Âm Nhạc
SongThan viết ngày 10-06-2008 lúc 01:37 PM
Tổng số nhận xét/cảm tưởng 4
Nhận xét/cảm tưởng
| | Người lính trong nhạc Nguyễn Văn Ðông lê hữu ![]() ![]() “Anh như ngàn gió, ham ngược xuôi theo đường mây...” (Mấy dặm sơn khê, Nguyễn Văn Ðông) H ôm ấy, tôi còn nhớ, một chiều hè năm 1969, chúng tôi ngồi ở một quán nước quen dọc bờ biển Nha Trang. Bên cạnh tôi là H., người bạn học cũ. Ðã lâu lắm chúng tôi mới gặp lại nhau kể từ ngày rời xa mái trường cũ ở một thị trấn miền cao nguyên đất đỏ. H. cho biết anh sắp sửa nhập ngũ, thì giờ rảnh rỗi như thế này sẽ chẳng còn được bao lâu nữa. Anh ta có người yêu ở thành phố biển này. Tôi thì vẫn lang thang trên sân trường đại học, tấm giấy chứng chỉ hoãn dịch trong tay vẫn còn hiệu lực... Trên mặt bàn là những chai bia đã cạn và câu chuyện cũng đến lúc cạn đề tài. Chúng tôi ngồi im lặng, cùng phóng tầm mắt nhìn ra vùng biển bao la trước mặt, chờ mặt trời lặn để ngắm cảnh hoàng hôn trên bãi biển trong lúc tiếng nhạc bập bùng vọng ra từ một góc quầy. Người đi giúp núi sông hàng hàng lớp lớp chưa về, hàng hàng nối tiếp câu thề giành lấy quê hương... “Bài gì vậy?” H. quay sang tôi, hỏi. “‘Hàng hàng lớp lớp’,” tôi trả lời. “Tên gì lạ vậy?” “Gọi tắt là vậy,” tôi cười, “tên đầy đủ là ‘Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp’.” H. lặng thinh, có vẻ chăm chú lắng nghe. Lời ca tiếng nhạc khi réo rắt, khi trầm bổng... Còn đây đêm cuối cùng nhìn em muốn nói chuyện người Kinh Kha ngại khơi nước mắt, nhạt nhòa môi em... “Giọng Hà Thanh phải không?” H. lại hỏi. “Còn giọng nam?” “Hùng Cường.” “Thiệt sao?” giọng hỏi thoáng chút ngờ vực. Tôi hiểu, anh bạn tôi đâu biết rằng, ngoài những bài “tủ” như “Vọng ngày xanh”, “Ông lái đò”, “Sơn nữ ca”..., ca sĩ Hùng Cường–một nghệ sĩ cải lương khá nổi tiếng thời ấy–với chất giọng ténor khoẻ khoắn, còn hát rất “tới” một ít bài tân nhạc khác nữa, đặc biệt là những bài của Nguyễn Văn Ðông. ![]() Bài hát chúng tôi đang nghe là của Nguyễn Văn Ðông. Anh bạn tôi đã nương theo câu hát ấy mà đi vào cuộc chiến. Anh đã nhập vào “hàng hàng lớp lớp” những đoàn người “nối tiếp câu thề giành lấy quê hương”. Mùa hè năm sau, tôi cũng “lên đường nhập ngũ tòng quân”, nghĩa là chỉ sau anh bạn H. một năm. Bạn bè tôi kẻ trước người sau lục tục vào lính. Chiến cuộc ngày càng leo thang, càng trở nên khốc liệt... H., anh bạn cùng ngồi với tôi buổi chiều ấy, cùng nghe với tôi bài nhạc ấy, cùng ngắm nhìn hoàng hôn trên bãi biển ấy, đã không còn nữa. Anh đã nằm sâu dưới lòng đất. H. đã hy sinh trong chiến trận ít năm sau đó, như biết bao người lính khác, như hơn một nửa bạn bè tôi đã nằm xuống trên khắp các mặt trận trong cuộc chiến nghiệt ngã ấy. Ðã nhiều năm, nhiều năm trôi qua, hình ảnh một chiều nào biển xanh cát trắng và những câu hát của Nguyễn Văn Ðông giữa biển trời mênh mông vẫn còn đậm nét trong ký ức tôi, mặc cho những lớp sóng của thời gian như từng đợt sóng biển cứ “hàng hàng lớp lớp” xô nhau, xô nhau tràn mãi vào bờ, rồi lại rút xuống trong con nước thủy triều của buổi hoàng hôn... Người lính Nguyễn Văn Ðông Anh bạn tôi khi còn sống đã thích bài nhạc ấy vì hai lẽ: thứ nhất, đấy là một bài nhạc lính khá hay, gợi nhiều cảm xúc; thứ hai, nội dung bài hát khá “hợp tình hợp cảnh” đối với anh ta vào lúc ấy. Chỉ nghe cái tựa thôi, “Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp”, người ta cũng biết được rằng đấy là bài tình ca viết về lính, viết cho lính. Người đi giúp núi sông, hàng hàng lớp lớp chưa về... Không chỉ là “chưa về”, trong số “hàng hàng lớp lớp” những “người đi giúp núi sông” ấy, đã có biết bao người đi không bao giờ về lại nữa. Trong số những người đi mãi không về ấy có anh bạn của tôi, người “yêu” câu hát ấy của Nguyễn Văn Ðông, trong lúc tôi và những người lính khác, những chiến hữu, những bè bạn của anh, đã may mắn hơn anh, đã sống sót trở về sau cuộc chiến; và hơn thế nữa, đã được định cư trên miền đất tự do này để nhớ về những đồng đội cũ đã hy sinh hay còn ở lại trong nước, kéo dài cuộc sống lây lất, âm thầm của những người lính già trong buổi hoàng hôn của đời người. Trong số những người lính vẫn còn ở lại trong nước ấy có người lính Nguyễn Văn Ðông, tác giả “Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp”. Ông hiện sống ở Saigon, và hầu như không còn viết nhạc nữa. Ðiều này không có gì lạ, đối với một nhạc sĩ vốn sở trường và khá nổi tiếng về những bài “nhạc lính”. Không chỉ vì chiến tranh đã đi qua, tình trạng đất nước hiện nay chắc không phải là môi trường thuận lợi giúp ông tìm lại được nguồn cảm hứng để tiếp tục sáng tác. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sinh trưởng tại Saigon (nguyên quán thuộc tỉnh Tây Ninh). Ngay từ thời niên thiếu, năm 14 tuổi, ông đã có cơ hội học hỏi về âm nhạc từ các giáo sư người Pháp trong thời gian 5 năm theo học tại trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Ðây cũng là nơi ông sáng tác ca khúc đầu tay, “Thiếu Sinh Quân hành khúc”, năm 16 tuổi, được trường chính thức công nhận và sử dụng làm bài “đoàn ca” trong các sinh hoạt tập thể. Ông là thành viên của dàn quân nhạc gồm trên 40 “nhạc sĩ” thiếu niên, từng thi thố tài năng qua nhiều buổi hòa nhạc do một nhạc trưởng người Pháp điều khiển trong các lễ duyệt binh long trọng, đồng thời cũng là thành viên ban nhạc nhẹ của trường, sử dụng thuần thục nhiều nhạc cụ như kèn, trống, mandolin, guitare hawaïenne... Ngoài sự nghiệp sáng tác, những nét chính về hoạt động âm nhạc có thể kể ra được của chàng nghệ sĩ “tay súng, tay đàn” Nguyễn Văn Ðông: Từ năm 1958, là Trưởng Ðoàn Văn Nghệ Vì Dân (với sự góp mặt của các nghệ sĩ và ca nhạc sĩ tên tuổi, như Kiều Hạnh, Kim Cương, Khánh Ngọc, Minh Diệu, Vân Hùng, Ba Vân, Bảy Xê, Trần Văn Trạch, Quách Đàm, Mạnh Phát, Minh Kỳ, Thu Hồ, Hoài Linh, vũ sư Trịnh Toàn...). Cũng từ năm 1958, là Trưởng Ban Nhạc Tiếng Thời Gian, đài phát thanh Saigon, quy tụ các ca nhạc sĩ quen thuộc thuở ấy như Lệ Thanh, Khánh Ngọc, Tâm Vấn, Minh Diệu, Hà Thanh, Anh Ngọc, Quách Đàm, Mạnh Phát, Thu Hồ, Trần Văn Trạch… (Từ năm 1962, được tăng cường thêm các ca sĩ Thái Thanh, Thanh Thúy, Minh Tuyết, Duy Khánh, Nhật Trường, Thanh Vũ, Hùng Cường... và ban nhạc Y Vân). ![]() Từ năm 1960 đến 1975, cùng người bạn là Huỳnh Văn Tứ, một nhà doanh nghiệp ở Saigon, đứng ra thành lập các hãng dĩa và băng nhạc Continental và Sơn Ca (được sự cộng tác của các nhạc sĩ tân và cổ nhạc Nghiêm Phú Phi, Văn Phụng, Lê Văn Thiện, Y Vân, Văn Vỹ, Năm Cơ, Hai Thơm...), gửi đến giới yêu nhạc nhiều chương trình âm nhạc chọn lọc. Ðây cũng là trung tâm băng và dĩa nhạc đi tiên phong trong việc thực hiện một số album nhạc cho từng ca sĩ. Một số ca sĩ “thành danh” trong làng ca nhạc trước năm 1975 như Thanh Tuyền, Giao Linh, Phương Dung, Hà Thanh... nhờ vào sự hướng dẫn và giới thiệu của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, Giám đốc Nghệ thuật của các hãng dĩa này. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông còn sử dụng các bút danh Vì Dân, Phượng Linh, Phương Hà... cho các thể loại và chủ đề nhạc khác nhau. Ít người được biết, ngoài những sáng tác về tân nhạc, ông còn viết nhạc nền cho trên 50 vở tuồng cải lương thuộc loại kinh điển ở miền Nam như “Mưa rừng”, “San hậu”, “Nửa đời hương phấn”, “Sân khấu về khuya”, “Tiếng hạc trong trăng”... và hàng trăm chương trình “tân cổ giao duyên”, một hình thức “phối hợp nghệ thuật” giữa tân và cổ nhạc khá phổ biến trong đại chúng vào thời ấy, cũng với các bút danh trên. “Là chàng trai trẻ độc thân,” ông nói, trả lời một câu phỏng vấn, “với một mối tình nho nhỏ thời học sinh mang theo trong ba-lô, tôi bước nhẹ tênh vào cuộc chiến ấy...” (1) Sau những bước “nhẹ tênh” ấy là cánh cửa mở rộng cho “chàng trai trẻ độc thân” Nguyễn Văn Ðông đặt những bước chân đầu tiên lên “đoạn đường chiến binh”, để từ đó dấn thân vào cuộc sống mới đầy hứng thú, đầy sôi động và cũng đầy ý nghĩa trong những năm dài quê hương chìm trong khói lửa chiến tranh. Chàng lính trẻ ấy từng phục vụ ở các đơn vị tác chiến, từng đóng quân tại các vị trí được xem là “điểm nóng” của các cuộc giao tranh như chiến khu Ðồng Tháp Mười, vùng Tam Giác Sắt..., từng tham dự những trận chiến ác liệt tại các địa danh Ấp Bắc, Kinh 12 và tuyến lửa Thông Bình, Cái Cái (Tân Thành)..., từng được ân thưởng nhiều huy chương về các chiến tích, trong đó có “bảo quốc huân chương” là huân chương cao quý nhất của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Hầu như khắp bốn vùng chiến thuật, nơi đâu cũng in hằn dấu chân người lính Nguyễn Văn Ðông (đúng như “Mấy dặm sơn khê”, tên một bài nhạc khá nổi tiếng của ông). Ông đã cầm súng chiến đấu vì yêu quê hương này, vì yêu dân tộc này. Ông đã yêu đời lính như yêu mảnh đất này, như yêu những đồng đội, như yêu người mình yêu... Hình ảnh người lính chiến thể hiện qua dòng nhạc của ông xem ra cũng không khác gì lắm với hình ảnh “người lính Nguyễn Văn Ðông”, cũng “áo anh mùi thuốc súng”, cũng “ngược xuôi theo đường mây”, cũng “tóc tơi bời lộng gió bốn phương”. (Ông không phục vụ ở Cục Tâm Lý Chiến như nhiều người vẫn lầm tưởng)... Mặc dầu không hề “tơ vương khanh tướng” vì “người đi giúp nước nào màng danh chi”, nhưng do lòng “tận trung báo quốc” qua các thành tích chiến đấu và phục vụ, ông cũng đã leo dần lên mãi những nấc thang binh nghiệp với chức vụ sau cùng là sĩ quan tham mưu cao cấp Bộ Tổng Tham Mưu. Có lẽ Ðại tá Trần Văn Trọng (nhạc sĩ Anh Việt, tác giả “Bến cũ”, “Thơ ngây”...) và ông được kể là những người “lính” có cấp bậc cao nhất trong số các nhạc sĩ phục vụ trong quân ngũ. Sau “ngày tàn chiến cuộc” năm 1975, như số phận của “hàng hàng lớp lớp” sĩ quan kẹt lại ở trong nước, ông đã phải lầm lũi đi vào những trại tập trung, những lò cải tạo (Suối Máu, Chí Hòa) để trả giá cho các thành tích trong quân ngũ và trong hoạt động âm nhạc. Không rõ ông đã “học tập” được những gì, có điều là cơ thể ông đã “tiếp thu” đủ thứ mầm bệnh trong những năm “cải tạo” ấy khiến sức khỏe ông có lúc suy kiệt đến trầm trọng. Chứng phong thấp, căn bệnh quái ác, đã khiến các đốt xương ngón tay của ông sưng tấy lên, các ngón tay co quắp đến gần như không còn cử động được nữa. “Anh xem này,” ông nói với người bạn “tù cải tạo” ở cùng trại Suối Máu, giọng bùi ngùi. “Bàn tay tôi như thế này coi như ‘phế bỏ võ công’ rồi, làm sao còn chơi đàn được nữa!” Tay đã thế, chân lại càng tệ hơn, các khớp xương đầu gối biến dạng và đau nhức đến mức ông phải nằm điều trị nhiều năm trong các bệnh viện ở Saigon trước khi rời bỏ đôi nạng để đi đứng được bình thường trở lại. Về đây ngơ ngác chim bay tìm đàn Về đây hoang vắng lạnh buốt cung đàn... Như là câu hát trong bài “Về mái nhà xưa” của ông, sau đúng mười năm “học tập cải tạo” (ông được thả về đầu năm 1985), tác giả bài nhạc ấy đã về lại sau cuộc chiến, về lại sau những năm đọa đầy, về lại với một thân xác đầy tật bệnh, với một tâm hồn đầy thương tích. Xa lạ trước cuộc sống mới, trước một xã hội có lắm đổi thay sau cuộc bể dâu, ông bày tỏ sự hối tiếc đã lãng phí những năm dài do không tìm lại được nguồn cảm hứng nào cho hoạt động âm nhạc cũng như không đóng góp được chút gì có ý nghĩa cho đời. Ðối với con người nghệ sĩ tài hoa, đầy sức sáng tạo, và có thói quen làm việc không ngưng nghỉ, không mệt mỏi như ông thì đấy quả là một sự “hối tiếc vô bờ” như ông nói. “Tại sao ông không xin định cư ở nước ngoài trong lúc có đủ điều kiện của người tù cải tạo?” Trả lời câu hỏi này, ông cho biết, “Do những căn bệnh ngặt nghèo tưởng như ‘hết thuốc chữa’ và do tinh thần suy sụp đến tột cùng, có lúc tôi đã nghĩ rằng mình không còn sống được bao lâu nữa nên chẳng còn thiết tha bất cứ chuyện gì, chỉ muốn từ bỏ tất cả để được thảnh thơi yên nghỉ ở cuối đời.” Vậy mà, nhờ “thần dược” hay nhờ... phép lạ, ông vẫn sống sót đến ngày hôm nay. Vợ chồng ông có một cửa hàng tạp hóa nhỏ (nơi gia đình ông cư ngụ), là nguồn thu nhập chính cho “kinh tế gia đình”. Tuy sức khoẻ có sa sút, tuy cuộc sống có chật vật, “người lính Nguyễn Văn Ðông” vẫn có lúc quên đi nỗi đau của riêng mình, vẫn có lúc để lòng mình nghiêng xuống những số phận rủi ro, những số kiếp hẩm hiu của bao người kém may mắn hơn mình. Những bản tin tôi đọc được ở trong, ngoài nước nói về các công tác cứu trợ những mảnh đời rách nát, những kiếp người lầm than, vẫn nhắc đến bàn tay nhân ái, trái tim nhân hậu của người lính, người nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông. Nhạc lính Nguyễn Văn Ðông Nhạc lính, nói sao đi nữa cũng từng là “nhạc thời trang” ở miền Nam Việt Nam một thời nào. Loại nhạc thời trang “đặc biệt” này khá phổ biến và có tuổi thọ đo được bằng chiều dài của cuộc chiến tranh hai miền Nam-Bắc, nghĩa là kéo dài hơn bất cứ loại nhạc thời trang nào khác, có lúc trở thành cực thịnh, là thời kỳ cường độ cuộc chiến gia tăng đến mức khốc liệt nhất. Còn chiến tranh là còn nhạc lính. Trong những năm dài chinh chiến ấy, có rất nhiều ca khúc khá hay viết về người lính và đời lính của một số tác giả ở trong và ngoài quân ngũ, ngợi ca tinh thần chiến đấu anh dũng, sự hy sinh cao cả và thầm lặng của người lính chiến. “Nhạc lính Nguyễn Văn Ðông” là một trong số ấy. Hơn thế nữa, nhạc lính của ông có những nét rất “riêng”, mang sắc thái đặc biệt, được rất nhiều người yêu nhạc (lính hoặc không phải lính) yêu thích. Trong phạm vi nói về “nhạc lính” của Nguyễn Văn Ðông, những ca khúc quen thuộc của ông nhưng không kể là “nhạc lính” (đôi lúc được ông ký dưới những tên khác) sẽ không đề cập trong bài này hoặc chỉ nói sơ qua. Những năm trước ngày chiến tranh kết thúc, ngoài những bài “chiến đấu ca” trong quân đội và những bài hát cộng đồng, có vẻ những bài nhạc đề cao lý tưởng, chính nghĩa, tinh thần chiến đấu và hy sinh của người lính ngày càng ít đi (trừ ít bài ngợi ca những tên tuổi cá biệt của người lính đã đền nợ nước, như “Huyền sử ca một người mang tên Quốc” của Phạm Duy, “Anh không chết đâu anh”, “Người ở lại Charlie” của Trần Thiện Thanh...). Không còn nghe thấy nữa những bài nhạc một thời làm nức lòng chiến đấu của người lính vì nước quên mình: Khi nước nhà phút ngả nghiêng, em mơ người trai anh dũng, mang thân thế hiến giang san, chí quật cường hiên ngang... (“Chiến sĩ của lòng em”, Trịnh Văn Ngân) Em chúc cho chàng lập chiến công oai hùng, vang vang lời chiến thắng, muôn thu danh chàng lừng lẫy với núi sông... (“Chàng đi theo nước”, Hiếu Nghĩa) Anh đi mai về chiến thắng, khi súng quân thù thôi vang trên non sông, tươi thắm màu cờ vui reo trên kinh thành... (“Anh đi mai về”, Hoàng Nguyên) Anh đi xây chiến thắng, dưới màu cờ quật cường, cho loài người hòa bình... (“Dặn dò”, Thanh Châu) Anh sẽ là anh đàn em nhỏ, là con của mẹ giữ quê hương... (“Tình quê hương”, Ðan Thọ & thơ Phan Lạc Tuyên) Không quên lời xưa đã ước thề, dâng cả đời trai với sa trường... (“Anh đi chiến dịch”, Phạm Ðình Chương) Và ít bài nhạc khác như “Lá thư gửi mẹ” (Nguyễn Hiền & thơ Thái Thủy), “Bức tâm thư” (Lam Phương), “Trên bốn vùng chiến thuật” (Trúc Phương), “Biệt kinh kỳ” (Minh Kỳ & Hoài Linh), “Anh về thủ đô” (Y Vân), “Mười sáu trăng tròn” (Trần thiện Thanh)... Nhạc lính Nguyễn Văn Ðông, trong lúc ấy, trước sau vẫn dạt dào tình yêu quê hương, đất nước, vẫn ngợi ca người lính chiến, vẫn đề cao lý tưởng và chính nghĩa cuộc chiến đấu của quân dân miền Nam (mà không phải... “tuyên truyền tâm lý chiến”). Nhạc lính Nguyễn Văn Ðông không có những “tô son điểm phấn” cho đời lính kiểu “anh tiền tuyến, em hậu phương”, “người yêu của lính”... Trong lời nhạc của ông không có những mộng mơ, lãng mạn kiểu “anh là lính đa tình” (“Tình lính”, Y Vân), hay “ba-lô thay người tình yêu dấu...” (“Ai nói với em”, Minh Kỳ & Huy Cường), hay “những đóm mắt hỏa châu là hoa đăng ngày cưới...” (“Những đóm mắt hỏa châu”, Hàn Châu), cũng không có những lời thở than hoặc cay đắng như “nhiều đông lắm hạ nối tiếp đi qua, thiếu bóng đàn bà...” hoặc “đến với tôi, hãy đến với tôi, đừng yêu lính bằng lời...” (“Kẻ ở miền xa”, Trúc Phương) vân vân... (Người viết chỉ nêu những khác biệt, không có ý bình phẩm). Nhạc lính Nguyễn Văn Ðông, như đời lính của ông, là cuộc chiến đấu gian khổ, là những lần xông pha trận mạc, là những cuộc hành quân không giống như là đi... picnic để “đem cánh hoa rừng về tặng em” (“Người yêu của lính”, Trần Thiện Thanh), mà luôn kề cận những bất trắc, những hiểm nguy... Ở một đôi bài Nguyễn Văn Ðông, giai điệu có lúc gần gụi với nét nhạc phóng khoáng, mênh mang của Lâm Tuyền (tác giả “Tiếng thời gian”, “Khúc nhạc ly hương”, “Hình ảnh một buổi chiều”...). Lời nhạc Nguyễn Văn Ðông như có “khẩu khí” riêng, đôi lúc phảng phất cái khẩu khí đầy vẻ thi vị trong thơ Quang Dũng, Thâm Tâm hoặc trong... “Chinh phụ ngâm khúc”, tạo nên sắc thái đặc biệt tiêu biểu cho dòng nhạc lính của ông. Có thể nói, Nguyễn Văn Ðông là một trong những nhạc sĩ sử dụng sớm nhất những từ ngữ “đường mây”, “sơn khê”, “giang đầu”, “khanh tướng”, “sa trường”, “biên thùy”, “khu chiến”, “tang bồng”, “hội trùng dương”... Những từ khá cổ điển nhưng qua nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ thích ứng, lại đặc biệt có vẻ phù hợp với “lính tráng”, làm dậy lên những cảm xúc rất “lính”, khiến nhạc lính Nguyễn Văn Ðông có một “khí hậu” riêng, mang mang thi vị của hơi thơ cổ, nhuốm vẻ hùng tráng và lãng mạn như bức họa đẹp và buồn của một “thuở trời đất nổi cơn gió bụi”. (2) Anh như ngàn gió, ham ngược xuôi theo đường mây... (Mấy dặm sơn khê) Ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê... (Mấy dặm sơn khê) Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu?... (Chiều mưa biên giới) Lòng trần còn tơ vương khanh tướng... (Chiều mưa biên giới) Thương mầu áo gửi ra sa trường... (Chiều mưa biên giới) Chốn biên thùy này xuân tới chi?... (Phiên gác đêm xuân) Xưa từ khu chiến về thăm xóm... (Sắc hoa màu nhớ) Lòng này thách với tang bồng... (Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp) Hội trùng dương hát câu sum vầy... (Hải ngoại thương ca) Chữ “đường mây” chẳng hạn (“đường mây chân núi xa...”, “ngược xuôi theo đường mây...”) là từ rất cũ (từ thuở... “Chinh phụ ngâm khúc”: “Sứ trời sớm giục đường mây”), được đưa vào ca từ Nguyễn Văn Ðông, lại như có vẻ “mới” và nghe rất “lính”. Trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí trước năm 1975, nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông cho biết ông chịu ảnh hưởng ít nhiều nền văn hóa Pháp trong sáng tác âm nhạc và nhắc đến tên vài bài nhạc cũ của những thập niên 40s, 50s như “J’attendrai”, “Ma Normandie”, “La Vie en Rose”... • “Lòng này thách với tang bồng”… Người lính trong nhạc Nguyễn Văn Ðông là lính trận, là lính tác chiến, là những người lính “áo anh mùi thuốc súng”, những người lính vừa trở về từ chiến trường lửa đạn. Hơn bất cứ một nhạc sĩ nào khác viết về lính, nhạc Nguyễn Văn Ðông làm nổi bật lý tưởng của người quân nhân cầm súng chiến đấu. Mặc “ai công hầu, ai khanh tướng”, người đi vì lý tưởng đã vẽ lên những hình tượng đẹp, lãng mạn và đầy hào khí của những chàng Kinh Kha thời đại. Người đi giúp núi sông hàng hàng lớp lớp chưa về, hàng hàng nối tiếp câu thề giành lấy quê hương... Người đi giúp nước nào màng danh chi cầu cho đất nước vượt ngàn gian nguy... (Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp) Lòng trần còn tơ vương khanh tướng thì đường trần mưa bay gió cuốn còn nhiều anh ơi... (Chiều mưa biên giới) “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” (3) Những chàng trai đất Việt nặng một lời thề, mang tổ quốc trên vai, mang tình yêu nước trong tim, hàng hàng lớp lớp theo nhau lên đường. Từng đoàn người nối tiếp những đoàn người đi viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc Việt. Đời tôi quân nhân, chút tình gửi cho núi sông... (Sắc hoa màu nhớ) Nước non còn đó một tấc lòng không mờ xóa cùng năm tháng... (Mấy dặm sơn khê) Đời dâng cho núi sông dù ngàn nắng lửa mưa dầu lòng người nhất quyết không đầu, giành lấy mai sau... (Hàng hàng lớp lớp) Khi đời đã “dâng cho núi sông”, khi lòng đã “nhất quyết không đầu”, thì… “mẹ thà coi như chiếc lá bay” (4) Đời lính thân con nề chi... Mẹ hiền ơi chớ buồn vì con, nước non chưa tròn... (Lá thư người lính chiến) Chút tình riêng đành gác lại, vì tình nước sâu hơn tình lứa đôi. Đường đi biên giới xa... lòng này thách với tang bồng đừng sầu má ấy phai hồng, buồn lắm em ơi... Hỡi người anh thương, chưa trọn thề ước nhưng tình đất nước ôi lớn lao không đành lòng dệt mối thắm riêng tư... (Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp) Vầng trăng xẻ đôi, vẫn in hình bóng một người... (Chiều mưa biên giới) “Chiều mưa biên giới” (1956), một trong những bài nhạc lính quen thuộc của Nguyễn Văn Ðông, là trường hợp khá đặc biệt, nổi tiếng do hai sự kiện: thứ nhất, nhờ sự trình diễn thành công của nghệ sĩ Trần Văn Trạch qua làn sóng phát thanh ở Paris, dẫn đến một hợp đồng thu thanh bài hát bằng hai thứ tiếng Việt và Pháp với một hãng dĩa lớn của Pháp (là việc chưa từng có trong lịch sử tân nhạc Việt thời bấy giờ); thứ hai, nhờ quyết định... cấm phổ biến của Bộ Thông Tin thời ấy, lý do là lời nhạc không thích hợp. Tại sao cấm phổ biến? Tại sao “lời nhạc không thích hợp”? Nghe lại “Chiều mưa biên giới”, tôi không thấy có “vấn đề” gì đáng gọi là cấm kỵ. Có thể là những lời lẽ dưới đây chăng(?): Chiều mưa biên giới anh đi về đâu sao còn đứng ngóng nơi giang đầu?... Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay?... (Người lính chiến... mất phương hướng, không biết sẽ đi đâu, về đâu?). Hoặc: Kìa rừng chiều âm u rét mướt... Một vùng mây nước cho lòng ai thương nhớ ai... Cờ về chiều tung bay phất phới gợi lòng này thương thương nhớ nhớ... (Người lính chiến “nhìn trời hiu quạnh”, lòng còn vương vấn chút tình... riêng?). Nếu không phải vì những lời nhạc kể trên, có thể là do giai điệu u uẩn, man mác của bài nhạc làm... nản lòng binh sĩ, làm suy giảm tinh thần chiến đấu của quân đội(?). ![]() Dù với bất cứ lý do gì, những câu hát này thực sự chẳng thấm tháp vào đâu so với những bài bản “phản chiến” ít năm sau đó, phổ biến tràn lan một thời mà chẳng ai cấm cản được, chẳng hạn “tôi có người yêu chết trận Pleime...” (“Tình ca người mất trí”, Trịnh Công Sơn), “quyết chối từ chém giết anh em...” (“Chính chúng ta phải nói”, Trịnh Công Sơn), hoặc “anh trở về bại tướng cụt chân...” (“Kỷ vật cho em”, Phạm Duy & Linh Phương), “ngày mai đi nhận xác chồng..., anh lên lon giữa hai hàng nến chong...” (“Tưởng như còn người yêu”, Phạm Duy & Lê Thị Ý)... “Chiều mưa biên giới” bị cấm phổ biến chỉ vì ra đời... sớm vài năm, trở thành một trong những bài nhạc đầu tiên được khoác cho tên gọi là “phản chiến”. “Chiều mưa biên giới” trở thành bài nhạc lính tiêu biểu của Nguyễn Văn Ðông, gắn liền với tên tuổi của ông, gắn liền với câu hát “lòng trần còn tơ vương khanh tướng thì đường trần mưa bay gió cuốn còn nhiều...” vừa mang tính “triết lý” về đời lính, vừa đượm vẻ... “lãng mạn Nguyễn Văn Ðông”. ![]() • Lãng mạn Nguyễn Văn Ðông “Chàng tuổi trẻ vốn giòng hào kiệt xếp bút nghiên theo việc đao cung” (2) Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc luôn có những năm thái bình thịnh trị và những năm chinh chiến điêu linh. Khi vận nước ngả nghiêng, những chàng trai thời loạn đã hiến dâng tuổi trẻ, lên đường theo tiếng gọi của non sông, bỏ lại sau lưng những mộng ước chưa tròn... Hình tượng người lính chiến qua dòng nhạc Nguyễn Văn Ðông, ngoài lý tưởng, lòng yêu nước thương dân, tinh thần hy sinh và chiến đấu, vẫn không thiếu nét lãng mạn của “chí lớn chưa về bàn tay không, thì không bao giờ nói trở lại...” (4) Nhìn em muốn nói chuyện người Kinh Kha ngại khơi nước mắt nhạt nhòa môi em... (Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp) Mấy ai ra đi hẹn về dệt nốt tơ duyên... (Mấy dặm sơn khê) Lãng mạn Nguyễn Văn Ðông đẹp tựa câu thơ cũ, “chàng từ đi vào nơi gió cát...” (2), câu thơ về những chàng trai, những người lính chiến ôm mộng hải hồ, bạn cùng sương gió. Trên khắp các nẻo đường đất nước, từ miền địa đầu giới tuyến đến những nơi đầu sóng ngọn gió, từ những tuyến đầu lửa đạn đến những tiền đồn heo hút xa xăm, nơi đâu cũng in hằn dấu chân người lính. Anh như ngàn gió, ham ngược xuôi theo đường mây Tóc tơi bời lộng gió bốn phương... (Mấy dặm sơn khê) Lãng mạn Nguyễn Văn Ðông đẹp tựa huyền thoại “trăng treo đầu súng” trong một “phiên gác đêm xuân” giữa vùng hành quân đồi núi chập chùng. Xác hoa tàn rơi trên báng súng ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi... (Phiên gác đêm xuân) Đêm nằm gối súng, chung ánh trăng cho người này gợi nhớ thương người kia... (Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp) Câu hát gợi nhớ câu lục bát Nguyễn Du, “Vầng trăng ai xẻ làm đôi / Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường...” Tình yêu, bên cạnh những nỗi bất trắc, vẫn nở hoa, như những đóa hồng vẫn nở bên những hầm hố và hàng rào kẽm gai. Vẫn có những mối “tình trong khói lửa”, vẫn có chút tình yêu làm quà tặng và lẽ sống cho những người lính cầm súng chiến đấu. Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng... (Mấy dặm sơn khê) Còn đây giây phút này còn nghe tiếng hát, nụ cười xinh tươi còn trông ánh mắt, còn cầm tay nhau... (Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp) Cuộc đời lính chiến, nhờ vậy, cũng sẽ đẹp thêm lên một chút. Tình yêu thường xen lẫn thân phận người lính xa nhà, xa người mình thương yêu. “Chàng thì đi cõi xa mưa gió / Thiếp lại về buồng cũ gối chăn” (2), một người đi, một người ở lại và những năm chờ tháng đợi mỏi mòn. Một người gối chiếc cô phòng còn người góc núi ven rừng, chân mây đầu gió... (Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp) Con đường đấu tranh gian khổ còn dài, những chuyến về thăm, những lần về phép, người lính chiến dừng chân trong chốc lát, rồi lại lên đường, lại miệt mài đi khi quê hương còn tiếng súng, khi máu xương còn rơi... Anh đến đây, rồi anh như bóng mây... Anh hỡi anh, đường xa vui đấu tranh... (Mấy dặm sơn khê) Tôi lại đi giữa trời sương gió Mầu hoa thắm vẫn sống trong tôi... (Sắc hoa màu nhớ) Người nghe đôi lúc bắt gặp đâu đó trong lời nhạc Nguyễn Văn Ðông những câu hát thật là đẹp. Cầm tay nhau đi anh tơ trời quá mong manh... (Mấy dặm sơn khê) “Tơ trời”?... Là sợi nắng lung linh hay sợi mưa phùn giăng mắc? Tơ trời mong manh hay những phút giây gần nhau cũng mong manh như những sợi... tơ trời? Người lính trong nhạc Nguyễn Văn Ðông vẫn có những phút để hồn mình lắng xuống, để lòng mình bâng khuâng vì một sắc hoa, một mầu áo... Chiều hành quân nay qua lối xưa, giữa một chiều gió mưa, xác hoa hồng mênh mông... (Sắc hoa màu nhớ) Người lính trong nhạc Nguyễn Văn Ðông không phải là “không có trái tim đắm say mộng mơ” (“Ai nói với em”, nhạc Minh Kỳ & Huy Cường). Những ước mơ của người lính thật đơn sơ và “trắng như mây chiều”. Ước mong nhiều đời không (cho) bấy nhiêu vì mơ ước trắng như mây chiều... (Phiên gác đêm xuân) “Mơ ước” gì vậy? Nếu không phải là nỗi ước mơ của những người đi đấu tranh để mang về mùa xuân mới cho quê hương. Mong sao nước Việt đời đời anh dũng oai hùng chen chân thế giới... Người về đây giữa non sông này hội trùng dương hát câu sum vầy Về cho thấy con thuyền nước Nam đi vào mùa xuân mới sang xa rồi ngày ấy ly tan... (Hải ngoại thương ca) • “Người lính già không bao giờ chết”… “Hải ngoại thương ca” cũng là trường hợp đặc biệt khác, sau “Chiều mưa biên giới”. Không rõ động lực nào, hoàn cảnh nào đã khiến nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông cho ra đời ca khúc ấy. Trước và sau ông hầu như chưa có nhạc sĩ nào viết về đề tài tương tự. Ðiều thú vị, các “cán bộ” văn hóa văn nghệ ở trong nước đã lầm tưởng “Hải ngoại thương ca” là “sáng tác mới” của Nguyễn Văn Ðông, đến lúc hiểu ra rằng đấy là bài nhạc cũ (1963), đã phải thốt lên, “Làm sao mà ở miền Nam ngày trước lại có bài nhạc hay đến như thế, lại phù hợp với hiện tình đất nước đến như thế!” Cái “hay” trong lời ngợi khen ấy có thể hiểu là cái hay của nội dung bài nhạc được diễn dịch theo chiều hướng có lợi và phù hợp với chính sách kiều vận, với chủ trương “hòa hợp và hòa giải dân tộc” của “nhà nước ta” đối với “khúc ruột ngàn dặm” là cộng đồng người Việt ở nước ngoài, một “bộ phận” không thể tách rời của dân tộc. Cái “hay” ấy là cái hay của những câu hát được xem là thể hiện “tâm tư tình cảm” của bà con “Việt kiều yêu nước” trong chuyến về thăm quê nhà: Một mùa thương kết muôn hoa lòng người về đây nối câu tâm đồng... Tôi đi giữa trời bồi hồi cờ bay phất phới quên chuyện ngày xưa... Người về đây giữa non sông này hội trùng dương hát câu sum vầy... Không có gì đáng ngạc nhiên khi các báo trong nước đưa tin “Hải ngoại thương ca” là một trong những bài đầu tiên được Cục Nghệ thuật Biểu diễn thuộc Bộ Văn hóa Thông tin nhanh chóng duyệt qua, trong số 18 ca khúc của Nguyễn Văn Ðông được phép lưu hành trong nước kể từ năm 2003. (Trong số, có vài ca khúc quen thuộc, như “Nhớ một chiều xuân”, “Về mái nhà xưa”, “Thầm kín”, “Khúc xuân ca”, “Núi và gió”, “Trái tim Việt Nam”... Tất nhiên là không có những bài... nhạc lính). Trong lúc “Hải ngoại thương ca” được viết với nhạc điệu slow rock khá thịnh hành giữa thập niên 60s, thể hiện tình cảm phấn khởi như những bước chân đi tới, như niềm tin phơi phới vào một vận hội mới về trên quê hương, “Mấy dặm sơn khê” có tiết tấu chậm rãi hơn, tình cảm sâu lắng hơn, phác họa nét đẹp của người lính ngược xuôi trên khắp các nẻo đường đất nước. “Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp” là bức tranh hoành tráng về đời lính được vẽ bằng những giai điệu, những khúc hát dạt dào tình nước, khi réo rắt, khi trầm bổng, khi lãng mạn như một khúc tình ca, khi hùng tráng như một khúc quân hành. Nhạc lính Nguyễn Văn Ðông từng được thể hiện qua những giọng ca khác nhau, từ Thái Thanh, Lệ Thanh, Hà Thanh, Khánh Ngọc, Lệ Thu... đến Trần Văn Trạch, Hùng Cường, Thanh Hùng, Duy Trác, Elvis Phương, Anh Khoa... và cả những ca sĩ “học trò” của ông. “Chiều mưa biên giới” phù hợp với chất giọng “nam bộ” đặc biệt của nghệ sĩ Trần Văn Trạch, trong lúc “Mấy dặm sơn khê”, “Khúc tình ca hàng hàng lớp lớp” lại phù hợp với chất giọng Huế mềm mại, ngọt ngào của Hà Thanh. Người nghe “Mấy dặm sơn khê” qua giọng hát Thái Thanh và Hà Thanh đều nhận ra mỗi giọng có cái hay riêng, có nét đẹp riêng trong cách thể hiện. Hình tượng người lính chiến, khắc họa qua dòng nhạc Nguyễn Văn Ðông, như được “nâng” lên ở tầm mức cao hơn và đẹp hơn. Lý tưởng của những người trai anh dũng hiến thân vì tổ quốc như được tô đậm hơn; chính nghĩa của cuộc chiến đấu gian khổ của quân dân miền Nam như được soi sáng hơn. Người đời, qua đó, thấy yêu mến và gần gũi hơn những người lính, thấy cảm kích và ngưỡng phục những hy sinh cao cả và thầm lặng của người chiến binh vì nước quên mình. Vậy thì không thể nào không cám ơn ông, cám ơn người nhạc sĩ đã gieo vào lòng người những mối cảm xúc sâu đậm, những ấn tượng đẹp và sắc nét về người lính và đời lính. Chiến tranh đã đi qua, những bài nhạc lính như thế ngày nay ít còn được nghe hát, thế nhưng dư âm lời ca tiếng nhạc của một mùa chinh chiến ấy và hình tượng hào hùng của người lính chiến quân lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn đọng lại mãi trong tâm tưởng biết bao người, như câu nói bất hủ của một danh tướng Hoa Kỳ, Douglas MacArthur: “Những người lính già không bao giờ chết; họ chỉ nhạt mờ đi thôi” (Old soldiers never die; they just fade away”). Sau bao mùa tang thương dâu bể, sau bao nhiêu giông tố dập vùi, “người lính già” Nguyễn Văn Ðông, ở độ tuổi 75, vẫn một niềm tin sắt son vào hồn thiêng sông núi, vẫn chưa mất niềm tin vào vận mệnh đất nước, vẫn còn nguyên vẹn trái tim chàng lính trẻ Nguyễn Văn Ðông–nặng trĩu tình quê tình nước–của những ngày đầu bước chân vào đời quân ngũ. Non nước ơi, hồn thiêng của núi sông kết trong lòng thế hệ nghìn sau nối nghìn xưa... (Mấy dặm sơn khê) “Nghìn sau nối nghìn xưa”, những thế hệ tiếp nối những thế hệ, những bàn chân tiếp bước những bàn chân, rộn ràng theo nhau lên đường đi xây lại những ước mơ chưa thành tựu của những người đã nằm xuống cho một ngày mai tươi sáng về trên quê hương Việt Nam mến yêu. “Mai sau dù có bao giờ”, nghe lại những khúc hát về người lính và đời lính, những khúc hát của một mùa nào ly loạn, hẳn người đời vẫn còn nhớ tới những người hùng tên tuổi hay những chiến sĩ vô danh, những người con yêu của tổ quốc, những người “nhẹ xem tính mệnh như mầu cỏ cây” (2), những người đã hy sinh cả xương máu, đã hiến dâng cả tuổi trẻ, cả những năm tháng tươi đẹp nhất của đời người cho tình yêu đất nước. “Chinh chiến đã qua một thì” (5), nhưng những bài hát về người lính anh dũng cầm súng chiến đấu để bảo vệ từng tấc đất quê hương, như những bài nhạc lính Nguyễn Văn Ðông, mỗi lần nghe lại là mỗi lần nghe dậy lên một niềm kiêu hãnh, một nỗi tự hào về một thiên anh hùng ca của dân tộc. Cám ơn anh, người lính già, người nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông. lê hữu Hình ảnh do nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông cung cấp cho Lê Hữu và Hoàng Lan Chi. Xin không trích đăng (1) Trả lời phỏng vấn, Hoàng Lan Chi (đài “Việt Nam hải ngoại”, WA. DC, 19/5/07) (2) Chinh Phụ Ngâm Khúc, Ðặng Trần Côn/Ðoàn Thị Ðiểm (3) Tây Tiến, thơ Quang Dũng (4) Tống Biệt Hành, thơ Thâm Tâm (5) Người Về, nhạc Phạm Duyv |
SongThan viết ngày 10-06-2008 lúc 01:40 PM |
| | Sóng Thần 137- Nguyễn Hiền, nhạc, thơ tràn muôn lối lê hữu “Anh cho em mùa xuân nhạc, thơ tràn muôn lối” (Nguyễn Hiền & Kim Tuấn) “Hôm ấy là ngày mùng 5 Tết năm 1962, tôi đến sở làm trong lúc đất trời vẫn còn hương vị Tết. Một người bạn rủ ra ngoài ăn sáng, lúc trở về, thấy trên bàn giấy có một tập thơ mỏng, tôi bèn lật qua xem thử thì gặp bài thơ năm chữ ‘Nụ hoa vàng ngày xuân’. Ðọc qua thấy hay hay và đang lúc lòng còn hưng phấn với không khí xuân tràn trề, tôi nảy ra ý định phổ nhạc bài thơ ấy. Giấy nhạc không có sẵn, tôi phải kẻ khuôn nhạc bằng tay, và chỉ độ một, hai tiếng là xong bài nhạc. Xong, tôi cất vào ngăn kéo bàn làm việc... Sáng hôm sau có anh chàng trẻ tuổi đến tìm tôi, tự giới thiệu tên mình và cho biết, ‘Hôm qua em có đến tìm anh để biếu anh tập thơ bốn mươi bài, nhưng không gặp được anh.’ Tôi nói, ‘Hóa ra anh là tác giả bài thơ xuân ấy! Tôi vừa mới phổ nhạc bài thơ của anh xong.’ Anh ta ngạc nhiên và rất vui khi tôi lấy bài nhạc trong ngăn kéo ra và… hát cho anh ta nghe. Tôi lấy câu đầu của bài thơ đặt tên cho bài nhạc, ‘Anh cho em mùa xuân’...” Người kể câu chuyện trên là nhạc sĩ Nguyễn Hiền. “Anh chàng trẻ tuổi” trong câu chuyện ấy là nhà thơ Kim Tuấn. Câu chuyện từng được nhạc sĩ Nguyễn Hiền kể không ít lần ở nơi này nơi khác, với người này người khác, những người muốn biết bài nhạc “Anh cho em mùa xuân” được ra đời như thế nào(?). Sau mỗi lần kể ấy ông đều kết luận, “Chuyện gì cũng có cái ‘duyên’ trong cuộc đời này.” Ông nói vậy và ông tin như vậy. Ông đã tin như vậy trong suốt cuộc đời mình. Trăng quê người, trăng quê mình Cái “duyên” mà nhạc sĩ Nguyễn Hiền nói đến qua câu chuyện ấy là gì, nếu không phải là mối duyên cho ông “gặp” bài thơ ấy và tác giả bài thơ ấy. Nếu không có mối duyên ấy thì “Nụ hoa vàng ngày xuân” dẫu có là bài thơ hay vẫn chỉ là bài thơ nằm im lìm trong những trang thơ. Nếu không có mối duyên ấy thì sẽ không có “Anh cho em mùa xuân”, một trong những bài nhạc xuân hay nhất của người Việt. Nếu không có mối duyên ấy thì chàng trai trẻ trong câu chuyện trên, tác giả “Nụ hoa vàng ngày xuân”, chắc sẽ không được nhiều nhạc sĩ tìm đến thơ chàng để phổ nhạc (để mong có thêm được một “Anh cho em mùa xuân” khác). Thế nhưng, “Anh cho em mùa xuân” có thực sự là một trong những bài nhạc xuân hay nhất? Hầu như trước giờ chúng ta chưa từng làm công việc tuyển chọn những bài hay nhất trong số những bài nhạc xuân, thế nhưng, ở trong nước thì đã có làm. Tết Ðinh Hợi năm rồi, báo chí trong nước (Tuổi Trẻ Online, 10/2/2007) đã tổ chức một cuộc thi gọi là “bình chọn ca khúc Xuân hay nhất”. Cách bình chọn: độc giả chọn ra ca khúc mình yêu thích nhất trong một danh sách... đã được chọn sẵn gồm 22 bài nhạc xuân. Ba bài có số phiếu bình chọn cao nhất sẽ đạt danh hiệu “Những Ca Khúc Xuân Hay Nhất”. Trong danh sách ấy có 8 bài của các nhạc sĩ ở miền Nam trước năm 1975 (tất nhiên là không có những bài chưa được phép phổ biến ở trong nước). Ðiều thú vị, kết quả cuộc bình chọn: ca khúc đứng đầu trong số ba “Ca Khúc Xuân Hay Nhất” là “Anh cho em mùa xuân” của Nguyễn Hiền, một nhạc sĩ miền Nam, sống ở nước ngoài, và đã qua đời. (Hai ca khúc xếp hạng nhì và ba thuộc về các nhạc sĩ ở trong nước). Trước đó, “Anh cho em mùa xuân” cũng từng góp mặt trong “Tuyển Tập Những Ca Khúc Hay Nhất Về Mùa Xuân” phát hành ở trong nước (nxb Mũi Cà Mau, 12/2004). Người Việt ở ngoài nước hát “Anh cho em mùa xuân”, người Việt ở trong nước cũng hát “Anh cho em mùa xuân” (và còn bình chọn là “Ca Khúc Xuân Hay Nhất”). Không chỉ là một trong những bài nhạc xuân hay nhất, “Anh cho em mùa xuân” còn là một trong những bài nhạc phổ thơ hay nhất. Khi làm công việc “lấy thơ ghép nhạc”, nhạc sĩ Nguyễn Hiền đã không đổi một chữ nào trong ba đoạn thơ đầu của “Nụ hoa vàng ngày xuân” (từ câu thơ đầu cho đến câu “mùa xuân này tất cả, lộc non vừa trẩy lá...”). Ông nhớ lại, “Thật là hứng thú khi tôi lấy ba câu thơ đầu (“Anh cho em mùa xuân / Nụ hoa vàng mới nở / Chiều đông nào nhung nhớ”...) phổ thành một câu nhạc, thấy đi rất ‘ngọt’ nên cứ thế mà phát triển bài thơ thành ca khúc.” Ðiều gì khiến ông phổ nhạc rất “ngọt”, rất nhanh bài thơ ấy? Có phải vì ông “bắt” được “tình thơ ý nhạc”? Có phải vì ông tìm thấy “trong thơ có nhạc” và ông chỉ làm công việc ghi xuống những notes, những ký hiệu âm thanh trên những dòng kẻ nhạc. Công việc có vẻ đơn giản ấy (không phải là ai cũng làm được) đã chắp cho thơ “đôi cánh nhạc”. Nhiều người viết nhạc chỉ mong phổ được một bài thơ như ông, không chút gượng ép, đi rất “ngọt”, đi rất ngon trớn, rất tự nhiên, như nguồn nhạc hứng dâng trào, như nhạc và thơ chảy tràn như suối... “Anh cho em mùa xuân” được nhà xuất bản Tinh Hoa ấn hành lần đầu, được ca sĩ Lệ Thanh trình bày lần đầu qua dĩa nhựa và làn sóng đài phát thanh Saigon, và cũng gắn liền tên tuổi cô vào “cái thuở ban đầu” của bài nhạc ấy. Tuy nhiên, nhà thơ Kim Tuấn–trong một bài trả lời phỏng vấn trong nước (báo Thanh Niên, 22/01/2006)–cho biết là ông “chịu” Hà Thanh hát bài ấy nhất, và muốn được gửi đến ca sĩ ấy một lời cám ơn... muộn màng. Trở lại chuyện “cái duyên trong cuộc đời này”, nói như nhạc sĩ Nguyễn Hiền, tôi chắc nhiều người cũng tin như ông vậy. Nếu không có cái “duyên” ấy thì dẫu có đi hết cuộc đời mình cũng chẳng ai gặp được ai, hay nếu có gặp, có “đụng” phải nhau thì cũng lại dạt ra, lại mỗi người một dòng chảy, cũng tựa như những anh chàng, những cô nàng vớ vẩn mà ta có lần gặp gỡ phất phơ đâu đó trong đời này, nói dăm ba câu chuyện rồi chia tay đường ai nấy đi và chẳng bao giờ còn gặp lại lần thứ hai. Không phải chỉ “duyên” thôi, tôi chắc nhạc sĩ Nguyễn Hiền còn tin cả vào... “duyên số”, hay “duyên kiếp”, hay “duyên tơ” nữa. Nếu không có mối duyên tơ ấy, làm sao hơn năm mươi năm về trước lại có cuộc hạnh ngộ giữa chàng nghệ sĩ tài hoa và cô cháu gái xinh đẹp của nhà thơ Tú Mỡ (khiến lòng nàng phải xao xuyến, khiến lòng chàng phải bâng khuâng “trăm năm biết có duyên gì hay không?”). Nếu không có mối duyên tơ ấy, làm sao có ngày lễ vàng kỷ niệm 50 năm nên vợ thành chồng(?). Trong một lần tiếp xúc với nhạc sĩ Nguyễn Hiền, tôi được nghe ông nói thêm một chút về điều mà ông gọi là “cái ‘duyên’ trong cuộc đời này”. “Đúng vào ngày đó giờ đó,” ông nói, “gặp người nào đó ở nơi nào đó, một quán ăn, quán nước chẳng hạn, không phải là chuyện ngẫu nhiên hay tình cờ như ta tưởng mà mọi việc đều có bàn tay sắp đặt. Đấy là bàn tay của định mệnh, hay... định mệnh đã an bài.” Những chuyện như thế từng xảy đến trong cuộc đời tôi và tôi thực sự tin vào điều ông nói. Tôi cũng muốn thêm rằng: thứ nhất, những mối duyên kỳ ngộ ấy có khi dẫn chúng ta đến một lối rẽ khác trong cuộc đời; thứ hai, đôi lúc có những con người, tuy chỉ gặp một lần thoáng qua trong đời–chẳng biết có phải duyên hay không duyên–cũng làm ta nhớ mãi nhớ hoài. Những con người đặc biệt. Cái “đặc biệt” ấy có thể là một vẻ đẹp thu hút, một nhân cách đáng quý, một câu nói hàm xúc, một hành xử ý nghĩa… Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, tôi vẫn cho rằng ông là một trong những người “đặc biệt” như thế. Lần tiếp xúc duy nhất ấy kéo dài không quá... ba mươi phút nên chắc khó có thể gọi là “cái duyên” như ông nói, nhưng khá thú vị và cũng cho tôi thấy được phần nào tính cách con người ông; hơn thế nữa, còn gieo vào lòng tôi những cảm xúc sâu đậm. Tôi gặp ông trong một tiệc cưới ở nhà hàng Dalat Bistro, đường Brookhurst, Nam Calif. vào một đêm hè cuối tháng 7/2004. Ông đứng lên từ một bàn tiệc, cúi chào mọi người khi nghe giới thiệu tên mình trong số “khách đặc biệt”. Một “khách đặc biệt” khác tôi nhớ được là ca sĩ Ngọc Minh, chị hát bài gì đó tặng cho đôi tân hôn... Vào lúc nào đó gần cuối bữa tiệc, đầu óc váng vất vì có uống chút rượu, tôi đứng dậy, bước ra cửa tìm chút thoáng gió bên ngoài. Trước mặt tôi là khoảng parking rộng. Một bóng người đứng ở góc khuất. Người ấy quay lại, mỉm cười khi nhìn thấy tôi. Khi bước lại gần, tôi nhận ra ông, nhạc sĩ Nguyễn Hiền. Ông đứng đó một mình, hút thuốc (ông tưởng tôi cùng “phe” hút thuốc với ông chắc). “Anh nói được lắm,” ông ngó tôi, nói, “ngắn gọn, ý nghĩa.” Khi ấy tôi mới hiểu ra nụ cười của ông. Ông nhận ra tôi, người đại diện hai họ có “đôi lời phát biểu” để chào đón khách đến với buổi tiệc cưới. Tôi nói cám ơn ông (ông không biết những lời ấy tôi gần như... thuộc lòng vì từng nói đi nói lại nhiều lần) và hân hạnh được biết ông. Ông tỏ vẻ ngạc nhiên khi biết tôi từ nơi xa đến để làm chủ hôn cho đứa cháu sống một thân một mình ở Mỹ... Sau ít câu thăm hỏi xã giao, lúc ông lặng yên nhìn ánh trăng trên ngọn cây, tôi nhắc đến câu hát “trăng sáng soi liếp dừa” trong bài “Anh cho em mùa xuân” của ông. Tôi cũng “tán” thêm là tôi rất thích những câu hát mang theo hình ảnh liếp dừa, như là: Đêm trăng ướt lá dừa... (“Tình quê hương”, Ðan Thọ & Phan Lạc Tuyên) Hàng dừa nghiêng thương nhớ... (“Thuở ban đầu”, Phạm Ðình Chương) Chiều xưa, gió êm lay nhẹ liếp dừa... (“Bóng người đi”, Văn Phụng) Gió mang mùa xuân tới, hôn liếp dừa lên hương... (“Mộng ban đầu”, Hoàng Trọng) “Còn nữa,” ông nói, dụi tắt điếu thuốc, “‘mắt xanh là bóng dừa hoang dại’, Phạm Ðình Chương phổ thơ Ðinh Hùng.” “Hàng dừa mang hình ảnh rất... quê hương Việt Nam,” tôi nói. “‘Hàng cau’ thì đúng hơn, theo tôi.” Câu nói của ông làm tôi… “khựng” lại trong giây phút. “‘Trăng sáng soi liếp dừa’ và ‘trăng lên bằng ngọn cau’ (1),” ông nói. “Hai trăng đều trăng cả, trăng nào ‘quê hương’ hơn?” Tôi phải chịu là ông nói đúng. “Trăng nào ‘quê hương’ hơn?”… Tôi chỉ nghĩ đến vẻ đẹp của những “hàng dừa”, “liếp dừa”, “bóng dừa”..., trong lúc ông luôn cất dấu trong đáy tim hình bóng quê nhà. Ngọn cau, hàng cau, hoa cau, hương cau…, đấy mới là quê hương. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, ngay lúc ấy tôi nhận ra nơi ông một điều, ông yêu quê hương hơn tôi và hơn rất nhiều người khác. Ông yêu quê hương theo cách của ông. Tôi cũng ngước nhìn trời. Trăng chưa thật tròn, nhưng thật sáng. Vầng trăng như vừa xa xôi lại vừa gần gụi. Đêm bỗng trở nên yên tĩnh. Trong lòng tôi khi ấy bỗng dâng lên một cảm xúc thật kỳ lạ. Tôi có cảm giác tựa hồ đã lâu lắm, có khi là từ ngày đến Mỹ, lần đầu tiên tôi mới nhìn thấy lại bầu trời và ánh trăng, và nhìn thấy trăng sáng đến như vậy. Bầu trời ấy vẫn có hằng đêm, vầng trăng ấy còn theo tôi mãi, vậy mà bấy lâu tôi nào có để ý, cứ tưởng rằng phải đi về một nơi chốn nào xa xôi lắm mới mong tìm gặp. Bầu trời nào cũng chỉ một bầu trời, vầng trăng nào cũng chỉ một vầng trăng, vậy mà con người nghệ sĩ tôi mới gặp lần đầu, nhìn trăng viễn xứ phương này lại mơ về bóng trăng soi phương nào. Ông rút điếu thuốc khác, chìa gói thuốc về phía tôi. Tôi nói đã lâu tôi không hút lại, nhưng nếu ông mời tôi xin hút với ông một điếu cho vui. Trong những câu hát, câu thơ về “hàng cau” ông kể ra sau đó, tôi nhớ đại khái “... thương về mái tranh nghèo bên hàng cau” (2), và “... bóng tre ru bên mấy hàng cau, đồng quê mơ màng” (3). Nhất thời tôi không nhớ được bài nào, câu nào để góp chuyện với ông, thế nhưng đến khi nghe ông đọc câu thơ Hàn Mặc Tử, “Sao anh không về chơi thôn Vỹ / Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên”, tôi buột miệng nói tôi biết một bài hát cũng nói đến “hàng cau” mà tôi rất thích, có thể là ông quên, vì đã lâu lắm rồi. “Bài gì?” ông hỏi. “‘Người em nhỏ’ của... Nguyễn Hiền,” tôi trả lời. “Ngày tôi đi, vàng nắng nghiêng nghiêng một hàng cau...” “Làm sao mà quên được,” ông nói sau vài giây im lặng, hạ thấp giọng, như người nói một mình. Tôi hiểu. Không ai quên được mối tình đầu. Bài nhạc đầu tay ấy (của chàng trai 18 tuổi ấy), cũng tựa như mối tình đầu trong âm nhạc của ông. ![]() Tôi nhớ đã nói với ông, không phải chỉ riêng ông mà rất nhiều người, trong số ấy có tôi, khó mà quên được “Người em nhỏ” (ông phổ từ thơ một người bạn văn nghệ, Nguyễn Thiệu Giang). Đã nhiều năm, nhiều năm trôi qua, mỗi lần nghe lại câu hát ngày xưa ấy, những cảm xúc ở trong tôi vẫn còn nguyên vẹn. Chiều nay buồn viễn xứ nhớ người em gái xưa Tôi thấy phương trời cũ giăng giăng một hàng mưa... Và giờ đây, trong cuộc sống nổi trôi nơi xứ lạ quê người, tôi chắc không ai nghe câu hát ấy mà không khỏi chạnh lòng. Trong một thoáng, tôi hiểu được vì sao lâu nay tôi, và rất nhiều người, vẫn yêu thích nhạc của ông. Thật đơn giản, vì trong những bài nhạc ấy, tình yêu đôi lứa quyện lấy tình yêu quê hương, đất nước. Có một khoảng yên lặng giữa chúng tôi lúc ấy. Sau đó, có vẻ như không muốn nói thêm về bài hát cũ ấy, ông trở lại chuyện “hàng dừa, hàng cau” và nhắc đến câu hát trong bài “Lá thư gửi mẹ” được ông phổ từ bài thơ năm chữ của Thái Thủy. Con về tầm đẹp lứa mẹ cười vun khóm dâu Mái tranh chiều vươn khói vườn thơm ngát hương cau... Những chuyện trò giữa ông và tôi là những câu chuyện lan man, không đầu không đuôi, nhảy lung tung từ chuyện này sang chuyện nọ và... không chuyện gì ra chuyện gì. Qua lối nói chuyện của ông và qua những lời ông nói tôi có cảm giác ông rất thành thực, và hơn thế nữa, rất thẳng thắn, theo cái nghĩa chuyện gì biết thì ông nói biết; chuyện gì không biết thì ông nói không biết. Tôi cũng để ý ông có lối nói chuyện thật chậm rãi, từ tốn, với một giọng trầm trầm. Ông cũng tỏ ra chăm chú lắng nghe người đối thoại. Thật không dễ gì đoán được một người biết chế ngự những cảm xúc như ông đang nghĩ gì trong đầu. Ở nơi ông như toát ra một phong thái điềm tĩnh, dáng vẻ trầm mặc của người đang chìm đắm trong suy tưởng... Tôi rất “chịu” những bài phổ thơ năm chữ của ông, tôi nhớ đã nói với ông như vậy. Có một lúc, nhắc đến bài “Anh cho em mùa xuân”, tôi hỏi ông về một “giai thoại” tôi nghe được từ... trước 1975: có đúng là ông đã đổi một chữ trong câu thơ của Kim Tuấn–“trong nắng vàng ban mai” đổi thành “rung nắng vàng ban mai”–khiến tác giả bài thơ phải “khẩu phục, tâm phục”(?). Ông mỉm cười, trả lời “đúng mà không đúng” và giải thích: đúng là ông đã đổi ra thành “rung nắng vàng ban mai” thật, nhưng câu thơ Kim Tuấn là “nắng vàng trên ngọn cây” chứ không phải “trong nắng vàng ban mai”. Tôi nói dù đúng sai thế nào tôi cũng rất thán phục tài dùng chữ của ông, vì thật khó mà tìm ra được chữ nào hay hơn chữ “rung” để đi với “xao xuyến” trong câu hát ấy. Bài thơ còn xao xuyến rung nắng vàng ban mai... Chữ “rung” ấy nghe mới “xao xuyến”, và mới “thơ” làm sao! Chữ “rung” ấy được ông sử dụng không phải chỉ một lần. Tìm đâu bàn tay che mái tóc huyền rung tơ mềm... “Trong bản nhạc ‘Tìm đâu’ ấn hành lần đầu,” tôi nói, “chữ ‘rung’ đã bị in nhầm là ‘nung’.” “Đúng thế,” ông tỏ ra ngạc nhiên thấy tôi nhớ được chi tiết ấy. “Cũng may là ca sĩ đã... tự điều chỉnh.” Ông rút điếu thuốc khác. Tôi để ý thấy ông đốt thuốc hai lần trong câu chuyện. “Có một câu tôi rất thích trong bài ‘Anh cho em mùa xuân’,” tôi nói, ngừng một chút, chờ ông hỏi “câu nào?” Nhưng ông chưa kịp hỏi và tôi chưa kịp nói thêm thì người nào đó từ trong nhà hàng bước ra tìm tôi, nói có người cần gặp... Tôi xin lỗi ông, nói rất tiếc phải tạm ngưng câu chuyện. Ông nói chờ một chút, và lấy từ trong ví ra tấm business card trao cho tôi, nói lúc nào tiện gọi phone nói chuyện cho vui. Tôi trở vào. Lúc cánh cửa khép lại, tôi quay nhìn, thấy ông vẫn đứng đó, lặng lẽ như một cái bóng. Chắc ông muốn hút cho xong điếu thuốc, tôi nghĩ. Và đấy là hình ảnh sau cùng tôi còn giữ được về ông... Tấm danh thiếp, gần như đấy là “kỷ vật” duy nhất tôi còn giữ được của ông, trên đó tôi đọc thấy hàng chữ “Hien Nguyen. Cultural Arts Commissioner”. Tôi tưởng như một ông Hiền Nguyễn nào khác, không phải là nhạc sĩ Nguyễn Hiền của “Anh cho em mùa xuân”, không phải là nhạc sĩ Nguyễn Hiền đứng cạnh tôi giữa đêm trăng ấy. “Bầy chim lùa vạt nắng...” Đúng ra, tôi còn cuộc tiếp xúc khác với ông sau lần gặp ấy. Tôi gọi phone đến ông vào một chiều cuối tuần để “nói chuyện cho vui” như lời ông dặn (và nhận ra bốn con số cuối của số phone ông, 1496, trùng với số phone nhà của tôi). Tiếc một điều, lần tiếp xúc này lại còn ngắn hơn cả lần trước vì chỉ kéo dài có... một vài phút. Ông nhận ngay ra giọng tôi khi tôi chưa kịp nói tên mình. Nghe giọng ông có vẻ vui. Sau ít câu thăm hỏi, tôi hỏi ông có bận gì vào lúc ấy không, ông nói đang sửa soạn đi dự... đám cưới. (Lại đám cưới, tôi chắc ông phải mất khá nhiều thì giờ cho những đám cưới vào cuối tuần vì những mối giao tiếp trong công việc, bè bạn). Tuy vậy, ông cũng nói được với tôi dăm ba câu cho đến lúc tôi xin gác máy để ông đi công chuyện. Ông nói sẽ gọi lại tôi sau và có chuyện vui vui muốn kể tôi nghe. Tôi không đoán ra được chuyện gì. Ít hôm sau ông gọi lại cho tôi thật và chỉ để lại... số phone của ông trên caller ID, vì tôi vắng nhà. Sau đó ít lâu tôi “thấy” ông xuất hiện trên sân khấu Paris By Night (trong chương trình ca nhạc DVD mang tên một nhạc phẩm quen thuộc của ông), trả lời ít câu hỏi nhiều người muốn biết từ người dẫn chương trình, và đệm đàn cho ca sĩ Lệ Thu hát “Mái tóc dạ hương”–một bài ông phổ thơ Đinh Hùng–đưa người nghe về lại một mùa nào “hoa bướm ngày xưa”. Một trong những bài nhạc tiêu biểu của Nguyễn Hiền được giới thiệu trong chương trình ấy là “Anh cho em mùa xuân”. Giọng hát, cách thể hiện của cô ca sĩ trẻ và giàn nhạc làm tôi thêm nhớ cái “thuở ban đầu” của bài nhạc ấy. Ít nhất đã có hai thế hệ hát “Anh cho em mùa xuân”. Các ca sĩ và ban nhạc của thế hệ thứ hai (ở trong và ngoài nước) có khuynh hướng thay đổi tiết tấu của bài nhạc ấy bằng nhịp điệu nhanh, mạnh, sôi nổi, như muốn làm rộn ràng hơn không khí mùa xuân. Việc “cải biên” này cũng… tốt thôi, và cũng phù hợp với “phong cách trình diễn” trẻ trung, sống động hiện đại, tuy rằng bài nhạc, với âm giai La trưởng và nhịp điệu Tango Habanera dìu dặt ở “thuở ban đầu”, tự nó đã đủ để mang về mùa xuân (mà không cần phải “đánh nhanh, đánh mạnh” bằng điệu nhạc kích động để... mừng đón xuân về). Việc thay đổi tiết tấu và cách trình diễn ấy có phần nào đánh mất khí hậu của bài hát là vẻ lắng đọng của đất trời vừa mới sang xuân, pha lẫn chút thi vị ngọt ngào của “bài thơ còn xao xuyến”, thể hiện qua lời thơ và từng nốt láy mềm mại ở cuối những câu nhạc. Mùa xuân của “Anh cho em mùa xuân” là xuân của trời đất giao mùa, là xuân của “lộc non vừa trẩy lá”, là vẻ e ấp của “nụ hoa vàng mới nở”. Trong cái nắng sớm của ngày đầu xuân có chút se se lạnh của chiều cuối đông còn rớt lại, có chút vấn vương của “chiều đông nào nhung nhớ”, có chút hơi hướng của đông tàn, xuân mới vừa sang... Đôi lúc việc thay đổi hoặc hát sai lời nhạc cũng làm giảm phần nào cái đẹp và độ truyền cảm của bài nhạc gửi đến người nghe. Đường lao xao lá đầy chân bước mòn vỉa phố mắt buồn vin ngọn cây... (không phải là “mắt buồn... nhìn ngọn cây”) Chữ “vin” ấy nghe rất thơ. Những chữ “lao xao” và “mòn” ấy nghe cũng rất thơ. Hai câu hát trong bài được ca sĩ… hát sai nhiều nhất: Đất mẹ gầy có lúa đồng ta xanh mấy mùa Câu thứ nhất, “đất mẹ gầy có lúa”, là ước mơ đơn sơ của tác giả bài thơ gửi về quê mẹ Hà Tĩnh (vùng “đất cày lên sỏi đá”), được nhiều ca sĩ đổi thành “đất mẹ gầy… cỏ lúa”, hoặc “đất mẹ gầy… cỏ úa”, hoặc “đất mẹ... đầy cỏ lúa”!?! Câu thứ hai, “đồng ta xanh mấy mùa”, ước mơ khác, được nhiều ca sĩ đổi thành “đồng xa xanh mấy mùa”, hoặc... “đồng xanh xa mấy mùa”!?! “Trong bài ‘Anh cho em mùa xuân’ có một câu tôi thích nhất,” tôi nhớ đã nói với nhạc sĩ Nguyễn Hiền như vậy. Có thể là ông cũng muốn nghe, muốn biết, nhưng tôi lại chưa có dịp nào (nay thì không còn dịp nào) để bộc lộ với ông. Bầy chim lùa vạt nắng trong khói chiều chơi vơi... “Bầy chim lùa vạt nắng…”, câu hát tôi thích nhất. “Lùa vạt nắng”, tôi chưa nghe ai nói thế bao giờ. Chữ “lùa” ấy rất mới, rất thơ. Làm sao mà ông lại có thể nghĩ ra được cái chữ tài tình đến như vậy? Làm sao mà ông lại dùng chữ ấy chứ không phải là chữ nào khác? (“Bầy chim… đùa vạt nắng” chẳng hạn, như thế cũng là hay, nhưng không thể hay bằng “... lùa vạt nắng”). Ngày ấy chưa ai viết những lời như thế trong thơ, trong nhạc. Mãi về sau này ta mới nghe “lùa nắng cho buồn vào tóc em” (“Nắng thủy tinh”, Trịnh Công Sơn). Điều thú vị, câu ấy không phải là câu thơ Kim Tuấn trong “Nụ hoa vàng ngày xuân”, mà là thơ... Nguyễn Hiền. “Con chim mừng ríu rít” trong bài thơ được ông đổi ra thành “bầy chim lùa vạt nắng”, để tương ứng với những nốt nhạc thấp cao, trầm bổng, vừa giữ được ý thơ (vẫn “nghe” được tiếng chim “ríu rít” mừng vui), vừa “thơ” hơn và giàu hình ảnh hơn. Tôi yêu câu thơ “mắt buồn vin ngọn cây” của Kim Tuấn và tôi yêu câu hát “bầy chim lùa vạt nắng” của Nguyễn Hiền. Câu thơ ấy rất “Kim Tuấn”, câu hát ấy rất “Nguyễn Hiền”. Tôi cũng yêu lối sử dụng những động từ “vin” và “lùa” ấy trong kho tàng tiếng Việt. “Nhạc chan hòa đây đó”, câu hát ấy không thấy trong thơ Kim Tuấn. Hơn thế nữa, “nhạc, thơ tràn muôn lối”, câu hát cuối ấy cũng không thấy trong thơ Kim Tuấn. Trong “Nụ hoa vàng ngày xuân” không có câu nào nói đến “nhạc” cả. Vậy thì những câu ấy ở đâu ra, nếu không phải là… thơ của Nguyễn Hiền. Trong nhạc có thơ, trong thơ có nhạc. Nhạc quyện vào thơ, thơ quấn lấy nhạc. Nhạc thơ, thơ nhạc đã hòa làm một. “Anh cho em mùa xuân. Nhạc, thơ tràn muôn lối...” Câu kết ở phần coda ấy là một “biệt lệ” (hiếm khi được sử dụng trong nhạc thuật của ông) trong số những bài nhạc vẫn được ông soạn theo khuôn mẫu “cổ điển” với cấu trúc khá cân phương. Những chuỗi nốt nhạc rải đều và nốt ngân cuối rướn cao như bay lên cùng mùa xuân và tan loãng trong không, vẽ lên một nét nhạc đẹp. Cái hay của phần coda ấy là cái hay của một kết thúc đẹp, tròn đầy, gói trọn tình ý của bài nhạc. Việc ông không thay đổi câu, chữ nào suốt khổ thơ đầu của “Nụ hoa vàng ngày xuân” làm nhớ tới những bài thơ ngũ ngôn khác từng được các nhạc sĩ khác phổ thành ca khúc cũng rất là “ngọt”. Hoặc, giữ nguyên vẹn bài thơ, như “Tiếng thu”, nhạc sĩ Phạm Duy phổ từ bài thơ cùng tên của Lưu Trọng Lư; hoặc, chỉ đổi có... một chữ trong toàn bài thơ, như “Chiều”, nhạc sĩ Dương Thiệu Tước phổ từ “Màu cây trong khói” của Hồ Dzếnh (chỉ đổi câu thơ cuối “khói xanh bay lên cây” thành “khói huyền bay lên cây”). Sau câu thơ “lộc non vừa trẩy lá”, những câu nào không giữ nguyên được thì nhạc sĩ Nguyễn Hiền bèn thay đổi chút ít, trong lúc vẫn giữ ý chính của câu thơ. Lạ một điều, những câu ông đổi nghe rất thơ, và có phần... thơ hơn cả tác giả bài thơ. Chẳng hạn: “Con chim mừng ríu rít” đổi thành “bầy chim lùa vạt nắng” “Ngoài đê diều thẳng cánh” đổi thành “ngoài đê diều căng gió” “Câu hát hò vẳng đưa” đổi thành “thoảng câu hò đôi lứa” “Trẻ đùa vui nơi nơi” đổi thành “trẻ nô đùa khắp trời” “Nắng vàng trên ngọn cây” đổi thành “rung nắng vàng ban mai” Người nhạc sĩ đã “làm mới” thơ, đã làm thơ “thơ” thêm một lần nữa. Tâm hồn nhạc sĩ Nguyễn Hiền vốn nhạy bén với thơ, dễ bắt được những tần số rung động của thơ. Ông đã “nâng” thơ lên, đã chắp cho thơ “đôi cánh nhạc”. Ngôn ngữ nhạc quyện lấy ngôn ngữ thơ, khiến thơ bay lên, nhạc cũng bay lên. “Nụ hoa vàng ngày xuân” đã bước ra khỏi những trang thơ để hóa thành một trong những bài nhạc xuân hay nhất. Nếu được phép “bầu chọn ca khúc Xuân hay nhất” cho riêng mình, “Anh cho em mùa xuân” chắc chắn là một trong vài bài nhạc xuân tôi yêu nhất và luôn muốn được nghe đi nghe lại. Sau bao mùa tang thương dâu bể, sau bao nhiêu vật đổi sao dời, bài nhạc xuân ấy nghe vẫn cứ “mới”, như mùa xuân vẫn “mới”, như những “nụ hoa vàng” vẫn nở trong nắng mới của một ngày đầu xuân. Sau “Anh Cho Em Mùa Xuân”, ta còn có thêm những bài phổ thơ Kim Tuấn khác của các nhạc sĩ khác, như “Những Bước Chân Âm Thầm” của Y Vân, “Khi Tôi Về” của Phạm Duy, “Ta ở trời Tây, nhớ trời Đông” của Phạm Ðình Chương, “Khi xa Saigon” của Lê Uyên Phương... và không ít những ca khúc khác của các nhạc sĩ trong và ngoài nước. Hai ca khúc phổ biến nhất trong số ấy vẫn là “Anh Cho Em Mùa Xuân” của Nguyễn Hiền và “Những Bước Chân Âm Thầm” của Y Vân (phổ từ bài “Kỷ Niệm” của Kim Tuấn). Tôi yêu thuở ban đầu của “Anh cho em mùa xuân”, như yêu tiếng hát mềm mại và nũng nịu của Lệ Thanh, như yêu những nốt nhạc luyến láy của “chiều đông nào nhung nhớ”, của “ngoài đê diều căng gió, thoảng câu hò đôi lứa…” Tôi cũng yêu thuở ban đầu của “Những Bước Chân Âm Thầm”, như yêu những tiếng hát trầm ấm của Mai Trường-Trần Ngọc-Hồng Phúc (và của ban hợp ca Thăng Long sau này), như yêu vẻ trầm mặc của những “rặng thông già lặng câm”, như yêu những mối “tình nở muộn” và những ngọn “đèn thắp mờ bóng đêm”. (Làm như có sự gần gũi nào đó giữa hai bài thơ, giữa hai bài nhạc, giữa “chân bước mòn vỉa phố” và “từng bước, từng bước thầm”...). Đó là những tiếng hát của một mùa kỷ niệm. Đó là thời kỳ của những tiếng hát thực sự là những tiếng hát, chưa có những phô diễn kỹ thuật và cũng chưa có những hòa âm phối khí tân kỳ. Ðến nay thì cả Y Vân, Kim Tuấn và Nguyễn Hiền đều lần lượt đã ra người thiên cổ (và cả Phạm Đình Chương, Lê Uyên Phương... cũng đã ra người thiên cổ), thế nhưng những khúc nhạc đẹp tựa bài thơ ấy sẽ còn đọng lại mãi trong lòng người. “Ngàn kiếp mây bay không phai niềm nhớ...” Không phải chỉ những ca khúc phổ thơ của Nguyễn Hiền mới là những ca khúc “đẹp tựa bài thơ”. Có thể nói, những người yêu cái đẹp cũng sẽ dễ dàng yêu những khúc nhạc êm êm, lâng lâng, yêu những khúc hát êm đềm, ngọt ngào và thi vị của người nhạc sĩ ấy, những khúc hát đẹp và buồn như một nỗi tiếc thương... về một hình bóng đã xa khuất và những ngày vui qua mau. Chiều tím không gian mênh mang niềm nhớ mây bay năm xưa còn đó đâu tìm người hẹn hò... (“Ngàn Năm Mây Bay”) Tìm đâu bàn tay che mái tóc huyền rung tơ mềm tìm đâu muôn màu hoa nắng lung linh vương chân êm... (“Tìm Đâu”) Nơi ấy bao ngày xanh qua hồn thơ mơ màng quá yêu những khung trời hoa bướm với nắng tơ vàng êm... (“Hoa Bướm Ngày Xưa”) về một sân trường kỷ niệm và một mùa nào lãng mạn. Mùa thu ánh trăng dõi bên thềm... nắng loang trên sân trường một mùa nào... (“Từ Giã Thơ Ngây”) Những mái tóc chấm vai, sân trường tìm đâu thấy... (“Em Là Vì Sao Sáng”) Thuở ấy không gian chìm lắng trong mơ tà áo em xanh, mầu mắt ngây thơ... Tôi đi trong mơ tìm bóng dáng yêu kiều mùa thu lá rơi bên đường thật nhiều... (“Tiếng hát học trò”) về một “quê hương khuất bóng hoàng hôn” và những mùa xuân thanh bình một thuở. Lòng ta mơ quê hương nơi sống bao ngày thắm... Ta nhớ tới những phút xa vời làng cũ nay chìm trong sương mờ rơi... (“Ý Nhạc Chiều”) Cho nhớ thương về quê xưa mùa xuân không còn nữa muôn cánh hoa đào phai úa lối cũ rơi hững hờ... (“Hoa Bướm Ngày Xưa”) Âm nhạc Nguyễn Hiền, nói như ca sĩ Quỳnh Giao, “là sự mời gọi trở về một không gian đã tắt, một thời gian đã lặng...” (4) Nghe nhạc Nguyễn Hiền là nghe những lắng đọng, là nghe hồn lắng xuống, là chìm đắm trong một ký ức xa vời. Cám ơn ông, cám ơn người nhạc sĩ đã dạo lên những khúc nhạc êm đềm để giữ cho những giấc mơ ngọt ngào của chúng ta không bao giờ mất hẳn. Có lẽ vì những nét nhạc lâng lâng gợi nỗi tiếc nhớ mênh mang ấy, các bài nhạc của Nguyễn Hiền thường được các giọng nữ thể hiện nhiều hơn (mặc dầu ở một đôi bài, giọng nam khá phù hợp). Chẳng hạn, “Lá Thư Gửi Mẹ” với Thái Thanh, Khánh Ngọc, Mỹ Thể, Lệ Thanh, Thái Hiền; “Mái Tóc Dạ Hương” (phổ thơ Đinh Hùng, tựa ban đầu là “Những Phố Không Đèn”) với Hồng Vân, Lệ Thu, Thanh Lan, Ý Lan; “Anh Cho Em Mùa Xuân” với Hà Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu; “Ngàn Năm Mây Bay” với Kim Tước, Mai Hương, Khánh Hà; “Người Em Nhỏ” với Lệ Thanh, Mai Hương, Mỹ Thể; “Từ Giã Thơ Ngây” với Thanh Thúy, Hà Thanh, Xuân Thu, Hoàng Oanh; “Tiếng Hát Học Trò” với Lệ Thanh, Thanh Lan, Hoàng Oanh; “Hoa Bướm Ngày Xưa” với Trúc Mai, Lệ Thu; “Thầm Ước” với Thái Thanh, Hoàng Oanh; “Tìm Đâu” với Lệ Thanh; “Hương thề” (phổ thơ Hoàng Ngọc Liên) với Thanh Thúy; “Hai Mươi Câu Của Tuổi Trẻ” (phổ thơ Song Hồ) với Lệ Thu; “Tiếng Sáo Diều” với Quỳnh Giao; “Ý Nhạc Chiều” với Kim Tước; “Gửi Một Cánh Chim” với Mai Hương… Trong số những sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Hiền, ngoài những bài phổ thơ, có những bài đến từ nguồn cảm hứng qua các tiểu thuyết hoặc phim ảnh trong nước thời ấy, như “Buồn ga nhỏ” (từ tiểu thuyết cùng tên của Thanh Nam) hoặc “Ngàn năm mây bay”, “Tiếng hát học trò” (từ các tiểu thuyết cùng tên của Văn Quang, được các đạo diễn Thái Thúc Nha và Hoàng Anh Tuấn thực hiện thành phim). Đôi lúc ông cũng viết nhạc chung với những người bạn nhạc sĩ (như “Buồn ga nhỏ”, “Từ giã thơ ngây”, “Tiếng hát học trò” viết chung với Minh Kỳ; “Hoa đào năm trước” viết chung với Lê Dinh; “Về đây anh” viết chung với Nhật Bằng…). Có khi ông viết nhạc, bạn ông viết lời (như những bài “Hoa bướm ngày xưa” và “Thanh bình ca”, lời của Thanh Nam); có khi ông viết lời, bạn ông viết nhạc (như những bài “Lá rơi bên thềm” và “Màu tím hoàng hôn”, nhạc của Lê Trọng Nguyễn). Những người từng quen biết và gần gũi với nhạc sĩ Nguyễn Hiền, khi nhắc đến ông, đều bộc lộ sự cảm mến, quý trọng và đều có chung một nhận xét về con người nghệ sĩ tài hoa với một nhân cách lớn, một kiến thức sâu rộng về âm nhạc đông và tây phương, thể hiện qua mẫu người mực thước, trầm tĩnh và khiêm tốn; đồng thời, cũng tỏ lòng ngưỡng phục về những cống hiến của ông đối với các hoạt động văn hóa, nghệ thuật làm nổi bật bản sắc của dân tộc, mang lại niềm tự hào cho cộng đồng người Việt. *** . . . . . “gặp gỡ để chia phôi cuộc đời như gió thoảng còn chút tình trong tôi” Quả đúng là “cuộc đời như gió thoảng”, như câu thơ ông viết gửi người bạn thiết, nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn (tác giả “Nắng chiều”, “Sao đêm”, “Bến giang đầu”, “Chiều bên giáo đường”…), một năm sau ngày bạn ông lặng lẽ “rời bỏ cõi thế để an nghỉ trên đỉnh bình yên” (5). Ông gọi bạn mình là “một nghệ sĩ tài ba khiêm tốn rất mực” (5). Cái danh hiệu ông gán cho người bạn đã khuất, nay nếu có đem… gán cho ông chắc cũng không sai chút nào. Nay thì cả ông và nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn đều đã như những cánh “lá rơi bên thềm” nhà vắng. Những chiếc lá dẫu đã lìa cành, những người nhạc sĩ dẫu đã ngừng viết nhạc, thế nhưng những khúc nhạc ấy, những khúc nhạc làm cho cuộc sống thêm ý nghĩa, vẫn luôn được yêu thích, vẫn được hát lên ở trong nước ngoài nước, ở mọi nơi mọi chốn. Nhạc sĩ Nguyễn Hiền, cho đến cả những phút cuối đời, những phút chênh vênh giữa hai bờ tử sinh, những phút chạm tay vào lằn ranh sống chết, vẫn còn bày tỏ nỗi niềm trăn trở và ước mơ về một vận hội mới về trên quê hương. Ngọn nến leo lét tưởng chừng sắp tắt ấy trong giây phút cuối vẫn còn lóe sáng một niềm tin. Tin nhạc sĩ Nguyễn Hiền bị ung thư phổi nặng khá bất ngờ đối với tôi và nhiều người, và cả… chính ông, vì trước đấy, hầu như không có dấu hiệu xấu nào cho sức khỏe của ông. Ông qua đời chỉ ít tuần sau khi nhận được tin xấu ấy, vì bệnh trạng đã ở vào thời kỳ “hết thuốc chữa”. Tôi nhớ, vào một buổi tối, sau ngày ông mất, lúc đang ngồi ở bàn computer tôi bỗng nghe một giọng hát cất lên. “Chiều tím không gian mênh mang niềm nhớ...” Một bài của Nguyễn Hiền. Người ta đang cho phát thanh lại một bài nhạc cũ của ông. Tôi ngồi yên lặng một lúc, lắng nghe... Bỗng dưng tôi cảm thấy thèm hết sức một hơi thuốc. Tôi vẫn để gói thuốc lá trong ngăn kéo bàn làm việc, lâu lâu kéo một điếu khi bè bạn đến chơi. Có khi tôi quên bẵng đi, khá lâu không đụng tới. Tôi khẽ mở cửa sau, bước ra ngoài. Trời gây gây lạnh. Đêm tối yên lặng quá. Tôi nhớ, đó là một đêm cuối năm. Tiếng hát vẫn như quấn lấy chân tôi. “Nhớ nhau khi mây vương vương mầu tím”…“Ngàn kiếp mây bay không phai niềm nhớ...” Tôi đốt một điếu thuốc, đứng nhìn thật lâu vào khoảng không. Cứ mỗi lần hay tin một người quen nào đó vừa mới qua đời, tôi lại có cảm giác thật hụt hẫng, và nhận rõ được cái vô nghĩa mênh mông đến tột cùng của đời sống. Trong bỗng chốc, tôi thấy rõ, cuộc sống… không là gì cả. Cuộc sống nhẹ tênh, như bóng mây qua, như… “ngàn năm mây bay” mây vẫn bay. Bỗng dưng tôi nhớ lại một đêm nào, tôi cũng mở cánh cửa, cũng bước ra ngoài, và tôi... gặp ông. Tôi quăng điếu thuốc sau khi bập bập vài hơi, chẳng thấy ngon lành gì, và cảm thấy thiếu thiếu một cái gì(!)... Tôi ngước nhìn trời đêm, và gặp ánh trăng. Trăng chưa tròn, nhưng thật sáng, và trông thật gần. “Trăng nào ‘quê hương’ hơn?” tôi nhớ ông hỏi tôi. Tôi đã không trả lời dù biết câu trả lời. Tôi dõi mắt hướng về một ngôi sao xa nhất, khi ẩn khi hiện trên nền trời đen thẫm, trông xa vẫn thấy lấp lánh như có một linh hồn. Tôi không biết giờ này ông ở đâu, nhưng tôi tin rằng linh hồn ông–như cụm mây lững lờ–đã bay về lại quê hương cũ, về lại nơi chốn có những thửa ruộng, có những mảnh “vườn thơm ngát hương cau”, có những chiều “ngoài đê diều căng gió”, có những đêm “trăng sáng soi liếp dừa”, có những “bầy chim lùa vạt nắng” và có những “mùa thu lá rơi bên đường thật nhiều”... Tại sao lại “ngàn kiếp mây bay không phai niềm nhớ...” mà không phải là “ngàn năm mây bay…” như cái tựa của bài hát ấy? Tôi hiểu, ông đã đổi một chữ trong câu hát cho tương ứng với nốt nhạc trầm bổng. Tôi tự hỏi và tự trả lời. Như ông đã đổi ít câu, ít chữ khi phổ nhạc bài “Nụ hoa vàng ngày xuân”. Anh cho em tất cả / Tình yêu non nước này / Bài thơ còn xao xuyến / Nắng vàng trên ngọn cây... Bài thơ đã làm ông “xao xuyến”. Bài thơ ông đọc thấy tình yêu đôi lứa quyện lấy tình yêu quê hương, đất nước. Tôi hiểu được vì sao ông đã chọn bài thơ xuân ấy để phổ nhạc. Người viết bài hát ấy đã đi xa, thế nhưng bài hát ấy, sau bao nhiêu năm, vẫn còn ở lại, vẫn có một sức sống, vẫn không bao giờ cũ. Như ngàn năm mây vẫn bay, như đất trời vẫn bốn mùa, như những lứa đôi vẫn yêu nhau, như những nụ hoa vàng vẫn nở khi đất trời vừa mới sang xuân. Và cuộc sống, nhờ thế, nhờ có những bài xuân ca như thế, cũng sẽ đẹp thêm lên một chút. “Anh Cho Em Mùa Xuân”, bài nhạc xuân rất xuân, và rất thơ. Lê Hữu 12/2007 (Nhân kỷ niệm hai năm ngày mất của nhạc sĩ Nguyễn Hiền) --------------------------------------------- (1) Kỷ Niệm, nhạc Phạm Duy (2) Nhớ Bến Ðà Giang, nhạc Văn Phụng & Chiêu Tranh (3) Làng Tôi, nhạc Chung Quân (4) Màu Tím Bên Thềm Năm Mới, Quỳnh Giao (nhật báo Người Việt, 27/12/2005) (5) Vài nét về nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn, Nguyễn Hiền (lời giới thiệu Tuyển Tập Nhạc Lê Trọng Nguyễn, 6/2005) ------------------------------------------------------------------- (1) Kỷ niệm, nhạc Phạm Duy (2) Nhớ Bến Ðà Giang, nhạc Văn Phụng & Chiêu Tranh (3) Làng Tôi, nhạc Chung Quân |
SongThan viết ngày 10-18-2008 lúc 11:15 AM |
| | Sóng Thần 138 ÁO DÀI TRONG NHẠC VÀ THƠ lê hữu ![]() ![]() “Tâm tư khép, mở đôi tà áo...” (“Tự tình dưới hoa”, Đinh Hùng) C hiều nào áo tím nhiều quá, lòng thấy rộn ràng nhớ người... Giọng hát dìu dặt và trầm ấm của Duy Trác cất lên đâu đó trong một chiều cuối thu gợi nhớ hình ảnh và nơi chốn thân quen trước “cổng trường áo tím” những chiều tan học. Áo tím túa ra như đàn bướm, áo tím thướt tha dọc theo những lối đi dưới lá trên lề đường Phan Thanh Giản, trên những đường phố Saigon ngập nắng. Những tà áo nhẹ bay trong gió từ lâu lắm đã đi vào thi ca, đã làm rung động lòng người và là nguồn cảm hứng vô tận của những người làm thơ, viết nhạc. Tà áo nên thơ ấy, dưới đôi mắt ngắm nhìn của người nghệ sĩ, là bức tranh sinh động với nhiều đường nét, nhiều dáng vẻ, thể hiện qua từng lời thơ ý nhạc: Dưới mắt Phạm Đình Chương là "áo bay mở, khép nghìn tâm sự..." (Mộng Dưới Hoa) Dưới mắt Vũ Thành là "áo dài bay ngờm ngợp cả khung trời..." (Mùa Kỷ Niệm) Dưới mắt Hoàng Dương là "áo mầu tung gió chơi vơi..." (Hướng Về Hà Nội) Dưới mắt Trịnh Công Sơn là "áo xưa lồng lộng đã xô dạt trời chiều..." (Tình Nhớ) Những vạt áo dài, từ lâu lắm, đã lất phất trong những trang thơ tiền chiến. Từ “đôi tà áo lụa bay trong nắng…” (Áo Lụa, Bàng Bá Lân) đến: “Nắng thơ dệt sáng trên tà áo, lá nhỏ mừng vui phất cửa ngoài...” (Áo Trắng, Huy Cận). Áo dài cũng len cả vào những câu lục bát trữ tình của Nguyễn Bính: "Hồn anh như bông cỏ may một chiều cả gió bám đầy áo em" (Bông Cỏ May) Và len cả vào dòng thơ hào hùng mà lãng mạn của Quang Dũng: "Em đi áo mỏng buông hờn tủi dòng lệ thơ ngây có dạt dào" (Đôi Bờ) ![]() Áo dài còn là giấc mơ thanh bình của những làng quê hiền hòa trong tình ca quê hương của Phạm Duy: "Nằm mơ, mơ thấy trăm họ tốt tươi, mơ thấy bên lề cuộc đời, áo dài đùa trong tiếng cười..." (Quê Nghèo) Kỷ niệm êm đềm về một tà áo, một đôi mắt huyền được Tô Vũ ghi lại bằng nét nhạc lâng lâng: "Em đến thăm anh, người em gái, tà áo hương nồng, mắt huyền trìu mến sưởi ấm lòng anh..." (Em Đến Thăm Anh Một Chiều Mưa) “Ta ước mơ một chiều thêu nắng...” Nỗi “ước mơ” của chàng nhạc sĩ họ Tô ấy được vẽ lại trong thơ Trần Dạ Từ. Trong phút giây chờ đợi bước chân người tình khe khẽ đến bên hiên nhà, chàng tưởng chừng nghe được cả tiếng gió lay động vạt áo dài và tiếng lá nhẹ rơi bên thềm: "Môi cười vết máu chưa se cành hoa gạo cũ nằm nghe nắng hiền Anh nằm nghe bước em lên ngoài song lá động, trên thềm áo bay" (Khi Nàng Đến) Áo bay làm nhớ nhung, như nỗi nhớ da diết một mầu áo, một đôi môi thắm trong nhạc Từ Công Phụng: "Chiều nay nhớ em rồi, và nhớ áo em đẹp trời thơ, môi tràn đầy ước mơ..." (Bây Giờ Tháng Mấy) Áo bay làm ngơ ngẩn, như chàng Huy Cận thuở mới lớn, trước cổng trường nữ sinh: “Một hôm trận gió tình yêu lại, đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư” (Học Sinh) Áo bay làm thẫn thờ, như chàng thi sĩ đa tình Nguyễn Tất Nhiên, dõi mắt nhìn theo mãi một tà áo vu quy: "Đò qua sông chuyến đầu ngày, người qua sông mặc áo dài buông eo" (Chuyến Đò Cửu Long) “Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong” (1) Áo trắng trinh nguyên tuổi học trò, áo trắng của “một thời áo trắng”, từng làm ngất ngây trái tim bao chàng trai, để đêm đêm trong giấc ngủ chập chờn còn trông thấy "áo ai bay trắng cả giấc mơ". Áo trắng như dòng suối mát trong thơ Huy Cận: “Dịu dàng áo trắng trong như suối, tỏa phát đôi hồn cánh mộng bay” (Áo Trắng) Áo trắng như lụa trắng trong thơ Hoàng Anh Tuấn: “Áo em lụa trắng sông Hương qua đò Thừa Phủ nhớ thương rạt rào” (Về Chân Trời Tím) Hay trong thơ Kim Tuấn: “Em về tà áo lụa bay ngập ngừng trong anh” (Thu ở Xa Người) Hay trong thơ Nguyên Sa: "Mây cao, gót nhỏ, mây vào gót, áo lụa trăng mềm bay xuống thơ" (Tám Phố Saigon), hoặc "Anh vẫn yêu mầu áo ấy vô cùng thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng" (Áo Lụa Hà Đông) Áo trắng như gió, như mây, để “nhà thơ của tình yêu” phải bâng khuâng: "Có phải em mang trên áo bay hai phần gió thổi, một phần mây? Hay là em gói mây trong áo rồi thở cho làn áo trắng bay?" (Tương Tư) Áo trắng của nhà thơ còn là dải sương mù lướt thướt trên bến sông Seine giữa kinh thành hoa lệ Paris, gợi nhớ một vạt áo dài ở chốn xa quê nhà: "Anh về giữa một dòng sông trắng là áo sương mù hay áo em" (Paris Có Gì Lạ Không Em?) Áo trắng của Hoàng Thi Thơ là bướm trắng, là hoa trắng, là mây trắng… “Ngày nào em đến áo em mầu trinh, áo xinh là xinh, áo em trong trời buồn, là gió, là bướm, là hoa, là mây chiều tà...” (Hình Ảnh Người Em Không Đợi) Áo trắng một màu trắng thanh khiết trong nhạc Nguyễn Vũ: “Áo trắng em bay như cánh thiên thần…” (Bài Thánh Ca Buồn) Áo trắng nhẹ bay trong chiều giáo đường trong nhạc Lê Trọng Nguyễn: “Tà áo trinh nguyên tung bay, nụ cười thân ái...” (Chiều Bên Giáo Đường) Áo trắng một màu trắng xóa làm hoa cả mắt nhà thơ Hàn Mặc Tử: “Áo em trắng quá nhìn không ra” (Đây Thôn Vĩ Dạ) Áo trắng như đôi cánh trắng trên sân trường kỷ niệm trong thơ Luân Hoán: “Tà áo trắng xoè như đôi cánh lượn trải dịu dàng trên cỏ mượt mà xanh” (Trong Sân Trường Bữa Ấy) Mỗi người đều cần có một mái trường để luyến tiếc, để nhớ về... Nhớ về ngôi trường cũ là nhớ về những người thầy người bạn, là nhớ về những lớp học những sân chơi và những năm tháng tươi đẹp nhất của một thời tuổi trẻ. “Áo mầu tung gió chơi vơi” Áo bay như bướm lượn, áo bay như đàn bướm trong khu vườn mùa xuân. Áo bay nhiều quá, để chàng nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ làm... thơ: “Hôm nay sao áo bay nhiều thế! Tôi tưởng ngàn cánh bướm khoe mầu...” (Tà Áo Cưới) Áo mầu của Phạm Duy lất phất trong gió chiều như lòng người... phất phơ: “Xin cho em một chiếc áo mầu, cho em đi nhẹ trong nắng chiều. Một chiều nhiều người theo, ở ngoài đường trên phố, và lòng người như áo phất phơ..." (Tuổi Ngọc) ![]() Nhớ về một mầu áo là nhớ về những đường phố quen tên, nhớ áo ai bay trong chiều trên những con đường ngập xác lá vàng, như nỗi nhớ ngút ngàn của Trịnh Công Sơn: "Nhớ Saigon những chiều lộng gió, lá hát như mưa suốt con đường đi, có mặt đường vàng hoa như gấm, có không gian mầu áo bay lên..." (Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên) Những tà áo muôn mầu muôn vẻ vẫn khoe sắc thắm trong những trang thơ và nhạc. Áo vàng trong thơ Nguyên Sa có khi là bông cúc vàng: "Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc” (Tuổi Mười Ba) Có khi là nắng thu vàng: "Có phải mùa xuân sắp sửa về hay là gió lạnh lúc đêm khuya? hay là em chọn sai mầu áo để nắng thu vàng giữa lối đi?" (Tương Tư) Áo vàng như cánh mai vàng trong nhạc Trần Thiện Thanh. Người lính trẻ thấy sắc hoa rừng, mơ về một sắc áo: "Những hôm vừa xong phiên gác chiều ven rừng kín hoa mai vàng, chợt nhớ tới sắc áo năm nào em đến thăm gác nhỏ..." (Đồn Vắng Chiều Xuân) Người lính chiến trong nhạc Phạm Đình Chương cũng bâng khuâng vì một sắc hoa, một mầu áo, một đôi mắt người xưa: "Ngày hành quân, anh đi về cánh rừng thưa thấy sắc hoa tươi nên mơ mầu áo năm xưa Kỷ niệm đầu len len trở về tâm tư có mắt ai xanh thắm trong mộng mơ..." (Màu Kỷ Niệm) Tà áo màu xác pháo để lại nỗi buồn lắng đọng trong thơ Nguyễn Tất Nhiên: “Người qua sông mặc áo hường Nắng dương gian, nắng buồn hơn trước nhiều” (Chuyến Đò Cửu Long) ![]() Áo mầu tím, mầu của “định mệnh”, của mộng mơ, nhớ nhung và chia cách. Chuyện tình “ngàn thu áo tím” của cô bé trót yêu màu tím, được Hoàng Trọng, “nhạc sĩ của mầu tím”, kể lại: “Ngày xưa xa xôi em rất yêu mầu tím... Chiều xuống áo tím thường thướt tha, bước trên đường thắm hoa, ngắm mây trời lướt xa...” Rồi khi vừa biết yêu là khi chia tay với mầu tím, chia tay với tình đầu: “Ngàn thu mưa rơi trên áo em mầu tím, ngàn thu đau thương vương áo em mầu tím...” (Ngàn Thu Áo Tím) Cũng một mầu áo tím, một chân trời tím trong thơ Kim Tuấn: “Áo nàng bay lên tím ngát trời chiều” (Phố Xưa) Trong mắt Vũ Thành, "nhà thơ của mầu tím", khi mùa thu buông áo xuống một phương trời, mầu mây tím trông như mầu áo người mình yêu để lòng chàng gợn lên nỗi buồn trăn trở: "Áo em tím cả phương này anh nghe thành phố đêm nay trở buồn" (Áo Tím) Vạt áo dài mầu tím hoa sim, trong thơ Phạm Thiên Thư, chỉ là thoáng lay động, vừa ngập ngừng e ấp vừa nao nức gọi mời: "Áo em vạt tím ngàn sim nửa nao nức gọi, nửa im lặng chờ Yêu nhau từ độ bao giờ gặp đây giả bộ hững hờ khói bay" (Động Hoa Vàng) Rồi áo tím qua cầu, mang theo cả mùa thu, để lại nỗi trống vắng mênh mang trong lòng nhà thơ Trang Châu: "Thế giới của anh không có chân trời không có mùa xuân lấy đâu hoa bướm không có bàn tay cho bàn tay hò hẹn áo tím qua cầu nên cũng hết mùa thu" (Thế Giới Của Anh) Có những gặp gỡ rất tình cờ, bất chợt, như gặp gỡ một tà áo tím, cũng đủ để lòng chàng nhạc sĩ Hoàng Nguyên mãi vấn vương theo mầu áo: "Một chiều lang thang bên dòng sông Hương, tôi gặp một tà áo tím, nhẹ thấp thoáng trong nắng vương... Rồi lòng bâng khuâng theo mầu áo ấy, mầu áo tím hôm nào..." (Tà Áo Tím) “Nhạc sĩ của mầu xanh và mùa thu”, danh hiệu ấy có lẽ thuộc về hai chàng Đoàn Chuẩn–Từ Linh chứ không ai khác hơn: “Với bao tà áo xanh đây mùa thu...” (Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay) Câu hát nghe như bàn tay kéo nhẹ tấm màn cửa mở ra khung trời bát ngát mùa thu, bát ngát màu xanh. Trong những dòng kẻ nhạc của hai chàng nghệ sĩ đa tình ấy vẫn luôn luôn thấp thoáng một “tà áo xanh” và một “màu xanh ái ân”: "Tà áo xanh nào về với giấc mơ. Mầu áo xanh là mầu anh trót yêu..." (Thu Quyến Rũ) “Trót”, như một định mệnh, buộc chặt người viết câu hát với mầu xanh kia. “Hẹn một ngày nao khi mầu xanh lên tà áo...” (Cánh Hoa Duyên Kiếp) Nghe như câu hẹn ước, như lời thề nguyền sắt son... “Khi nào em đến với anh, xin đừng quên chiếc áo xanh..." (Tà Áo Xanh) Còn lời dặn dò nào ân cần, thiết tha hơn thế nữa... Nhớ về một mầu áo là "nhớ những giây phút êm đềm, nắng loang trên sân trường một chiều nào..." (2). Màu áo xanh trong thơ Nguyên Sa là màu cây cỏ xanh tươi trên sân trường phượng vĩ: “Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường” (Tuổi Mười Ba) Màu áo xanh trong nhạc Y Vũ gợi nhớ một mái tóc, một tà áo thấm đẫm nước mưa: "Chiều xưa mưa rơi âm thầm, để thấm ướt chiếc áo xanh, và đẫm ướt mái tóc em..." (Tôi Đưa Em Sang Sông) Tà áo mầu xanh thắm của một "tiếng hát học trò" gieo vào lòng nhạc sĩ Nguyễn Hiền bao “niềm thương nhớ đầy vơi": "Thuở ấy không gian chìm lắng trong mơ. Tà áo em xanh, mầu mắt ngây thơ...” (Tiếng Hát Học Trò) Thiếu nữ vừa biết yêu trong nhạc Trần Thiện Thanh cũng bồi hồi khoác vào người chiếc áo mầu xanh da trời trong lần hò hẹn đầu tiên: "Biết anh thích mầu trời, em đã bồi hồi chọn mầu áo xanh..." (Bảy Ngày Đợi Mong) Tà áo dài trong nhạc Nguyễn Văn Đông có màu xanh của rừng thông Dalat một mùa nào Giáng Sinh: “Tà áo năm xưa xanh màu thông Dalat…” (Màu Xanh Noel) Áo xanh mộng mị còn bay cả vào trong thơ “trung niên thy sỹ” Bùi Giáng: “Biển dâu sực tỉnh giang hà còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh” (Áo Xanh) Áo xanh mộng mị của một thời quên lãng trong thơ Đinh Hùng: “Trong vườn quên lãng áo ai xanh...” (Dạ Hội) * * * Làm sao kể hết được hình ảnh tà áo dài mềm mại và dịu dàng, thướt tha và duyên dáng trong những dòng thơ dòng nhạc, như mầu "áo mơ phai" trong thơ Nguyễn Đình Toàn, như “áo mầu rêu đá” trong thơ Nhất Tuấn, như "áo đỏ như son môi, áo vàng như gấm dệt" trong thơ Trần Mộng Tú, như "áo tím ngày xưa đi lấy chồng” trong thơ Kiên Giang, như “áo tím trên cầu Trường Tiền” trong nhạc Văn Phụng, như “áo mầu xanh tha thướt đi lễ đêm” trong nhạc Tuấn Lê, như “thuyền ai thấp thoáng muôn tà áo tung bay" trong nhạc Y Vân... Và còn rất nhiều, rất nhiều... những vạt áo dài lộng gió trong thơ và nhạc. Tà áo dài mềm mại đã nhẹ nhàng êm ái đến với cuộc đời, nhẹ nhàng êm ái đi vào lòng người... Bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu, dù ở chốn quê nhà gần gũi, hay ở một góc trời xa thẳm, chiếc áo dài cũng mang theo bầu trời quê hương, cũng mang về mùa xuân ấm áp trong lòng người Việt tha hương. Chiếc áo dài còn là biểu tượng thân quen để người Việt nhận ra nhau trên bước đường lưu lạc trong cuộc sống nổi trôi nơi xứ lạ quê người. Thấy một vạt áo dài, thấy quê hương xa xăm mà gần gũi. Qua bao mùa tang thương dâu bể, qua bao nhiêu vật đổi sao dời, chiếc áo dài truyền thống, chiếc áo dài duyên dáng và trữ tình của người phụ nữ Việt Nam vẫn luôn luôn là hình ảnh khó phai mờ và còn ở lại mãi trong lòng người. lê hữu (1) Áo Trắng, thơ Huy Cận (2) Từ Giã Thơ Ngây, nhạc Nguyễn Hiền |
SongThan viết ngày 10-18-2008 lúc 08:35 PM |
















