong gia đạo ít người như anh.

62-
Quả xanh gặp nanh sắc.

63-
Quản bao thân mỗ dãi dầu,
Mang đai Tử Lộ, quẩy bầu Nhan Uyên.

64-
Quản bao tháng đợi năm chờ,
Ai ơi dứt mối, lìa tơ sao đành.

65-
Quản bao Tô Võ chăn trừu,
Ba năm oán để tiền cừu sao nguôi.

66-
Quản chi nước mắt, mồ hôi,
Cố công cày cấy miệt mài sớm trưa.

67-
Quảng Bình có động Phong Nha,
Có đèo Mụ Giạ, có phà Sông Gianh.

68-
Quảng Nam có lụa Phú Bông,
Có khoai Trà Đỏa, có sông Thu Bồn.

69-
Quảng Nam có núi Ngũ Hành,
Có sông Chợ Củi, có thành Ðồng Dương.

70-
Quảng Nam hay cãi, Quảng Ngãi hay lo,
Bình Ðịnh nằm lo, Thừa Thiên ních hết.

71-
Qưới nhơn phò hộ.

72-
Qủy phá nhà chay.

73-
Qủy phá nhà chay, ma ăn mày bụt,
Đừng khinh dao lụt có ngày đứt tay.
Tham vàng bỏ đống gạch đầy,
Vàng thời ăn hết gạch xây nên thành.

74-
Qủy quái tinh ma.

75-
Qủy sử thần sai.

76-
Qủy thần kính nhi viễn chi.

77-
Quăng xương cho chó cắn nhau,
Quạ ăn dưa bắt cò phơi nắng.

78-
Quế Trà My thứ cay, thứ ngọt,
Nhờ tay thợ rừng mới lọt tay anh.
Phân du, bạch chỉ rành rành,
Cân tiểu ly mới xứng, ngọc liên thành mới cân.

79-
Quỉ dục bảo thâm.

80-
Quỉ khốc thần kinh.

81-
Quỉ quái tinh ma.

82-
Quỉ tha ma bắt.

83-
Quốc dĩ dân vi bản.

84-
Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách.

85-
Quốc kêu réo rắt trên ngàn,
Gà rừng táo tác gọi con trên đồi.
Lạnh lùng thay láng giềng ôi,
Láng giềng lạnh ít, sao tôi lạnh nhiều.

86-
Quốc kêu mùa hè.

87-
Quốc phá gia vong.

88-
Quốc quốc (cuốc cuốc) tu oa, cò ma ra ruộng,
Bông đã trổ rồi cấy muộn làm chi.

89-
Quốc sắc khuynh thành.

90-
Quốc sắc thiên hương.

91-
Quốc thái dân an.

92-
Quỳnh Lôi mãi tít kinh kỳ,
Quỳnh Lưu lôi kéo nhau đi trại Quỳnh.

93-
Qua đường thấy đóa hoa tươi,
Không hái cũng thiệt, không chơi cũng hoài.

94-
Qua được cửa Trà Phúc, đức nhà bằng Đình Thượng.

95-
Qua đây không nhẽ làm thinh,
Vậy nên ta phải tự tình mấy câu.

96-
Qua đinh ngả mũ chào đình,
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu.

97-
Qua đò bậu chớ nghi ngờ,
Bậu đưa khách bậu, qua chờ khách qua.

98-
Qua đò khinh sóng.

99-
Quà đói bánh giò, quà no bánh đúc.

100-
Qua cầu dở mũ trông cầu
Cầu bao nhiêu nhịp, dạ sầu bấy nhiêu.

101-
Qua cầu ướt áo phơi phong,
Thấy anh có nghĩa, em mong đợi chờ.
Chờ cho nên nỗi lại chờ,
Chờ cho rau muống lên bờ héo khô.

102-
Qua cầu lột ván, tháo đinh,
Người thương ở bạc với mình không hay.

103-
Qua cầu một trăm cái nhịp,
Em không theo kịp kêu bớ hỡi chàng.
Cái điệu tào khang sao chàng vội dứt,
Đêm nằm nghĩ tức, giọt lệ tuôn rơi.
Nhón chân lên kêu, bớ hỡi trời,
Ai bày mưu cho bạn, bạn dứt nơi ân tình?

104-
Quân tử ẩn thân, tiểu nhân lộ tướng,
Tướng chuộng nhiều quân, dân muốn nhiều người.
Bước chân đồng đất nước người,
Đứa bé lên người cũng gọi bằng anh.

105-
Quân tử ứ hự đã đau,
Tiểu nhân dùi đục đập đầu như không.

106-
Quân tử ái nhân dĩ đức.

107-
Quân tử lắm lông chân, tiểu nhân nhiều lông bụng.

108-
Quân tử là quân tử Tàu,
Ăn cơm thì ít, ăn rau thì nhiều.

109-
Quân tử lân la đuổi ra cũng tệ,
Têm ba miếng trầu làm lễ tống đưa.

110-
Quân tử nhất ngôn.

111-
Quân tử nhất ngôn là quân tử dại (?)
Quân tử nói đi, nói lại là quân tử khôn (?)

112-
Quân tử nhất ngôn tứ mã nan truy.

113-
Quân tử phòng thân, đi mần có áo tơi, đi chơi có nón đội.

114-
Quân tử phòng thân, tiểu nhân phòng bị gậy.

115-
Quân tử thì oán tam niên,
Tiểu nhân thì oán nhãn tiền mà thôi.

116-
Quân tử trả thù ba năm chưa muộn.

117-
Quan tám cũng ừ, quan tư cũng gật.

118-
Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ.

119-
Quan thầy áo ngắn.

120-
Quan thời xa, bản nha thời gần.

121-
Quan tha nha bắt.

122-
Quan tham lại nhũng.

123-
Quan tiền nặng, quan tiền chìm,
Bù nhìn nhẹ, bù nhìn nổi.

124-
Quan trên ơi hởi quan trên,
Hiếp dân, ăn chặn, chỉ biết tiền mà thôi.

125-
Quân trong lớn hơn quan ngoài.

126-
Quan văn lục phẩm thì sang,
Quan võ lục phẩm thì mang gươm hầu.

127-
Quan văn mất một đồng tiền,
Xem bằng quan võ mất quyền quận công.

128-
Quân vi thần cang.

129-
Quan viên ba bẩy quan viên,
Chém cha cái loại lấy tiền vung văng.
Cầm chầu roi trống vụt sằng,
Say tỉnh nhập nhằng, rờ mó hơn ma.

130-
Quan viên tháng Giêng, tuần phiên tháng Mười.

131-
Quân vô tướng như hổ vô đầu.

132-
Quang không lành, mắng giành không trơn.

133-
Quang minh chính đại.

134-
Quanh năm cấy hái, cày bừa,
Vụ chiêm thì hạ, vụ mùa thì đông.
Ai về nhắn chị em cùng,
Muốn cho no ấm nghề nông phải cần.

135-
Quát thượng quát hạ.

136-
Quay tơ phải giữ mối tơ,
Dầu năm bảy mối cũng chờ mối anh.

137-
Quay tơ thì biết mối tơ,
Thâm hao thì có, cậy nhờ thì không.

138-
Quê anh ở tận nơi đâu?
Để em may áo viền bâu gởi về.

139-
Quê anh có cửa biển sâu,
Có ruộng lấy muối, có dâu nuôi tằm.
-Quê em hai dải cù lao,
Có dừa ăn trái, có cau ăn trầu.

140-
Quê cha đất tổ.

141-
Quê em ở tỉnh Hưng Yên,
Phủ thì phủ Khoái, huyện thì Ân Thi.

142-
Quê em ngày Tám, tháng Ba,
Quay vào làm rọ, quay ra đan lờ.
Nhờ Trời mưa thuận gió hòa,
Lờ rọ bán được cảnh nhà thêm vui.

143-
Quê em có dải sông Hàn,
Có chùa non Nước, có hang Sơn Trà.

144-
Quê em có núi Xương Rồng,
Có cửa Mỹ Á, có sông Thủy Triều.

145-
Quê em óng ánh tơ vàng,
Ruộng nương thẳng tắp, ngút ngàn dâu xanh.

146-
Quê hương bản quán.

147-
Quê hương nghĩa nặng, tình sâu,
Thấy hoa gạo đỏ rủ nhau cùng về.

148-
Qua cầu, cầu yếu phải nương,
Từ rày bạn cũ, thôi thương mình rồi.
Tai nghe bạn cũ có đôi,
Trong lòng bối rối như vôi mới hầm.
Cầm tay bạn cũ khóc thầm,
Từ nay hương phải khóc trầm, trầm ơi!

149-
Qua Chiêng thì rẽ về Giồng,
Qua quán Ðông Thổ vào làng Ðịnh Hương.
Anh đi theo chúa Tây Sơn,
Em về cày cuốc mà thương mẹ già.

150-
Qua Chùa núi Hó, thắp bó nhang vàng,
Xin cho bạn cũ lại hoàn như xưa.
Trông trời chẳng thấy trời mưa,
Rồng đi lấy nước rồng chưa kịp về.
Lựu tìm đào, đào chẳng tìm lê,
Lên non tìm quế, quế về rừng xanh.
Trách cho ai làm lá xa cành,
Cho chàng xa thiếp, cho anh xa nàng.

151-
Quá giận mất khôn.

152-
Qua Giêng hết năm, qua Rằm hết tháng.

153-
Qua kêu diều khóc, cuốc nọ chui qua,
Nhị đơn đối khẩu thiết giao hòa,
Đôi ta thương lén, biết phụ mẫu nhà hay chưa?

154-
Qua khỏi truông trổ bòi cho khái.

155-
Qua không bỏ bậu luông tuồng,
Làm sao qua xem bậu mặt buồn không vui.

156-
Qua không ham rộng ruộng, lớn vườn,
Ham vì nhân ngãi cang thường mà thôi.

157-
Quá lứa lỡ thì.

158-
Qua ngày đến tối.

159-
Qua ngày đoạn tháng.

160-
Qua như chim nọ đang bay,
Bạn như cá nọ mắc rày lưới giăng.

161-
Qua như con én trên cành,
Muốn kề trái hạnh cũng đành bay xa.

162-
Qua rào vỗ vế.

163-
Qua sông anh đứng, anh chờ,
Qua cầu anh đứng ngẩn ngơ vì cầu.

164-
Qua sông phải lụy đò.
165-
Qua tỉ như chùm gởi đáp nhờ,
Gá vô nhành bưởi đặng nhờ hưởng hơi.

166-
Quá tam ba bận.

167-
Qua thương bậu lắm bậu ơi,
Cá chết vì mồi, khốn nạn thân qua.

168-
Qua than với bậu hết lời,
Đừng tham núi ngọc đổi dời non tiên.

169-
Qua truông anh đạp phải gai,
Anh ngồi anh lể trách ai không chờ.

170-
Qua truông rồi lại băng gò,
Dưới chân nước chảy quanh co tứ bề.
Đưa chàng lòng dạ ủ ê,
Nhớ ai không nhớ, nhớ lời thề khổ chưa?

171-
Qua về bán ruộng cây đa,
Bán cả đất nhà cưới chẳng đặng em.

172-
Qua với mình xứng nút, xứng khuy,
Xứng tình vàng đá, xứng nghì tào khang.

173-
Quan đâu thương kẻ ngu si,
Của đâu cho đứa nằm lì mà ăn.

174-
Quan bất phiền dân bất nhiễu.

175-
Quan cưới em bằng kiệu em cũng không thèm,
Anh cưới em bằng xuồng ba lá em cũng nguyền theo không.

176-
Quan cả thì vạ to.

177-
Quan cần dân trễ.

178-
Quân cờ Đồng Cổ ra đi,
Làm nên chiến thắng bất kỳ nơi đâu.

179-
Quan cứ lệnh, lính cứ truyền.

180-
Quan có cần nhưng dân chưa vội,
Quan có vội, quan lội quan sang.

181-
Quan có dạng, tướng có hình.

182-
Quân dân, cá nước.

183-
Quan hai lại một.

184-
Quan huyện đi, quan tri nhậm.

185-
Quan khôn thì dân sáng, quan dại thì dân ngu.

186-
Quan muốn sang, nhà hàng muốn đắt.

187-
Quan nhất thời dân vạn đại.

188-
Quan nói hiếp, đồng nghiệp nói thừa.

189-
Quân pháp bất vị thân.

190-
Quan quả cô đơn.

191-
Quan quá tri nhân

192-
Quân sư quạt mo.

193-
Quan san đã trải, bị mang đã từng.

194-
Quan san nghìn dặm.

195-
Quê ta đẹp quất Tây Hồ,
Tơ vàng kén mượt đầy bồ Tứ Liên.
Hữu Hưng dệt lụa hoa hiên,
Cò bay, bướm lượn in trên lụa đào.
Cam Canh, bưởi Mỗ ngọt ngào,
Mát lòng cải bắp, su hào Trung Kiên.
Mình về Nguyên Xá mà xem,
Vườn hồng trĩu quả, chuối nêm kín làng.
Mễ Trì thơm gạo tám xoan,
Dự hương, gié cánh thóc vàng như tơ.
Gửi người dệt hộ bài thơ,
Phùng Khoang gấm đẹp còn chờ tay ta.
Cốm Vòng nức tiếng gần xa,
Cau non Dịch Vọng, tiếng gà thôn Viên.
Đường vào Cổ Nhuế vẫn quen,
Máy khâu rộn rã, mía chen vai người.
Hai Xuân như đẻ sinh đôi,
Cánh diều chung sáo, mương khơi chung đào.
Trên mình xanh thắm bí đao,
Dưới ta lúa tốt khác nào rừng xanh.
Vải thiều đỏ rực đầu cành,
Thơm mùi cam Cáo, ngọt canh đậu Giàn.
Xuân La lợn béo bao đàn,
Trắng phau cá lội, dịu vàng khoai tây.
Mình về ta nắm lấy tay,
Ta dặn câu này mình chớ có quên:
Khỏa chèo mình ngược bến Chèm,
Viếng Lý Ông Trọng, hoa chen mái đình.
Giò Chèm ai gói xinh xinh,
Nắm nem làng Vẽ đậm tình quê hương.
Chuối Sù mập quả trăm vườn,
Sang thu hương chuối quyện hương cốm Vòng.
Hoa đào dệt lối Nhật Tân,
Yêu quê hoa nở đầy sân lụa đào.
Ở đâu hợp tác công cao,
Rẽ vào Quảng Bá xem nào đâu hơn.
Rau xanh kín bãi kín vườn,
Hương sen thoang thoảng cho thơm tóc mình.
Tung tăng đàn cá lượn quanh,
Ta giăng lưới bạc rung rinh mặt hồ.
Quên sao giấy điệp Nghĩa Đô,
Tiếng chày nện sợi, câu hò nhặt khoan.
Ai xeo cho giấy mịn màng
Đẹp màu tranh mới, xuân sang quê nhà.
An Phú dẻo kẹo mạch nha,
Lợn hồng da mượt như là trong tranh.
Ở đâu thơm húng, thơm hành,
Có về làng Láng cho anh theo cùng.
Theo ai vai gánh, vai gồng,
Rau xanh níu gót bóng lồng sông Tô.
Trời cao lồng lộng như thơ,
Phi lao vi vút đôi bờ Nhuệ Giang.
Chập chùng lớp lớp, hàng hàng,
Đỏ tươi mái ngói, mây vờn khói bay.
Lòng ta như tỉnh, như say,
Mình nghe! Kìa tiếng máy cày xa xa.
Quê ta đẹp lắm quê ta,
Trăm mầu nghìn sắc quê nhà Từ Liêm.

196-
Quê ta ngọt mía Nam Đàn,
Bùi khoai chợ Rộ, thơm cam xã Đoài.

197-
Quê tôi có gió bốn mùa,
Có trăng giữa tháng, có chùa quanh năm.
Chuông hôm gió sớm trăng Rằm,
Chỉ thanh đạm thế, âm thầm thế thôi.
Mai này tôi bỏ quê tôi,
Bỏ trăng, bỏ gió chao ôi bỏ chùa.

198-
Quen biết dạ, lạ hỏi tên.

199-
Quen hơi bén tiếng.

200-
Quen mặt đắt hàng.

201-
Quen nước quen cái.

202-
Quen nhà má. lạ nhà chồng.

203-
Quen quá hóa nhờn.

204-
Quen tay hay làm.

205-
Quen tay hay việc.

206-
Quen thói bốc rời.

207-
Quét nhà long mốt, long hai,
Cha mẹ đi vắng dẫn trai vô nhà.

208-
Quét nhà long mốt, long hai,
Cặp mắt dáo dác ngó trai ngoài đường.

209-
Quét nhà ngày Tết, đổ hết gia tài.

210-
Quý gì một nải chuối xanh,
Năm bảy người giành cho mủ dính tay.
Mủ dính tay anh chùi đọt cỏ,
Đã thương nàng rồi không bỏ được đâu.

211-
Quý hồ anh có lòng thương,
Em có lòng đợi như rương khóa rồi.

212-
Qui Nhơn eo biển có cầu,
Có phố chú Chả, có lầu ông Tây.
Thông ngôn, ký lục lắm thầy,
Chân thì giày ống, tay thì ba toong,
Vợ thì đánh phấn thoa son,
Nước non còn mất, mất còn không hay.

213-
Quý nhau như nén vàng hồ,
Cho một tí lửa hóa tro tức thì.

214-
Quy Phật, quy Pháp, quy Tăng,
Ông sư, bà vãi bẻ măng xáo gà.

215-
Quýt đường, vú sữa ngổn ngang,
Dừa xanh Sóc Sãi, tơ vàng Ba Tri.

216-
Quýt làm cam chịu.

217-
Quýt rụng bờ ao, ngọt ngào anh chuộng,
Trái cam hồng đào rụng cuống anh chê.

218-
Quý hồ nàng có lòng yêu,
Cái đường đi lại còn nhiều đôi ta.
Nàng về thưa với ông bà,
Có cho nàng lấy chồng xa hay đừng?

219-
Quý hồ nhiều lúa là tiên,
Rõ ràng phú túc, bình yên cả nhà.
Bốn mùa xuân lại, thu qua,
Muốn cho thóc lúa đầy nhà hán sương.
Bước sang hạ giá, thu tàn,
Thu thu tiền hoạch, giầu sang Thạch Sùng.
Quý nhân dùng kẻ anh hùng,
Rắp toan muốn hỏi nhà nông ê hề.
Thật là chân chỉ thú quê,
Chuyên cần học nghiệp, học nghề đoan trang.
Gặp thời là được thọ khang,
Tam đa ngũ phúc, rõ ràng trời cho!

220-
Quý hồ thầy mẹ thương yêu,
Đôi ta chụm đá chung niêu giữa đường.

221-
Quý hồ tinh bất quý hồ đa.

222-
Quý Tỵ giữa ngày mồng Năm,
Giờ Dần chính nguyệt ầm ầm huyên hoa.
Một chi đánh ở Đống Đa,
Cầu Duệ kéo xuống, tốt xa muôn phần.
Phép voi xông trận tiên phong,
Cầu Tương sụt cả xuống sông Bồ Đề.
Đao binh tử trận đầy khe,
Dọc đường giáo mác nằm kề năm năm.
Điền Châu Thái thú đảm đương,
Liều mình tử trận chiến trường nên công.
Trận vây ở trong Nam Đồng,
Rạng ngày mồng Sáu cờ dong lai hàng.
Vua ban sứ bộ tiếp sang,
Quan tài phong kín đón đường kéo ra.
Con con, cháu cháu hằng hà,
Mừng lấy được xác Điền Châu đem về.
Tướng tài can đảm cũng ghê,
Làm đền phụng sự tức thì Đống Đa.

223-
Quý thay đức Mục Kiều Liên,
Treo gương hiếu thảo muôn nghìn thiên thu.

224-
Quý vật đãi quý nhân.

225-
Quyết lòng lập miếu chạm rồng,
Đền ơn phụ mẫu ẵm bồng ngày xưa.

226-
Quyền cả vạ to.

227-
Quyền cao chức trọng.

228-
Quyền giả vạ thật, ra đường hỏi ông già, về nhà hỏi con nít.

229-
Quyền huynh thế phụ.

230-
Quyền nhiên hậu tri khinh trọng.

231-
Quyền rơm vạ đá.

232-
Quýt giấy Hương Cần, cam đường Mỹ Lệ,
Vải Trạng Cung Diên, nhãn lồng Phụng Tiên,
Đào tiên Thế Miếu Thanh trà,
Nguyệt Biều, Dâu da làng Truồi, hạt sen hồ Tịnh.

233-.
Quýt làm cam chịu

234-
Quýt mọc bờ ao, ngọt ngào anh chuộng,
Trái cam trong rào, rụng cuống anh chê.
__________
(Hết)
Blog thuộc thể loại Biên Khảo
Lần đọc 135 Nhận xét 0 Edit Tags Email Blog Entry
Total Comments 0

Nhận xét

 

Giờ tính theo giờ quốc tế GMT - Greenwich Mean Time -7. Bây giờ là 04:55 PM.



Top

vB Enterprise Translator by NLP-er