Trở Lại   Diễn Đàn » Blog » NguyenPhucVinhTung

Rating: 3 votes, 3.67 average.

Vung Kiếm Trời Nam

NguyenPhucVinhTung viết ngày 06-06-2008 lúc 04:05 PM


Name:  biavktn.jpg
Views: 267
Size:  115.7 KB

Truyện dã sử võ hiệp kỳ tình Việt Nam.

Hương Giang Productions thực hiện dĩa đọc truyện.

Huyền Tôn Nữ Bảo Bình và John Phan diễn đọc.

Thư Viện Toàn Cầu phát hành.
____________________________

Hồi thứ nhất: Tống Tiểu Thư Bái Sư

Hồi thứ hai: Trấn Thị Nại

Hồi thứ ba: Trai Tài Gái Sắc

Hồi thứ tư: Họ Nguyễn Xưng Vương

Hồi thứ năm: Trở Lại Phú Xuân

____________________________
Tổng số nhận xét/cảm tưởng 5

Nhận xét/cảm tưởng

Cũ
Bối cảnh lịch sử dựa theo Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, Đại Nam Thực Lục Chính Biên và Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả.

Theo Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, họ Nguyễn gốc ở huyện Tống Sơn, phủ Hà Chung, tỉnh Thanh Hoa, sau đổi là Thanh Hóa. Từ đời Nguyễn Công Duật đã theo phò Lê Lợi khởi nghĩa nên được phong làm Thái Bảo Hoành Quốc Công, và con cháu về sau đều là đại thần của triều Lê.

Nhưng từ khi bị họ Mạc chuyên quyền, nhà Lê ngày càng suy yếu. Sau khi Nguyễn Kim chết, hai con trai của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng còn nhỏ, nên con rể là Trịnh Kiểm lên nắm quyền. Trịnh Kiểm một mặt vẫn đánh nhau với họ Mạc, một mặc lấn quyền của nhà Lê và giết Nguyễn Uông để diệt trừ hậu hoạn.

Nguyễn Hoàng tuy còn trẻ nhưng là người mưu trí, học theo cách của Lưu Bị xin vào đất Thục để lánh nạn. Nguyễn Hoàng nhờ chị là Nguyễn Bảo xin với anh rể Trịnh Kiểm cho mình vào trấn đất Thuận Quảng, là một vùng còn hoang vu và nằm ngoài tầm kiểm soát của Trịnh Kiểm, rồi từ đó nhà Nguyễn bắt đầu khởi nghiệp.

Nhìn lại lịch sử, qua bao triều đại, lãnh thổ của chúng ta chỉ đến xứ Quảng Nam mà thôi. Cho đến khi nhà Nguyễn dựng nghiệp, qua chín đời chúa Nguyễn, với chính sách “trước di dân, sau chiếm đất”, và như tằm ăn dâu, dần dần nhà Nguyễn chiếm đất của Chiêm Thành, thâu tóm đất của Chân Lạp, lãnh thổ đã mở rộng đến tận mũi Cà Mâu.

Hưởng ứng lời kêu gọi di cư vào Đàng Trong của chúa Nguyễn, có đại gia họ Tống cũng ở huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã theo chân chúa Nguyễn Hoàng vào Đàng Trong lập nghiệp và giúp chúa Nguyễn xây dựng Đàng Trong. Cho đến năm 1771, khi nhà Tây Sơn nổi dậy, diệt chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đánh bại nhà Nguyễn ở Đàng Trong, thì họ Tống lui về Gia Định thành sống một cuộc đời bình thường như dân dã.




Hồi thứ nhất

TỐNG TIỂU THƯ BÁI SƯ


Gia Định thành mai danh ẩn tích
Gặp cao nhân, khuê nữ bái sư



Khách ghé qua Đông Phố, tức là Gia Định thành, mà hỏi đường đến Tống gia trang thì bất cứ một ai trong thành này, kể cả những đứa bé lên năm cũng có thể chỉ đường một cách rành rẽ. Gia Định thành là một trấn lớn hàng đầu của Đàng Trong lúc bấy giờ, dân cư có mức sống tương đối cao hơn các trấn lân cận nhờ vào sự buôn bán phồn thịnh với người Tàu, người Mã Lai, Nhật Bản và cả người Tây Dương.

Xuyên qua Gia Định thành là một con lộ lớn với những cơ sở làm ăn buôn bán tụ tập hai bên lộ chính. Cũng trên con lộ này, có ba gia trang lớn nhất trong thành là ba đại phú gia đương thời. Nằm ở cuối lộ, trong một khu vực tương đối yên tĩnh là Tống gia trang. Họ Tống nguyên ở huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa ở Đàng Ngoài, khi chúa Nguyễn Hoàng khởi nghiệp ở miền Nam, họ Tống đã theo chúa Nguyễn vào sinh sống ở Thuận Hóa, và sau khi nhà Nguyễn bị Tây Sơn đánh bại, thì lui về lập gia trang tại thành Gia Định.

Tống Phúc Khuông là trang chủ đời thứ ba, người dân trong thành kính nể ông không phải vì ông là một trong ba hào phú của thành này, mà người ta thường nhắc đến ông vì lòng nhân từ và thường hay giúp đỡ những kẻ khốn cùng hoặc sa cơ lỡ vận. Mặc dù sống trong cảnh giàu sang phú quý và được mọi người kính mến nhưng Tống trang chủ không được mãn nguyện vì năm nay tuổi đã cao mà hai vợ chồng chỉ có một đứa con gái mà thôi. Tống Thị Lan năm nay đã mười hai tuổi, tuy vẫn ngoan ngoãn hiền thục nhưng tính tình lại thích hiếu động không khác gì con trai. Phải chăng vì thấy cha mẹ mong muốn có con trai nên Tống tiểu thư đã có sự biến đổi như vậy cho cha mẹ vui lòng?

Buổi sáng hôm nay, người hỏi đường đến Tống gia trang chẳng phải là người trong giới quan quyền, khách thương hay bằng hữu gì ở phương xa đến thăm, mà người hỏi đường chỉ là một thầy lang bán thuốc dạo. Có lẽ thầy lang nghe tiếng Tống lão gia là người rộng rãi, nên tìm đến kiếm chút tiền bán thuốc. Thầy lang hình như là người từ Đàng Ngoài đến đây, dáng cao, vai rộng, quần áo bằng vải thô đã bạc màu có vẻ phong trần gió bụi. Thầy lang mang bên vai phải một cái hộp bằng gỗ và vai bên trái một cái túi bằng vải. Đầu để trần, chân đi đôi giày vải đã rách lũng nhiều chỗ, dáng người có vẻ mệt mõi như đang bị bệnh, chỉ ánh mắt là đủ thần uy khiến cho người đối diện phải kiêng nể.

Sáng nay thầy lang đến gõ cửa Tống gia trang để chào hàng. Đám gia nhân chận thầy ở ngay cổng và ngỏ ý từ chối. Thầy lang vẫn kiên nhẫn cố gắng mời mọc và giới thiệu mấy món thuốc gia truyền. Cũng ngay lúc đó, trang chủ định ra phố uống trà, nghe ngoài cổng lao xao nên bước đến xem chuyện gì. Nghe gia nhân nói có người muốn bán thuốc, ông bước hẳn ra ngoài cổng nhìn thầy lang. Trang chủ thấy thầy lang tuy có vẻ phong trần lỡ bước, nhưng thần thái không giống như những thầy lang ở trong thành mà ông thường mời về lo thuốc thang cho phu nhân của ông suốt mấy năm nay. Ông tươi cười niềm nở hỏi:

- Thầy có thuốc gì bán đây?

Chỉ nhìn qua, thầy lang cũng biết người mới bước ra là trang chủ. Trang chủ trạc độ ngũ tuần, dáng người tầm thước, da mặt hồng nhuận, hai tai dày và lớn, trái tai đầy đặn, mũi như mũi kỳ lân, chuẩn đầu rũ xuống, địa các đầy đặn và nở nang, thì hiểu rằng lời đồn trang chủ là người nhân hậu quả thật không sai, mà nay giáp mặt thì thầy lang lại thấy được hậu vận của trang chủ còn tốt đẹp hơn những gì mà ông ta đang có nữa.

Thầy lang cúi mình chào trang chủ và đáp:

- Thuốc của tôi không có nhiều, chỉ có mấy món gia truyền, nhưng nghề chẩn bệnh và trị bệnh của tôi thì có thể giúp người được.

Trang chủ nghe nói thì không do dự, quay lại đám gia nhân:

- Sao không mở cổng mời thầy vào trong dùng trà?

Và quay lại nói với thầy lang:

- Mời thầy vào dùng chén trà. Tôi muốn mua vài món thuốc của thầy.

Tống trang chủ mời thầy lang vào sảnh đường uống trà. Uống xong chén trà, thay vì mang thuốc ra chào hàng thì thầy lang chỉ hỏi:

-Không biết trong trang có ai đang bị bệnh hoạn hay thương tật gì không?

Trang chủ đặt tách trà xuống, gật gật cái đầu và trả lời:

- Có, có. Tiện nội lâm bệnh gần hơn năm nay, tôi đã mời nhiều thầy trong thành này đến chẩn bệnh nhưng cũng chẳng thấy thuyên giảm. Các thầy mỗi người nói một cách nên thực sự chẳng biết đúng là bệnh gì. Nếu thầy đã đến đây thì có thể xem dùm bệnh lý được chăng?

Lời nói của trang chủ tựa như có chút lòng tin tưởng nơi người khách lạ này. Thầy lang hình như cũng cảm thấy điều đó nên không khách sáo:

- Không biết phu nhân hiện ở phòng nào, tôi có thể đến xem bệnh được không?

Trang chủ nghe nói thì mừng rỡ bèn hối gia nhân đến báo trước cho phu nhân biết là có thầy lang sẽ đến thăm bệnh. Trang chủ mời thầy lang uống cạn tuần trà rồi mới để thầy đến thăm bệnh cho Tống phu nhân. Một hồi sau thầy lang trở ra và nói với trang chủ:

- Bệnh của phu nhân không nặng lắm nhưng cũng không phải là nhẹ. Bệnh đã lâu ngày mà mấy thầy trước đây không biết trị cho tuyệt căn nên mới dây dưa như thế.

Tống trang chủ gật đầu và hỏi:

- Thầy nói như vậy thì hẳn thầy đã có thuốc để chữa bệnh?

Thầy lang nói:

-Phải. Chữa bệnh không có gì khó, chỉ ngặt có hai điều.

Trang chủ vội vàng hỏi:

- Thầy có thể cho biết hai điều gì?

Thầy lang trầm ngâm giây lát rồi mới trả lời:

- Bệnh này không phải chỉ dùng thuốc mà còn phải dùng kim châm huyệt nữa thì mới tuyệt căn được. Ngặt một điều châm huyệt không phải chỉ một ngày mà có khi cả tháng, vả lại tôi có thể châm huyệt xuyên qua áo, nhưng không biết phu nhân thấy tiện nghi không?

Trang chủ vội xua tay:

- Thầy đừng quan ngại. Vợ chồng chúng tôi không phải là người câu nệ. Nếu thầy đã có ý cứu giúp, thì xin thầy cứ xem đây là nhà của thầy.

Thầy lang nhìn ra cửa, ngồi trầm ngâm một hồi rồi gật đầu nhận lời:

- Tôi là Vương Thông, một kẻ giang hồ phiêu bạt. Nay trang chủ đã nói vậy thì tôi ở lại đây cho đến khi phu nhân khỏi bệnh.

Bấy giờ đã cuối mùa Xuân, tiết trời bắt đầu ấm áp và hoa trong vườn vẫn còn khoe sắc rực rỡ. Mới hơn một tháng, sau khi uống thuốc và châm huyệt, Tống phu nhân đã đi lại trong trang và thần sắc bắt đầu hồng nhuận. Tiểu Lan tuy còn nhỏ nhưng đã hiểu biết, mấy lâu nay thấy mẹ bệnh nên không dám ồn ào vui đùa, bây giờ thấy mẹ đã khỏe, lại gặp khí trời ấm áp nên xin mẹ ra vườn sau vui đùa một mình dưới ánh nắng. Tuy là con gái, nhưng Tiểu Lan tính tình hiếu động không kém gì con trai. Ngoài những giờ học chữ và thêu thùa, Tiểu Lan thích ra khỏi nhà hoặc đi chùa, ra phố một mình để xem sinh hoạt hằng ngày trong thành. Tính tình gan dạ lại ưa giúp người, Tiểu Lan đã nhiều lần lén lấy gạo ở nhà mang ra phố cho mấy người hành khất. Sáng nay Tiểu Lan ra vườn chơi một mình. Khu vườn sau trang viên rộng mênh mông nhưng ngõ ngách nào Tiểu Lan cũng rất quen thuộc. Chợt nghe tiếng chim non kêu đằng sau góc vườn, tiếng chim kêu có vẻ khác thường, Tiểu Lan len lách qua các gốc cây và khóm hoa, cuối cùng tìm thấy một chú chim non từ trên tổ bị rơi xuống mặt đất.

Tiểu Lan bước đến ôm con chim nhỏ vào lòng hai bàn tay và ngước nhìn lên. Trên cây, một tổ chim với ba chú chim non khác đang nhóng cổ lên đòi ăn. Tiểu Lan thấy tổ chim không ở cao quá và thân cây cũng dễ trèo, nên không do dự, bỏ con chim con vào trong tay áo rồi cởi giày và leo lên cây. Sau khi trả lại con chim con vào tổ, Tiểu Lan trườn mình theo cành cây để tuột xuống đất, nhưng cô bé đã đạp chân hụt vào khoảng không, cả thân hình mất đà rơi xuống. Trong cái giây phút kinh hoàng đó, Tiểu Lan mơ hồ như có một bóng người không biết từ đâu phóng đến, ôm lấy cô bé và đặt cô bé đứng trên mặt cỏ như không có chuyện gì xảy ra.

Đứng một lát như vậy mà Tiểu Lan chưa hoàn hồn, hai mắt vẫn còn nhắm tít, trán vã mồ hôi. Chờ thêm một lát nữa, cô bé mới lấy tay phải đập đập lên bàn tay trái, chắc rằng không phải mình nằm mơ, mới từ từ hé mắt, ngước mặt nhìn lên, thấy trước mặt là thầy lang Vương Thông đang đứng nhìn mình. Thấy cô bé mở mắt, thầy lang cười và nói:

- Con không sao, không có chuyện gì cả, đừng sợ.

Lúc này Tiểu Lan mới biết chính thầy lang đã cứu mình. Tuy rất ngạc nhiên, nhưng Tiểu Lan vội chắp hai tay trước ngực rồi cúi đầu mà cảm tạ:

- Con xin cám ơn thầy đã cứu mạng con.

Thầy lang cười rất hiền hòa và gật đầu:

- Tốt lắm. Nhưng ta muốn con hứa với ta là đừng kể lại chuyện này cho bất cứ một ai.

Tiểu Lan lại xá và gật đầu:

- Con xin hứa với thầy.

Thầy lang không nói gì nữa, chắp hai tay sau lưng rồi thong thả đi vào nhà.

Sau bữa cơm tối, thầy lang về phòng chong đèn đọc sách. Lát sau nghe tiếng gõ cửa, thầy tưởng như những lần trước trang chủ sai gia nhân mang trà đến cho thầy, nhưng khi mở cửa thì thấy Tiểu Lan cúi đầu chào:

- Con chào thầy Vương.

Thầy lang gật đầu hỏi:

- Con tìm ta có chuyện gì không?

Tiểu Lan ngước lên nhìn thầy lang và hỏi:

- Con có thể hỏi thầy một điều được chăng?

Thầy lang vui vẻ đáp:

- Được chứ. Con vào đây.

Thầy lang ngồi xuống cái ghế cạnh bàn đọc sách rồi nhìn Tiểu Lan mà hỏi:

- Con có điều gì cần hỏi ta?

Tiểu Lan ngập ngừng một hồi rồi hỏi:

- Thưa thầy, thầy có phải là một cao thủ trong giang hồ không?

Hình như thầy lang đã đoán trước được điều mà Tiểu Lan sẽ hỏi, nên thầy mỉm cười:

- Nếu ta là người trong giang hồ thì có gì mà con phải quan tâm?

Tiểu Lan còn nhỏ nhưng rất thông minh, nghe cách thầy lang hỏi lại như vậy, Tiểu Lan hiểu rằng thầy đã có ý công nhận, bèn khoanh tay mà thưa:

- Thầy đã cứu mạng con, vậy thầy có thể nhận con làm đệ tử được chăng?

Thầy lang thật ngạc nhiên, ban đầu ông tưởng cô bé này chỉ tò mò muốn biết lai lịch của mình thôi, đâu ngờ một tiểu thư con nhà khuê các mà lại ham thích võ nghệ như vậy. Thầy lang không trả lời, đưa mắt ngắm nhìn Tiểu Lan. Mặc dù cô bé tóc còn thắt bím hai bên, nhưng khuôn mặt sáng như trăng rằm, mày ngài mắt phụng, cái mũi thông thiên, sống mũi như ống tre bổ đôi áp xuống, hai tai dày và trắng như ngọc, tai ép sát vào đầu, trái tai rũ xuống, môi đỏ như thoa son, hai khóe miệng cong lên như vành trăng lưỡi liềm. Thật đúng là tướng mạo của bậc mệnh phụ, hoặc có khi còn cao quý hơn thế nữa. Tiểu Lan không nghe thầy lang trả lời, chỉ thấy ông nhìn mình chăm chú rồi nói lẩm bẩm gì đó.

Đang băn khoăn chợt Tiểu Lan nghe thầy lang hỏi:

- Con có biết giờ, ngày, tháng và năm sinh của con không?

Tiểu Lan nhanh nhẩu thưa:

- Thưa thầy có. Hôm trước rảnh rỗi con có đọc gia phả nên con nhớ.

Và Tiểu Lan đọc cho thầy lang nghe giờ, ngày, tháng và năm sinh của mình. Thầy lang không nói gì, chỉ ngồi bấm ngón tay cái lên bàn tay rồi gật gật đầu và lẩm bẩm một mình:

- Quả thật như vậy. Tướng và số ăn khớp nhau. Âm dương thuận lý, cục sinh mệnh. Mệnh cư tại Ngọ, có Thái Dương tọa thủ, đúng là Thái Dương cư Ngọ, nhật lệ trung thiên, hữu chuyên quyền chi vị. Cung Phu lại đắc quý cách, đúng là bậc mẫu nghi thiên hạ sau này.

Tiểu Lan vẫn khoanh tay đứng chờ. Cô bé thấy hình như sau khi bấm tay tính toán, thì ông thầy có vẻ như chìm sâu vào sự suy tư gì đó. Thầy lang lẩm bẩm một hồi rồi lại nhìn Tiểu Lan và tự nhủ:

- Ta đã bỏ một phần cuộc đời để mưu toan cho việc phù Lê diệt Trịnh mà không thành. Chẳng lẽ hôm nay lại mang tâm huyết còn lại mà lo cho người khác? Nhưng nghĩ lại, âu cũng là số trời. Mình vì cảnh ngộ mà lưu lạc trên xứ người, nay lại nhận bổng lộc của người, thì đó cũng là một cơ duyên mà thôi.

Thầy lang hắng giọng, uống một ngụm trà rồi nói với Tiểu Lan:

- Nếu ta nói cho con biết ta là ai và nhận con làm đệ tử, thì con phải hứa là không được tiết lộ cho bất cứ người nào và sau này, nếu không phải lâm vào trường hợp cần thiết thì không nên thi thố võ công của mình.

Tiểu Lan vừa nghe xong đã nhanh nhẩu quỳ xuống hành lễ bái sư và nói:

- Sư phụ, con xin hứa.

Thầy lang cho phép Tiểu Lan đứng lên rồi nói:

- Ta không phải là Vương Thông, mà tên thật là Vương Duy Nhân, đệ tử của phái Thanh Hoa và cũng là một vai vế quan trọng trong nhóm Phù Lê Diệt Trịnh theo phò Lê Duy Mật, hậu duệ cuối cùng của nhà Lê, nên mấy năm nay Trịnh phủ phái cao thủ truy sát ta rất ngặt. Ba tháng trước đây, ta bị sát thủ của chúa Trịnh vây đánh ở Nghệ An và bị trọng thương nhưng cố gắng thoát được. Ta giả dạng thầy lang để lẫn tránh và vượt qua sông Gianh vào Đàng Trong mà ẩn mình. Cơ duyên đưa ta đến đây chữa bệnh cho mẫu thân con và cũng được chỗ tá túc an toàn mà dưỡng thương. Ta chưa hề thâu nhận một đệ tử nào, kể từ hôm nay, con là đệ tử thứ nhất của ta.

Thầy Vương ra dấu cho Tiểu Lan ngồi ở ghế đối diện và nói tiếp:

- Người sáng lập ra phái Thanh Hoa là sư tổ Lê Chính Đức, một cận tướng của Lê Lợi. Hơn mười năm ròng rã ông giúp Lê Lợi khởi nghĩa và dựng nên nhà Lê với rất nhiều công trạng. Lúc Lê Lợi lên ngôi, đất nước đã thanh bình, ông về ẩn dật ở quê nhà là tỉnh Thanh Hoa, tức là tỉnh Thanh Hóa sau này, và lập ra môn phái Thanh Hoa.

Tiểu Lan thích thú ngồi yên lắng nghe. Thầy Vương nhấp một ngụm trà rồi nói tiếp:

- Phái Thanh Hoa sở trường về kiếm pháp, và kiếm pháp bí truyền của bổn môn được ghi chép lại trong cuốn Thanh Hoa kiếm phả đã truyền qua mấy đời chưởng môn khiến cho uy thế của phái Thanh Hoa vẫn được nể vì, không phải chỉ ở Đàng Ngoài mà ngũ đại môn phái ở phương Bắc cũng đã nghe danh. Đến đời của ta huynh đệ chỉ có ba người, mỗi người dựa trên căn bản của môn phái, mà tự luyện cho kiếm pháp của mình mang một sắc thái độc đáo khác nhau.

Thầy Vương thấy Tiểu Lan thích thú lắng nghe, ông thầm nghĩ phải chi ta có một đứa con gái thông minh và xinh đẹp như thế thì cũng vui trong tuổi già, thầy hắng giọng rồi nói tiếp:

- Sư bá của con là Trương Quang Uy, khi ra tay, kiếm chiêu như sấm chớp lưng trời, cho nên giang hồ gọi là Thiên Kiếm, hiện là đương kim chưởng môn đời thứ tư. Sư thúc của con là Trần Huy Đông, tuy còn trẻ, nhưng tính tình chừng mực, nên kiếm chiêu rất trầm ổn, thủ nhiều hơn công, khi thủ thì vững chắc như thành quách, như đồi núi liên hoàn, nên có danh là Địa Kiếm. Còn kiếm chiêu của ta thì ba phần cương, bảy phần nhu, cho nên có hiệu là Nhân Kiếm. Ba sư huynh đệ chúng ta được người trong giới giang hồ phong tặng là Thanh Hoa Tam Kiếm. Con là con gái thì nhu kiếm của ta sẽ rất thích hợp với con.

Tiểu Lan nghe đến đây thì nôn nóng hỏi thầy:

- Bây giờ sư bá và sư thúc của con ở đâu?

Thầy Vương nhồi thuốc vào điếu cày, châm lửa và nhả khói ra chầm chậm rồi mới trả lời:

- Năm trước sau khi đánh tan lực lượng của Lê Duy Mật, chúa Trịnh là Trịnh Sâm muốn tiêu diệt luôn ba huynh đệ chúng ta cho dứt hậu hoạn nên phái cao thủ truy sát rất gắt. Sư bá con phải theo thuyền buôn nước ngoài trốn ra khỏi xứ, không biết giờ đây lưu lạc nơi đâu. Sư thúc của con thì đã vào Đàng Trong lánh nạn, nghe nói ẩn náu nơi Mạc phủ ở đất Hà Tiên. Còn ta lẫn tránh mãi ở Đàng Ngoài không được, cuối cùng cũng phải lánh vào Đàng Trong, rồi cơ duyên đưa đẩy đến đây chữa bệnh cho mẫu thân con và ở lại cho đến hôm nay.

Tiểu Lan nghe thầy kể thì hiểu rõ sự tình của môn phái nhưng vẫn hỏi thêm:

- Sư bá và sư thúc của con đã thâu đệ tử nào chưa?

Thầy Vương nhìn Tiểu Lan với vẻ thương mến của một người cha:

- Con có một người sư huynh tên Mạc Kỳ, là cháu của Mạc Thiên Tứ ở Mạc phủ. Trước đây bên Tàu, khi quân Thanh nhập quan, quan trấn thủ Quảng Đông lúc đó là Mạc Cửu không chịu thần phục nên cùng các cận tướng, gia đình và binh sĩ theo đường thủy xuôi về phương Nam. Ta nghe nói cả đoàn thuyền vào cửa Sài Mạc là đất của Thủy Chân Lạp. Vua Thủy Chân Lạp thấy Mạc Cửu có binh tướng nên cho ở lại và phong chức Ốc Nha, trấn giữ vùng Sài Mạc mà sau này chúa Nguyễn đổi tên là trấn Hà Tiên. Khi chúa Nguyễn chiếm hết đất của Thủy Chân Lạp thì vẫn trọng dụng Mạc Cửu, nên phong cho Mạc Cửu làm Thống Binh coi hết vùng Hà Tiên, Cà Mâu và ra tận đảo Phú Quốc, còn Mạc Thiên Tứ là hậu bối của Mạc Cửu.

Thầy Vương lại châm lửa vào điếu cày, nhả khói rồi nói tiếp:

- Năm năm trước, lúc đó Mạc Kỳ mới 18 tuổi, một mình từ Hà Tiên giang hồ ra tận xứ Bắc Hà, khi ghé qua Thanh Hóa gặp cơ duyên được sư bá con thâu làm đệ tử. Mạc Kỳ ở lại Thanh Hóa học nghệ cho đến khi sư bá con phải lánh ra nước ngoài thì mới trở vào Đàng Trong. Ta nghe nói có lẽ vì thù ghét chúa Trịnh đã bức bách sư đồ của hắn phải ly tán, nên khi đi qua Quy Nhơn thì gia nhập vào lực lượng Tây Sơn và lập được nhiều công trận. Vì vậy, nếu sau này con có đi lại trên giang hồ mà gặp người xử chiêu thức của phái Thanh Hoa thì phải thận trọng để khỏi ngộ nhận. Ngày mai sau bửa ăn sáng, con đến đây gặp ta.

Tiểu Lan kính cẩn chào sư phụ rồi trở ra, nét mặt hân hoan, trong lòng rộn rã niềm vui khôn tả.

Thời gian thấm thoát trôi qua, Tiểu Lan là người thông minh xuất chúng, chỉ mới hơn ba năm, Tiểu Lan đã học được gần hết tuyệt nghệ của sư phụ, lòng chỉ mong có cơ hội để thi thố tài năng, nhưng đối với người ở Tống gia trang và cả người trong Gia Định thành, thì Tiểu Lan vẫn là một tiểu thư khuê các.
NguyenPhucVinhTung viết ngày 10-10-2008 lúc 07:46 PM NguyenPhucVinhTung đã rời thuvienvietnam.com
Cũ
Bối cảnh lịch sử dựa theo Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, Đại Nam Thực Lục Chính Biên và Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả.

Sau khi cuộc chiến Trịnh Nguyễn chấm dứt, Đàng Trong từ vua quan đến dân bắt đầu một cuộc sống thái bình an lạc. Vùng Thuận Quảng, nay là Huế và Quảng Nam, là nơi phồn thịnh, nên người dân có một cuộc sống khá xa hoa. Chúa Nguyễn Phúc Chu là vị chúa đầu tiên bắt đầu một cuộc sống hưởng thụ. Năm 1678, Võ vương Nguyễn Phúc Khoát cho xây dựng lại kinh thành Phú Xuân rất tốn kém. Sau đó Định vương Nguyễn Phúc Thuần lên kế vị, tuổi còn nhỏ nên bị người cậu là Trương Thúc Loan chuyên quyền khiến cho quan quân bất mãn, dân tình khốn khổ, lại thêm từ năm 1769 đến năm 1774, Đàng Trong liên tục bị các trận đói, trận dịch hoành hành, dân tình khốn khổ, cho nên xảy ra nhiều cuộc nổi dậy. Năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc khởi nghĩa ở Quy Nhơn, với danh nghĩa phù Nguyễn diệt lộng thần Trương Thúc Loan, nên được dân chúng ủng hộ và gia nhập đông đảo gọi là lực lượng Tây Sơn.

Năm 1773, Tây Sơn đánh chiếm Quy Nhơn, Bình Khang và Diên Khánh, cắt Đàng Trong ra làm hai mảnh. Tướng Bùi Thế Đạt đang trấn bên bờ Bắc sông Gianh nghe tin liền báo cho chúa Trịnh là Trịnh Sâm ở Bắc Hà. Trịnh Sâm thấy thời cơ đã đến, chẳng sá gì hiệp ước đình chiến, đích thân dẫn đại quân vượt sông Gianh vào đánh Phú Xuân. Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn cũng thừa thế đánh ra. Chúa Nguyễn Phúc Thuần bị thế gọng kềm, chống không nổi nên phải mang gia quyến và một đám tàn quân vượt đèo Hải Vân chạy vào Gia Định, nhưng rồi chúa Nguyễn Phúc Thuần cũng bị quân Tây Sơn bắt giết, chỉ có một người cháu chạy thoát được là Nguyễn Ánh. Sau đó, họ Trịnh cũng bị nhà Tây Sơn tiêu diệt.



Hồi thứ hai

TRẤN THỊ NẠI


Trấn Thị Nại tiểu thư dừng bước
Cứu anh hùng nữ hiệp ra chiêu



Đoàn xe ngựa của Tống gia trang từ Thanh Hóa trở về, dừng chân ở trấn Thị Nại, một trấn nhỏ nằm ngay cửa biển của thành Quy Nhơn, và thuê trọn căn nhà trọ duy nhất của trấn này. Nhà trọ Lạc Phúc nằm sát lộ và ngay giữa trấn, phía trước là quán ăn và dãy nhà ngang phía sau gồm có ba gian làm phòng trọ. Gia đình họ Tống từ ngày bỏ quê cha đất tổ là huyện Tống Sơn, theo chúa Nguyễn vào Đàng Trong đến nay đã qua một thời gian khá lâu, nhưng vì chinh chiến triền miên giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài nên chưa một lần trở về thăm mồ mả ông cha. Năm nay, nhà Tây Sơn diệt chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, đánh bại chúa Nguyễn ở Đàng Trong, cho nên đất nước đã bớt cảnh binh đao. Phần Tống phu nhân, sau một thời gian được thầy lang Vương Thông chữa bệnh, nay sức khỏe đã hồi phục nên muốn trở về Tống Sơn một lần để viếng thăm mồ mả và trùng tu ngôi nhà từ đường của dòng họ. Tiểu Lan năm nay mười sáu tuổi, đã là một thiếu nữ nhưng phải năn nỉ mãi mới được cha cho phép đi cùng với mẹ ra Thanh Hóa.

Sau giờ cơm tối, trấn Thị Nại chìm vào yên tĩnh của bóng đêm. Trăng thượng tuần trong những ngày đầu mùa hạ sáng vằng vặc trên bầu trời xanh biếc, gió biển từng cơn từ cửa Thị Nại thổi vào làm bầu không khí nóng bức trong lòng trấn dịu hẳn xuống. Càng về khuya, trăng càng sáng, ánh trăng chiếu vô khung cửa sổ làm cho Tiểu Lan trằn trọc thao thức. Lần đầu tiên rời khỏi căn nhà yên ấm sống đã bao năm nay, và cũng là lần đầu tiên ngủ chung phòng với bà vú. Tiếng ngáy của bà vú vang lên đều đặn trong đêm tĩnh mịch làm cho Tiểu Lan không thể nào ngủ được. Tiểu Lan ngồi dậy, hướng mặt ra cửa sổ để vận công điều khí, xua đuổi hết tạp niệm cho dễ vào giấc ngủ. Cửa sổ của nhà trọ hướng ra bãi biển, trước khi về phòng ngủ, Tống mẫu đã dặn dò con gái:

- Đến nơi xa lạ phải cửa đóng then gài cho cẩn thận.

Nhưng căn phòng chật hẹp lại thêm nóng bức nên Tiểu Lan vẫn mở toang cửa sổ. Đang điều tức, bỗng Tiểu Lan nghe tiếng gió của người dạ hành đang lướt trên mái nhà. Một người, hai người..., ít nhất cũng bốn người. Hình như họ đang đuổi nhau và hướng ra bãi biển, rồi tiếng binh khí vang lên, lúc lớn lúc nhỏ tùy theo từng cơn gió từ biển thổi vào.

Tiểu Lan bước xuống giường, đứng tựa tay vào khung cửa sổ nhìn ra bãi biển. Với nhãn lực của một người luyện võ, Tiểu Lan nhìn thấy trên bãi biển, một nhóm năm người đang vây đánh một người. Từ ngày theo thầy học nghệ, đây là lần đầu tiên Tiểu Lan mới thấy tận mắt một cuộc tranh chấp sinh tử của giới giang hồ. Tính hiếu kỳ nổi lên trong lòng cô gái và chỉ trong một thoáng, Tiểu Lan đã gọn gàng trong bộ dạ hành và một chiếc khăn đen bao gọn mái tóc và che ngang nửa mặt. Cô gái nhún mình một cái, chân đạp vào khung cửa sổ rồi theo thế Nhạn Lạc Bình Sa mà lướt đi trên cát, hướng về bãi biển nơi trận đấu đang diễn ra.

Trên bãi cát, nhóm năm người đang vây đánh một người, những người này đều mặc đồ dạ hành, che mặt bằng khăn đen. Họ có vẻ là những người làm việc cho một người hay một tổ chức nào đó, vì mặc dù tất cả đều nghe lịnh người cầm đầu, nhưng võ công và binh khí họ dùng chứng tỏ họ không cùng môn phái. Người bị vây là một thanh niên khoảng chừng hai mươi hoặc hai mươi hai tuổi. Mặt mũi khôi ngô tuấn tú, tuổi còn trẻ nhưng dáng dấp cương nghị phong trần chứ không giống như phong thái của những công tử con nhà giàu sang hay quyền quý khác.

Tiểu Lan dừng chân nép mình sau một tảng đá lớn, cách nơi giao đấu khoảng chừng mười bộ. Khi Tiểu Lan vừa xuất hiện, cả hai bên mặc dù đang giao đấu tới hồi quyết liệt, nhưng cả hai bên đều biết là có thêm một người vừa đến, và bên này thì cứ nghĩ rằng kẻ mới đến là người của bên kia, cho nên cả hai bên vừa đánh vừa đề phòng bị tập kích. Có lẽ vì vậy mà nhóm năm người càng ra tay khốc liệt hơn hầu mong dứt điểm sớm.

Tiểu Lan đứng sau tảng đá dõi mắt vào trận đấu. Người thanh niên tuy bị vây khốn nhưng thân thủ và bộ pháp vẫn ổn định, chưa có chút rối loạn nào, và nhất là chiêu thức, trong nguy khốn vẫn ngang tàng chứ không hề sợ hãi. Và có lẽ chính cái khí độ đó đã nảy sinh sự hảo cảm trong lòng người thiếu nữ. Võ công của người thiếu niên rất phức tạp, tuy xử dụng kiếm nhưng chiêu thức không thuần là kiếm pháp, có chiêu tựa hồ như đao pháp, có chiêu tựa hồ như đoản thương. Và kiếm pháp cũng không phải thuần túy của một môn phái mà pha trộn, biến hóa khiến cho đối thủ không thể lường được. Ngay chính Tiểu Lan, trong những năm ở cạnh thầy, đã được thầy chỉ dạy cho biết bao nhiêu bang phái trên giang hồ cả hai mặt Bắc phương và Nam phương, mà nay cũng không thể nhìn ra kiếm pháp của người thiếu niên này thuộc về môn phái nào.

Nhóm năm người hình như đã được huấn luyện kỹ càng để trở thành những tay sát thủ chuyên nghiệp. Họ công thủ tiến thoái rất nhịp nhàng và ăn khớp với nhau khiến cho đối thủ khó tìm được chỗ sơ hở mà phá vòng vây. Điều nguy hiểm nhất là họ chiến đấu với một tinh thần quyết tử, thể hiện sự quyết tâm phải hoàn tất cho được mệnh lệnh mà họ đã nhận với bất cứ giá nào, dù cho phải hy sinh cả sanh mạng của chính mình. Đến lúc này Tiểu Lan mới sực nhớ có lần sư phụ nhắc đến một nhóm sát thủ của Trịnh phủ mà giới giang hồ gọi là Trịnh Phủ Thập Nhị Sứ gồm 12 cao thủ thuộc nhiều sắc tộc, trong đó có một số cao thủ người Mãn Thanh sống ở vùng quan ngoại, họ thuộc giới hắc đạo, kéo về hoạt động ở vùng Quảng Đông để lùng bắt nhóm Phản Thanh Phục Minh mà lãnh thưởng với triều đình. Chúa Trịnh đang muốn tiêu diệt tận gốc dư đảng của nhà Mạc và nhà Lê nên cho người qua Quảng Đông dùng bổng lộc hậu hỷ chiêu dụ được một số về dưới trướng. Trịnh Phủ Thập Nhị Sứ nhận lệnh thẳng từ chúa Trịnh chứ không phải qua một quan chức nào trong phủ chúa cả, cho nên mọi người đều kiêng nể. Bây giờ họ Trịnh đã bị diệt, chẳng lẽ họ kéo vào đầu phục nhà Tây Sơn?

Người cầm đầu dáng cao mà gầy, xử cây Đoạn Trường Đao, đao pháp rất quỷ mị. Đoạn Trường Đao lưỡi dài, bản nhỏ, sống đao uống cong ba đoạn như sóng gợn. Trên sống đao có gắn thêm những ống bằng đồng rỗng ruột và có khoét lỗ trông giống như những đoạn sáo nhỏ. Khi múa lên, chính những đoạn sáo đồng này rít gió và phát ra những âm thanh nghe tựa như tiếng than khóc rất não ruột, vì vậy mới có tên là Đoạn Trường Đao. Người trong giới giang hồ đồn rằng, Đoạn Trường Đao là loại đao xuất xứ từ miền Nam Ấn, vùng này là đất của loài rắn rung chuông. Người dân bản xứ cho rằng loài rắn này có hai túi độc có độc tính khác nhau, một ở ngay đuôi rắn và một ở trên đầu rắn. Người chuyên luyện Đoạn Trường Đao dùng âm thanh của đao làm cho rắn mê mẫn. Khi rắn đã mê mẫn và múa lượn theo nhịp múa của đao thì đó là lúc mà chất độc ở đuôi rắn đã bị kích thích và dồn hết lên đầu rắn. Hai chất độc này vốn đã độc mà trộn lại với nhau sẽ thành kịch độc, kiến huyết thì phong hầu ngay tức khắc. Người xử đao chỉ cần nhìn vào đôi mắt của rắn, khi thấy mắt rắn bắt đầu đỏ hồng lên như hai đốm lửa thì đó là lúc hai thứ độc đã trộn lẫn vào nhau. Người luyện đao sẽ bổ đao vào đầu rắn để tẩm độc vào lưỡi đao. Loại độc này có hiệu lực trong vòng một năm và sau đó thì phải tìm rắn để tẩm lại chất độc lên lưỡi đao. Thời gian sau đó người ta thấy Đoạn Trường Đao được một số người võ lâm của miền Bắc đất Xiêm xử dụng. Tiểu Lan chợt nhớ có lần sư phụ nói với nàng là trong phủ chúa Trịnh có một tay cao thủ đất Xiêm, vậy phải chăng chính là người này? Bốn người kia cũng xử dụng đao, một người xử song đao, một người xử Quỷ Đầu Đao, người thứ ba xử loại đao thường và đặc biệt đao của người thứ tư trông giống như loại dao đi rừng của người Hờ Rê trong vùng rừng núi của châu Ô, châu Lý.

Đột nhiên thấy người cầm đầu thoái lui một bộ, hắng giọng rồi hô:

- Thiên Truy Địa Sát.

Bốn người kia lập tức ngã mình xuống đất, chia ra bốn mặt, tiền hậu, tả hữu, rồi người nương theo đao, đao cuộn theo người, từ ngoài lăn vào tấn công hạ bàn của chàng thiếu niên. Phần người thủ lãnh, sau khi hạ lệnh mở trận, hắn phóng mình lên không, lưỡi Đoạn Trường Đao chờn vờn, loang loáng, âm thanh phát ra từ sống đao khiến cho đối phương phải giao động tâm thần. Lưỡi đao loang loáng một vùng trên không tựa như một màn lưới chụp xuống đầu chàng thiếu niên.

Tiểu Lan nhìn thấy đã hiểu là đối phương muốn dứt điểm và chàng thanh niên khó lòng hóa giải nỗi trận pháp này. Tiểu Lan biết là không thể chần chừ, bèn phóng lên mõm đá rồi nhún mình một cái, dưới bóng trăng, Tiểu Lan như một cánh én lượn trên không, và khi còn cách tên thủ lãnh cũng đang lơ lững trên không chừng một thước, lưỡi kiếm vung ra, nhắm ngay Đoạn Trường Đao mà chém xuống. Lưỡi Đoạn Trường Đao đang chờn vờn trên không để làm phân tâm và kềm giữ thanh kiếm của người thiếu niên cho bốn người kia dùng địa đường đao mà chém đứt đôi chân của đối phương. Do đó, nếu muốn cứu đôi chân thì phải để hở đầu cho lưỡi Đoạn Trường Đao bổ xuống.

Trong phút thập tử nhất sinh, người thiếu niên nhìn thấy lưỡi kiếm của kẻ mới xuất hiện vừa chạm vào sống đao của tên thủ lãnh, thì dưới ánh trăng vằng vặc, cả hai đều thấy bàn tay cầm kiếm rung nhẹ một cái, nhu kình nhả ra, lưỡi kiếm bỗng nhiên mềm oặt tựa như một giải lụa, quấn vào thanh Đoạn Trường Đao và giữ chặt lưỡi đao làm cho thanh đao bị kềm chế, không thể xê dịch theo ý muốn của chủ nhân nó. Cùng một lúc, bàn tay trái của Tiểu Lan nhắm vào chàng thanh niên mà đánh ra một chưởng. Người thanh niên hiểu ý ngay, cũng dùng tay trái mà phách ra một chưởng. Chưởng kình của hai người chạm nhau, lập tức người thanh niên mượn lực tá lực, cất mình nhảy bổng lên không như một cây pháo thăng thiên, thoát khỏi màn lưới đao nghe lạnh buốt cả gót chân bên dưới.

Tiểu Lan thu hồi kình lực, kiếm và đao rời nhau rồi cả hai người cùng buông mình xuống cát. Tiểu Lan đứng day lưng vào đấu trường, mặt nhìn ra biển thản nhiên như một kẻ đêm thanh thưởng trăng trên bãi biển. Tên thủ lãnh nhìn về hướng Tiểu Lan với vẻ bối rối hoài nghi, cuối cùng hắn không nhịn được, cất giọng hỏi:

- Ngươi... ngươi... Thanh Hoa Tam Kiếm?

Chỉ nghe Tiểu Lan hừ lạnh một tiếng rồi vẫn đứng yên chẳng nói năng gì. Tên thủ lãnh khoát tay ra hiệu, cả bọn năm người nhanh nhẹn biến mất vào bóng đêm. Tiểu Lan vẫn đứng nhìn ra biển mà nói với chàng thiếu niên:

- Thiếu hiệp tuy không bị ngoại thương, nhưng nội lực đã hao tổn nhiều, hãy ngồi xuống điều công, ta có thể đứng canh chừng cho giây lát.

Người thanh niên nghe lời liền ngồi xuống trên cát mà vận công điều khí. Đêm khuya vắng lặng, ánh trăng sáng vằng vặc chiếu xuống mặt biển như một tấm thảm bạc mênh mông. Gió mát từng cơn từ biển thổi vào. Vừa mới điều công, bỗng nhiên người thiếu niên cảm thấy tâm thần giao động, không thể nào tập trung tinh thần được. Hương trinh nữ theo gió biển thổi vào thoang thoảng cả một vùng. Chàng thiếu niên lắc đầu, hít một hơi thật sâu và thở ra thật mạnh để xua đuổi hết tạp niệm và bắt đầu hành công.

Một lát sau, người thiếu niên đứng dậy, hướng về Tiểu Lan mà tạ ơn:

- Tiểu thư... à, ân nhân, ta họ Nguyễn tên Ánh, giữa đường gặp nạn, nhờ ân nhân ra tay, thật ơn này làm sao mà báo đền. Xin ân nhân cho biết danh tánh để ngày sau có dịp báo đáp.

Tiểu Lan bây giờ mới xoay người lại, nhỏ nhẹ đáp lời:

- Ta họ Tống, nhà ở Gia Định thành. Tương trợ người cô thế là chuyện chẳng có gì đáng nói, nếu có duyên thì ngày sau sẽ gặp. Huynh đã có thù thì từ nay phải thận trọng, ta thấy những người hồi nảy không đơn giản.

Nguyễn Ánh gật đầu:

-Đối với người cứu mạng thì cũng không nên dấu diếm gì, ta là cháu của Định vương Nguyễn Phúc Thuần, mấy năm trước đây, quân Trịnh và quân Tây Sơn vây đánh Phú Xuân, chúa Nguyễn Phúc Thuần thất trận, dẫn gia quyến từ Phú Xuân chạy về Gia Định, rồi cũng bị vây đánh phải chạy về Hà Tiên, nhưng giữa đường bị bắt và giết, chỉ một mình ta chạy thoát. Mười hôm trước ta lén vào thành Phú Xuân để liên lạc với một số quan quân vẫn còn trung thành với nhà Nguyễn, và có lẽ tông tích bị lộ nên mới bị truy sát như vậy.

Nguyễn Ánh cảm tạ thêm một lần nữa rồi xoay mình cất bước. Tiểu Lan nhìn theo, trong lòng thấy xao xuyến, đứng lặng ngắm trăng một hồi rồi lững thững đi về nhà trọ.
NguyenPhucVinhTung viết ngày 10-10-2008 lúc 07:47 PM NguyenPhucVinhTung đã rời thuvienvietnam.com
Cũ
Bối cảnh lịch sử dựa theo Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, Đại Nam Thực Lục Chính Biên và Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả.

Năm 1679, ở bên Tàu sau khi quân Mãn Thanh nhập quan, một số quan quân nhà Minh không muốn quy thuận Thanh triều nên đã theo đường biển kéo đến định cư tại Đàng Trong. Hai nhóm lớn nhất đến đây, một nhóm do Dương Ngạn Địch nguyên là Tổng Binh thành Long Môn, Quảng Đông chỉ huy cập vào Cửa Tiểu, định cư và khai khẩn vùng đất Mỹ Tho. Nhóm thứ hai do Trần Thượng Xuyên nguyên là Tổng Binh các châu Cao, Lôi và Liêm cầm đầu, vào cửa Cần Giờ định cư và mở mang vùng Bàn Lâm, sau là Chợ Lớn và vùng Đông Phố, sau là Gia Định.

Một năm sau, năm 1680, một nhóm đông hơn do Mạc Cửu, nguyên là Tổng Binh Quảng Đông cũng theo đường biển đến vùng đất Sài Mạc, sau là trấn Hà Tiên định cư và lập nghiệp. Nhóm của Mạc Cửu còn mở rộng khai thác thêm đảo Phú Quốc, vùng đất Lũng Kỳ, Cần Bột tức là Kampot và Vũng Thơm tức là Kompongsom của Chân Lạp.

Vua Chân Lạp thấy ba nhóm này có binh có tướng nên tỏ vẻ e dè, Mạc Cửu biết ý nên đầu phục chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn ép vua Chân Lạp phải cho họ sinh sống ở đây và điều thêm người ở Thuận Hóa, Quảng Nam vào các vùng này sinh sống. Bởi nhớ ơn đó nên Mạc Cửu mang các vùng đất này vốn là đất của Chân Lạp sát nhập vào đất Đàng Trong của chúa Nguyễn.



Hồi thứ ba

TRAI TÀI GÁI SẮC


Gia Định thành xe duyên cầm sắc
Biệt song thân dựng nghiệp cùng chồng


Kể từ ngày Tống phu nhân cùng Tiểu Lan trở về Thanh Hóa để viếng thăm mồ mả ông cha và trùng tu nhà từ đường đến nay đã hơn hai năm rồi. Thành Gia Định lúc này có vẻ ồn ào náo nhiệt hơn trước, bóng dáng người Tàu, người Mã Lai, người Nhật Bản và cả người Tây Dương cũng đến đây buôn bán thường xuyên. Hơn nữa, trong thành và ngoài thành, đi đâu cũng nghe người ta bàn tán chuyện nhà Nguyễn phục hưng, một hậu duệ của nhà Nguyễn đang đứng ra chiêu binh mải mã khắp miền Nam, mà người dân miền Nam vốn có lòng với mấy đời chúa Nguyễn, nên số người hưởng ứng ngày càng đông.

Ngày trước, Mạc Cửu nguyên là quan trấn thủ Quảng Đông, không chịu thần phục nhà Thanh, nên cùng với gia đình và bộ tướng theo đường thủy xuôi về phương Nam, vào cửa Sài Mạc tức là đất Hà Tiên mà tá túc. Sau đó ra tận Phú Xuân xin đầu phục với chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn trọng dụng, phong cho Mạc Cửu làm Thống Binh, cai quản từ trấn Hà Tiên đến đảo Phú Quốc và cho lập Mạc phủ. Bởi nhớ ơn đó, cho nên đến hôm nay, Mạc phủ tuy đã truyền xuống đời sau là Mạc Thiên Tứ nhưng vẫn một lòng với nhà Nguyễn như hầu hết người dân miền Nam.

Bây giờ là tiết xuân, thành Gia Định đang có nhiều lễ hội. Tiểu Lan nào chịu ngồi không ở nhà, nàng xin cha mẹ cho dẫn một con a hoàn ra phố dạo chơi. Vui chơi một hồi, thấy đói bụng, Tiểu Lan chỉ một tửu lầu và nói với con a hoàn:

- Ta thấy chỗ này có người Tây Dương thường đến, chắc là thức ăn ngon, vậy chúng ta vào ăn thử.

Chủ tớ bước vào tiệm, kiếm một cái bàn trên lầu mà ngồi. Tiểu Lan nhìn quanh tửu lầu một vòng, để ý đến bàn cuối đặt cạnh cửa sổ, có một đôi trai gái đang ăn uống và chuyện trò với nhau. Người thanh niên ngồi xây lưng về phía Tiểu Lan nên nàng không nhìn thấy mặt, còn người con gái ngồi đối diện, cũng khoảng tuổi nàng, dung nhan xinh đẹp, cốt cách sang trọng của con nhà quyền quý. Tiểu Lan vừa ăn vừa thỉnh thoảng nhìn qua bàn của đôi nam nữ, chợt thấy hình dáng của chàng thanh niên có một nét gì quen thuộc, hình như đã gặp một lần ở đâu rồi, còn người thiếu nữ mỗi lần nhìn chàng thanh niên, ánh mắt lộ ra nét trìu mến.

Chàng thanh niên hình như có chuyện gì bận rộn, nên vừa gác đũa là đứng dậy cáo từ đi xuống lầu. Khi người thanh niên vừa xoay mình lại, Tiểu Lan nhận ra ngay người mà hơn hai năm trước đây mình đã gặp trong một đêm trăng trên bãi biển của trấn Thị Nại. Và người thanh niên khi đi ngang qua bàn của Tiểu Lan cũng cảm thấy phân vân trong lòng, hình như mình đã gặp người này ở đâu rồi mà không nhớ được, muốn chào mà không dám chào, nên cứ đi thẳng xuống lầu.

Tiểu Lan gặp lại Nguyễn Ánh thì trong lòng mừng lắm. Hai năm qua, Tiểu Lan đã là một thiếu nữ ở độ trăng tròn và hình ảnh của chàng trai ngày đêm bôn ba nuôi mộng dựng lại cơ đồ của ông cha lúc nào cũng lỡn vỡn trong tâm trí của nàng. Chàng như cánh chim bằng lướt gió, biết nơi đâu mà tìm. Hôm nay tình cờ gặp lại, nhưng lại có mặt của một thiếu nữ xinh đẹp và xem ra giữa hai người có vẻ gần gũi, nên Tiểu Lan không muốn đường đột ra mặt. Tiểu Lan vẫn ngồi yên lặng uống trà nhưng trong lòng có phần ấm ức. Thiếu nữ ở bàn bên kia gọi người tính tiền rồi đứng lên, với tay xách một cái túi nhỏ và thanh kiếm đi xuống lầu.

Khi thiếu nữ vừa đi ngang qua bàn của Tiểu Lan, cái ghế trống bên cạnh Tiểu Lan hình như biết đi, bỗng nhiên chạy ra án ngay trước mặt thiếu nữ. Những khách ngồi gần đó thấy chắc thế nào thiếu nữ cũng bị vấp té, nhưng chỉ nghe thiếu nữ hừ một tiếng, và mũi hài chân phải hất nhẹ một cái, chiếc ghế bay bổng lên gần đụng trần nhà, rồi nhắm đầu của Tiểu Lan mà chụp xuống.

Con a hoàn không biết chuyện gì xảy ra, chỉ thấy cái ghế đang từ trên cao rơi xuống ngay đầu của tiểu thơ mình thì la hoảng:

- Tiểu thơ, tiểu thơ, coi chừng bể đầu!

Khách trong quán nghe la thì nhìn qua sửng sốt, nhưng chỉ thấy Tiểu Lan vẫn thản nhiên, tay trái bưng tách trà đưa lên miệng, và không cần ngước mặt, tay phải vươn lên bắt lấy một chân ghế để xuống rồi nhìn thiếu nữ cười gằn:

- Hay lắm, có tài nghệ gì nữa không?

Thiếu nữ nghe nói liền cười lạt:

- Người Gia Định thành quả thật tự cao tự đại.

Chưa dứt câu thì cánh tay phải đã vươn ra, bàn tay ngọc chờn vờn trước mặt Tiểu Lan và hai ngón tay nhắm vào hai mắt Tiểu Lan mà điểm tới. Tiểu Lan không ngờ đối thủ tức giận đến thế, mới ra tay mà đã xử độc chiêu, liền thảng thốt kêu lên:

- Giao Long Điểm Nguyệt?

Chưa dứt câu đã xô ghế đứng lên, xoay mình qua nửa bộ, bàn tay phải như lưỡi đao chém vào cổ tay thiếu nữ. Bây giờ khách trong quán lại nghe thiếu nữ la lên:

- Hồi Đầu Trảm Mã?

Và cả hai cùng hồi bộ đứng nhìn nhau. Tuy chưa ai lên tiếng, nhưng trong lòng mỗi người đều tự nhủ, võ công của đối phương hình như cùng môn phái với mình. Đã là môn đệ của Thanh Hoa, ai không biết hai chiêu Giao Long Điểm Nguyệt và Hồi Đầu Trảm Mã là hai chiêu căn bản của môn phái này. Tiểu Lan lên tiếng hỏi trước:

- Có phải sư phụ của ngươi họ Trần?

Thiếu nữ nghĩ chắc mình đoán đúng nên không do dự trả lời:

- Phải, ta là Mạc Phi Yến ở Mạc phủ trấn Hà Tiên.

Tiểu Lan vui vẻ nói:

- Sư phụ ta là Vương Duy Nhân, như vậy ta là sư tỉ của ngươi, ta tên Tiểu Lan ở Tống gia trang gần đây.

Mạc Phi Yến còn giận chuyện Tiểu Lan vô cớ gây sự, nên chỉ gật đầu:

- Vâng sư tỷ, ta bận việc phải đi ngay.

Nói xong Mạc Phi Yến đi thẳng xuống lầu. Tiểu Lan hiểu ý nên trong lòng có chút hối tiếc chuyện mình đã làm, tự nhủ lúc nào có dịp sẽ tạ lỗi. Tiểu Lan quay lại con a hoàn, thấy con nhỏ đang ngồi há hốc miệng ra mà nhìn, liền hỏi:

- Nãy giờ ngươi không thấy gì cả phải không? Nếu kể chuyện vừa rồi cho cha mẹ ta hay bất cứ ai thì ta đánh què chân ngay đó. Thôi mình về.

Tiểu Lan đi ra ngoài gây chuyện, nên khi trở về cứ phập phồng, vừa bước vào cửa gặp lão quản gia thì hỏi ngay:

- Cha ta đâu rồi?

Lão quản gia đáp:

- Trang chủ đang tiếp khách ở sảnh đường.

Tiểu Lan mừng thầm, cha đang bận khách chắc không để ý mình về muộn. Nhưng vừa bước vào đã nghe tiếng cha gọi:

- Tiểu Lan, con mau vào đây chào khách.

Tiểu Lan bước vào sảnh đường, thấy cha và sư phụ đang ngồi uống trà với khách. Bước đến chào, Tiểu Lan mới nhận ra khách là chàng thanh niên hồi nãy gặp trên tửu lầu. Nguyễn Ánh cũng ngạc nhiên, định nói gì đó, nhưng thấy Tiểu Lan đứng sau lưng cha nháy mắt ra dấu, nên chỉ cúi đầu chào. Tống trang chủ giới thiệu:

- Tiểu Lan, con gái của tôi.

Rồi nói với Tiểu Lan:

- Công tử đây là hậu duệ của nhà Nguyễn, còn trẻ nhưng anh hùng xuất chúng, cha thật rất ngưỡng mộ.

Tiểu Lan cúi đầu chào một lần nữa rồi đi vào trong. Nàng thấy cha mình và sư phụ tiếp đón Nguyễn Ánh có vẻ trịnh trọng hơn những người khách thương, hào phú hay quan lại vẫn thường lui tới đây. Buổi tối, Tiểu Lan đến phòng của sư phụ và kể cho sư phụ nghe chuyện hồi sáng nàng gặp Mạc Phi Yến và kể luôn chuyện hai năm trước gặp Nguyễn Ánh ở trấn Thị Nại. Vương sư phụ nghe xong trầm ngâm một hồi rồi nói:

- Có lẽ hôm nào ta và con về trấn Hà Tiên ghé Mạc Phủ thăm sư thúc con một lần. Còn Nguyễn Ánh, ta xem tướng mạo, thần thái và khí độ thì đây không phải là người tầm thường, mà là kẻ nhất hô bá ứng, tiền đồ cơ nghiệp sẽ rất rạng rỡ. Nếu con có dịp giúp được thì nên hết lòng.

Hai hôm sau, Tiểu Lan đang ngồi đọc sách trong phòng thì con a hoàn đập cửa chạy vào hốt hoảng:

- Tiểu thơ, không xong rồi, cái cô hôm trước ở tửu lầu lại đến đây gây chuyện. Cô đang đứng trước cổng, bảo tiểu thơ ra gặp cô gấp.

Tiểu Lan bước ra cổng, thấy Mạc Phi Yến đi lui đi tới có vẻ bồn chồn. Vừa thấy Tiểu Lan bước ra, Mạc Phi Yến nói ngay:

- Sư tỉ, tỉ còn nhớ người ngồi cùng bàn với muội ở tửu lầu hôm trước không?

Tiểu Lan gật đầu:

- Ta nhớ, có chuyện gì không?

Mạc Phi Yến nói:

- Người đó là Nguyễn Ánh, hậu duệ của nhà Nguyễn, Nguyễn huynh đang chiêu binh mải mã tại một cứ địa cách đây năm dặm thì bị quân Tây Sơn vây hãm, tình thế rất nguy ngập, xin sư tỉ nghĩ tình đồng môn mà ra tay tương trợ cho muội.

Tiểu Lan nghe nói thì trong lòng đã như lửa đốt vội đáp:

- Ta biết Nguyễn huynh, ta sẽ đi với muội.

Tiểu Lan hỏi thêm cho rõ tình hình rồi bảo Mạc Phi Yến ra cửa thành Nam chờ mình vào lấy kiếm và ngựa rồi sẽ đến đó cùng đi. Tiểu Lan trở vào phòng lấy cây Trường Lưu Thủy kiếm của sư phụ ban cho, và ra vườn lén mở cửa sau dẫn ngựa ra đi về cửa Nam. Mạc Phi Yến phóng ngựa lên trước dẫn đường. Khoảng gần giờ Ngọ, hai người đến một khu đất trống, cách đường lớn chừng nửa dặm, có mấy dãy nhà làm doanh trại dựng lên sơ sài, dựa lưng vào một ngọn đồi nhỏ. Dãy nhà bị đốt cháy gần hết, rải rác trên mặt đất người chết và người bị thương khoảng mấy chục. Mạc Phi Yến xuống ngựa hỏi thăm một người bị thương đang cố gắng ngồi dậy, người này chỉ tay về hướng Nam và cho biết Nguyễn Ánh đang bị truy đuổi về hướng này. Hai thiếu nữ lập tức phóng ngựa đuổi theo.

Khoảng xế trưa, hai người nghe đằng trước có tiếng la hét và tiếng binh khí chạm nhau. Chỉ trong thoáng chốc, hai người đã theo kịp nhóm người vừa đánh vừa chạy đằng trước. Người bị truy đuổi là Nguyễn Ánh, trên vai phải đã trúng một mũi tên, nên kiếm pháp rời rạc như người mới học kiếm. Nhóm người truy đuổi khoảng mười người, cầm đầu là một hán tử trung niên, y phục như võ tướng, tay xử trường kiếm, đang đuổi theo sát đằng sau ngựa của Nguyễn Ánh.

Hai thiếu nữ nhìn nhau hội ý rồi cùng thúc ngựa xông lên, vung kiếm đánh dạt nhóm người trước mặt ra hai bên, và tiến đến sát tên võ tướng, Tiểu Lan bên tả, Mạc Phi Yến bên hữu, hai lưỡi trường kiếm vung lên, cùng một lúc tập kích vào hai bên đối thủ một cách bất ngờ. Tên võ tướng bị tấn công bất ngờ buột miệng la lên một tiếng. Tiếng la của hắn có lẽ vì ngạc nhiên hơn vì sợ hãi. Điều ngạc nhiên đầu tiên là thấy hai người tấn công hắn là hai thiếu nữ xinh đẹp. Điều ngạc nhiên thứ hai là về kiếm pháp của hai thiếu nữ này. Lập tức kiếm của hắn vung lên, nhanh như điện chớp, khiến cho hai bên tả hửu của hắn tựa như có hai lá chắn sáng ngời như bạc. Tiểu Lan thấy vậy liền kêu lên:

- Thiên Kiếm?

Miệng la nhưng tay vẫn không ngừng biến chiêu. Ba người xuất toàn độc chiêu, một bên quyết tâm truy đuổi, một bên cố gắng ngăn cản cho người đằng trước có cơ chạy thoát. Vậy nhưng lúc này nếu có người tinh ý nhìn vào, thì chắc không khỏi ngạc nhiên vì thấy ba người giao đấu với nhau, bề ngoài tuy có vẻ quyết liệt, nhưng thật như ba huynh muội đồng môn đang luyện võ với nhau. Bên này vừa ra chiêu thì bên kia đã biết là chiêu gì để hóa giải.

Nguyễn Ánh bị một mũi tên, nay có người tương trợ thì rạp mình trên ngựa mà chạy. Chưa được bao lâu đã thấy trước mặt có con sông chắn ngang, đang bối rối chưa biết làm sao thì nghe tên võ tướng đằng sau ra lịnh:

- Bắn tên.

Trong nhóm đuổi bắt có ba tay cung thủ. Ba mũi tên đồng loạt xé gió phóng đi. Nguyễn Ánh vung kiếm gạt được hai mũi, mũi thứ ba ghim vào mông con ngựa. Con ngựa đau quá, hí lên một tiếng rồi quỵ hai chân sau làm cho Nguyễn Ánh phải nhảy xuống đất. Vừa đặt chân xuống đất, Nguyễn Ánh thấy một con trâu già đang đầm mình ngâm nước nơi bờ sông, liền chạy đến, nhảy lên lưng trâu và thúc trâu lội qua sông.

Tiểu Lan và Mạc Phi Yến ra sức tấn công vào hai bên tả hữu của tên võ tướng nhưng vẫn không cầm chân hắn được. Tên võ tướng thấy Nguyễn Ánh cởi trâu lội ra giữa dòng bèn ra lịnh bắn tên. Tiểu Lan biết Nguyễn Ánh ngồi trên lưng trâu không thể nào tránh tên được nên thoái bộ rồi kêu lớn:

- Sư huynh, hạ thủ lưu tình.

Tên võ tướng nghe Tiểu Lan gọi mình là sư huynh thì đưa tay ra hiệu ngừng bắn rồi nhìn Tiểu Lan. Tiểu Lan hoành kiếm hỏi ngay:

- Huynh là Mạc Kỳ, đệ tử của Thiên Kiếm?

Tên võ tướng gật đầu. Tiểu Lan nói:

- Muội là Tiểu Lan, sư phụ của muội họ Vương, còn muội đây là Mạc Phi Yến, sư phụ họ Trần.

Bây giờ ba người biết chắc mình là huynh muội đồng môn, nhưng lại gặp nhau trong hoàn cảnh éo le này, không biết phải xử trí như thế nào. Mạc Kỳ nhìn Mạc Phi Yến rồi cất tiếng hỏi:

- Ngươi là Mạc Phi Yến, bây giờ lớn vậy sao? Bá phụ và bá mẫu vẫn an khang?

Mạc Phi Yến gật đầu và nói như để tạ lỗi:

- Cha mẹ muội vẫn an khang. Huynh rời Mạc phủ đã hơn mười năm nên lúc cấp thời muội không nhận ra huynh.

Tiểu Lan tra kiếm vào vỏ rồi nói với Mạc Kỳ:

-Nguyễn Ánh là hậu duệ của nhà Nguyễn, đất Đàng Trong là công lao của mấy đời chúa Nguyễn gầy dựng nên, nay Nguyễn Ánh mưu đồ quang phục lại cơ nghiệp của ông cha là chuyện thiên kinh địa nghĩa, vậy huynh muội chúng ta nên một lòng góp sức.

Mạc Kỳ lắc đầu đáp:

- Chúng ta tuy là huynh muội đồng môn, nhưng đã nhận bổng lộc bên nào thì phải hết lòng với bên đó. Đây là lần đầu gặp gỡ, ta lấy tình đồng môn bỏ qua, lần sau thì việc ai nấy làm.

Tiểu Lan biết không thuyết phục được Mạc Kỳ bèn kéo tay Mạc Phi Yến chạy đến bờ sông xem chừng Nguyễn Ánh có qua sông được chăng. Nguyễn Ánh cưỡi trâu bơi ra mới giữa dòng, thì nước sông chảy xiết quá nên con trâu già xem chừng đuối sức, chỉ có cái đầu còn ngoi lên được trên mặt nước. Trong tình trạng nguy hiểm đó thì bờ sông bên kia, một bầy sấu chừng bốn, năm con đang nằm phơi nắng, nghe động liền quẫy đuôi trườn mình xuống nước và bơi về chỗ con trâu đang ngụp lặn giữa dòng. Hai người con gái và nhóm của Mạc Kỳ đứng trên bờ nhìn thấy thì chắc hẳn cả người và trâu đều phải làm mồi cho bầy sấu chứ không cách gì thoát được. Bầy sấu đã bơi đến sát bên con trâu, Nguyễn Ánh mệt lả không còn phản ứng gì được nữa. Tiểu Lan và Mạc Phi Yến không nỡ nhìn, hai tay bưng mặt khóc.

Bỗng nghe Mạc Kỳ kêu lên có vẻ kinh ngạc, Tiểu Lan và Mạc Phi Yến buông tay xuống nhìn ra sông. Một cảnh đang diễn ra trước mắt mọi người là một chuyện khó tin. Bầy sấu bơi quanh con trâu thành một vòng và dùng lưng nâng con trâu đưa vào tận bờ, rồi cả bầy bơi về chỗ cũ. Mạc Kỳ nhìn sửng, trong lòng tự hỏi, chẳng lẽ hắn là chân mệnh đế vương? Và trong lòng bỗng thấy phân vân, phò Tây Sơn hay phò Nguyễn? Mình theo Tây Sơn đã bao năm nay, giúp nhà Tây Sơn đánh bại chúa Nguyễn ở Đàng Trong, diệt chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, nhưng anh em nhà Tây Sơn lại thường bất hòa, tranh chấp và đánh nhau khiến dân tình không yên. Trước kia mình cũng biết, công lao của chín đời chúa Nguyễn mở mang bờ cõi vào phương Nam, cuộc sống người dân ấm no đầy đủ. Nghĩ đến đây, Mạc Kỳ trầm ngâm nhìn qua bên kia bờ sông một lần nữa, rồi từ biệt hai người sư muội và ra hiệu cho nhóm thuộc hạ lên ngựa trở về hướng thành Diên Khánh.

Tiểu Lan và Mạc Phi Yến đi dọc theo bờ để kiếm thuyền qua sông. Khoảng gần tối thì hai người theo kịp, gặp Nguyễn Ánh đang nằm thiếp bên một gốc cây. Cả hai nàng dìu Nguyễn Ánh lên ngựa đưa về Tống gia trang. Nguyễn Ánh ở lại Tống gia trang dưỡng thương, nhờ có thầy lang Vương Thông tận tình chăm sóc, nên chỉ mới mười ngày mà vết thương đã bình phục. Mạc Phi Yến vấn an vợ chồng Tống trang chủ và Vương sư bá rồi cáo từ để trở về Hà Tiên. Mạc Phi Yến nói với Tiểu Lan:

- Muội theo lệnh cha đến đây kiếm Nguyễn huynh để báo cho huynh biết việc huynh muốn yết kiến vua Xiêm, huynh có nhờ cha muội cho người qua dọ hỏi, vua Xiêm chấp thuận, nhưng nay Nguyễn huynh đang bị thương nên muội phải về thưa cho cha định liệu.

Trong thời gian dưỡng thương, Nguyễn Ánh và Tiểu Lan, một đôi trai tài gái sắc đã trở thành tri kỷ. Vợ chồng Tống gia chủ cũng đã biết chuyện Tiểu Lan bái sư học nghệ. Tống gia chủ vẫn một lòng với nhà Nguyễn nên rất quý trọng Nguyễn Ánh, trong lòng những mong Tiểu Lan được nâng khăn sửa túi cho một kẻ thiếu niên anh hùng như Nguyễn Ánh. Riêng phần Tiểu Lan, năm nay đã tròn mười tám, tài năng và dung mạo nức tiếng cả Gia Định thành, bao nhiêu công tử con nhà quyền quý mong lọt vào mắt xanh, nhưng Tiểu Lan chưa coi trọng một ai cả, vậy mà từ lần gặp Nguyễn Ánh hơn hai năm trước, Tiểu Lan đã tự nhủ, đây là người đáng cho mình trao thân gửi phận. Bởi vậy trong những ngày Nguyễn Ánh dưỡng bệnh tại đây, Tiểu Lan tận tình chăm sóc và tình cảm giữa đôi trai tài gái sắc đã nẩy nở rất nhanh chóng.

Phần Nguyễn Ánh, bây giờ chàng mới biết người cùng Mạc Phi Yến cứu mình lần này cũng là người đã cứu mình hơn hai năm trước ở trấn Thị Nại. Lần đó sau khi chia tay, mỗi lần nhớ lại hình dáng người con gái trong đêm trăng trên bãi biển, thì hương trinh nữ thoang thoảng lúc đó như vẫn còn vương vấn đâu đây, chàng hằng mong mõi có ngày gặp lại người con gái này, trước là để báo đền, sau là cho thỏa tình mong nhớ. Không ngờ hôm nay một lần nữa lại được chính tay nàng săn sóc cho mình từng chén thuốc, chàng nghĩ rằng đây chính là cơ duyên mà trời đã sắp đặt. Nguyễn Ánh tâm sự với Tiểu Lan tất cả những điều mà chàng đang làm và được Tiểu Lan đồng tình khích lệ, nàng còn ngỏ ý mong muốn có cơ hội được giúp chàng trên bước đường tranh bá đồ vương. Mấy hôm sau Nguyễn Ánh đã bình phục, tạ ơn vợ chồng Tống trang chủ, thầy lang Vương Thông và hẹn sẽ trở lại.

Một tháng sau, người trong Gia Định thành thấy Nguyễn Ánh cùng đi với Mạc Thiên Tứ ở Mạc phủ đến Tống gia trang nạp sính lễ xin cưới Tống tiểu thư. Vợ chồng Mạc Thiên Tứ chỉ có một người con gái là Mạc Phi Yến, và trong lòng hai vợ chồng cũng thầm mong đứa con gái tài sắc vẹn toàn của mình cùng với Nguyễn Ánh thành một đôi tuyệt hảo, nhưng âu cũng là số trời.

Hôn lễ cử hành đơn giản, mấy ngày sau Tiểu Lan bái biệt cha mẹ và sư phụ, rồi thu xếp hành trang theo chồng về cứ địa trên đảo Phú Quốc, để từ nay cùng chồng trải qua những ngày tháng gian nan cực khổ, bôn ba chinh chiến suốt mười năm trời ròng rã, đáng là một bậc mẫu nghi thiên hạ.
NguyenPhucVinhTung viết ngày 10-10-2008 lúc 07:49 PM NguyenPhucVinhTung đã rời thuvienvietnam.com
Cũ
Bối cảnh lịch sử dựa theo Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, Đại Nam Thực Lục Chính Biên và Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả.

Năm 1786, sau khi đánh bại chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Nguyễn Nhạc chia lãnh thổ ra làm ba phần, Nguyễn Nhạc xưng là Tây Sơn Vương, đóng đô ở thành Đồ Bàn, sau đổi là Quy Nhơn, phong cho Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương, cai quản từ đèo Hải Vân đến Nghệ An, phong cho Nguyễn Lữ làm Đông Bình Vương, giữ vùng đất Gia Định. Sau đó Nguyễn Nhạc lại xưng là Trung Ương Hoàng Đế. Tuy là ba anh em, nhưng lại thường hay bất hòa với nhau vì tranh chấp lãnh thổ và chiến lợi phẩm khi chiếm được Bắc Hà và Phú Xuân. Bởi vậy, có một lần Nguyễn Huệ mang quân về vây thành Quy Nhơn ba tháng, sau đó hai anh em lại giảng hòa.

Tháng 4 năm 1792, Nguyễn Vương từ thành Gia Định mang đại quân ra đánh Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc sai con là Nguyễn Bảo mang quân ra chống cự nhưng thất trận nên phải chạy về Quy Nhơn. Nguyễn Vương thừa thế, phối hợp hai đạo quân thủy bộ tiến lên vây hãm thành Quy Nhơn rất ngặt.

Nguyễn Nhạc cho người ra Phú Xuân cầu cứu. Lúc bấy giờ vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã mất, truyền ngôi lại cho con là Nguyễn Quang Toản, tức là vua Cảnh Thịnh. Vua Nguyễn Quang Toản sai các tướng Phạm Công Hưng, Nguyễn Văn Huấn, Lê Trung và Nguyễn Văn Sở mang đại quân vào cứu viện. Nguyễn Vương thấy viện binh thế mạnh, bèn rút quân về Gia Định, chỉ để tướng Nguyễn Văn Nhân ở lại giữ Phú Yên, tướng Nguyễn Văn Thành giữ Diên Khánh và tướng Nguyễn Huỳnh Đức giữ Bình Thuận, là các vùng đất vừa đánh chiếm được.

Quân của vua Nguyễn Quang Toản giải vây cho thành Quy Nhơn rồi, liền nhân cơ hội chiếm luôn thành, khiến cho Nguyễn Nhạc uất ức sinh bệnh mà chết. Đoạt được Quy Nhơn trong tay người bác ruột của mình và cũng là người dựng nên nhà Tây Sơn, nhưng rồi sau đó giữa vua Nguyễn Quang Toản và các tướng lãnh Tây Sơn đâm ra nghi kỵ lẫn nhau. Nạn nhân đầu tiên là tướng Lê Trung, bị vua Nguyễn Quang Toản triệu về Phú Xuân rồi giết chết, sau đó là tướng Nguyễn Văn Huấn, cũng bị gọi về và giết.

Từ đó các tướng sĩ của Tây Sơn đâm ra nản lòng, một số bỏ qua đầu Nguyễn Vương, làm cho thế lực nhà Tây Sơn ngày càng suy yếu. Trong số những người bỏ qua đầu Nguyễn Vương, có Đại Đô Đốc Lê Chất, trước là thuộc hạ của tướng Lê Trung đã bị giết. Sau khi về với Nguyễn Vương và được Nguyễn Vương trọng dụng, Lê Chất đã lập nhiều chiến công cho nhà Nguyễn.

Và đây có thể nói, cái hay của Nguyễn Vương là biết dùng người và tinh thần anh hùng trọng anh hùng. Cho nên sau khi thống nhất sơn hà, hai người được vua Gia Long cho trấn giữ hai đầu lãnh thổ là Lê Văn Duyệt, giữ chức Tổng Trấn Gia Định, quyền sanh sát cả một miền Nam, và Lê Chất dù là một hàng tướng, nhưng vì công trạng và tài năng, cũng được giữ chức tổng trấn Bắc Hà, cai quản cả miền Bắc.


Hồi thứ tư

HỌ NGUYỄN XƯNG VƯƠNG


Vào đất Xiêm đơn thân phó hội
Gia Định thành họ Nguyễn xưng Vương


Kể từ khi Nguyễn Ánh cùng chú là chúa Nguyễn Phúc Thuần bị quân Tây Sơn tấn công phải bỏ thành Gia Định mà chạy về Hà Tiên, nhưng giữa đường chúa Nguyễn Phúc Thuần bị sát hại, chỉ một mình Nguyễn Ánh chạy thoát. Rồi những năm sau, Nguyễn Ánh một thân một mình bôn ba nay đây mai đó, chiêu binh mải mã, lập ra nhiều căn cứ địa. Suốt bao năm qua, những cố gắng của Nguyễn Ánh đều bị quân Tây Sơn của Nguyễn Nhạc phá tan và bản thân Nguyễn Ánh đã bao lần suýt bị bắt. Cho đến hôm nay, căn cứ còn lại và tương đối còn an toàn là đảo Phú Quốc. Nhóm của Mạc Cửu ở Hà Tiên, của Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho và Trần Thượng Xuyên ở Bàn Lâm và Đông Phố chỉ ngầm yểm trợ chứ không dám ra mặt vì sợ thế lực của Nguyễn Nhạc đang đóng đô ở Quy Nhơn.

Nguyễn Ánh sau khi làm lễ kết hôn với Tiểu Lan bèn bái biệt vợ chồng Tống trang chủ, rồi hai vợ chồng về cửa Sài Mạc để trở ra Phú Quốc. Từ cửa Sài Mạc, Nguyễn Ánh dùng thuyền lớn đi cùng với một nhóm thuộc hạ. Buổi sáng khi thuyền vừa nhổ neo, thì bỗng nhiên có một đàn rắn biển cả trăm con lội đến trước mũi thuyền và bơi qua bơi lại như muốn cản không cho thuyền đi. Nguyễn Ánh sinh nghi, ra lịnh neo thuyền lại và cho ghe nhỏ chèo ra xa thám thính. Lát sau ghe thám tử quay trở về báo là có thủy binh của Tây Sơn từ cửa Thị Nại kéo vào tuần tra. Nguyễn Ánh ra lịnh tìm nơi ẩn nấp, chờ đến ba hôm sau thủy binh của Tây Sơn kéo về Quy Nhơn mới lên đường được.

Về đảo Phú Quốc chưa được một tháng thì Mạc Thiên Tứ cho người ra báo với Nguyễn Ánh là vua Xiêm chấp thuận hội kiến. Nguyễn Ánh giao quyền lại cho Tiểu Lan và dặn dò:

- Ta vào đất Xiêm là tính kế mượn binh một lần nữa. Lần trước vua Xiêm cho mượn hai vạn quân, nhưng việc không thành, hao binh tổn tướng, không biết vua Xiêm có oán hận ta không. Bây giờ vua Xiêm có vẻ sợ thế lực của Tây Sơn, cho nên không biết đi lần này lành dữ thế nào.

Nói xong bèn lấy ra một khâu vàng, dùng kiếm chặt làm đôi rồi đưa cho Tiểu Lan một nửa mà nói:

- Nàng hãy giử lấy, nếu sau này có chuyện gì xảy ra thì đây là vật làm tin.

Tiểu Lan gạt nước mắt nhìn chồng và hỏi:

- Chàng đi lần này có ai theo để trợ thủ không?

Nguyễn Ánh đáp:

- Ta đã tính rồi, tình thế không thể mang theo nhiều người được, nên khi về đất liền ta sẽ ghé lại Mạc phủ, xin cho Mạc Phi Yến cải trang làm người hầu theo ta, như vậy vua quan của Xiêm không còn nghi kỵ.

Tiểu Lan gật đầu:

- Hay lắm, Mạc muội là người cơ trí, gan dạ và võ công lại hơn người, đúng là tay trợ thủ đắc lực cho chàng.

Sáng hôm sau hai vợ chồng bịn rịn chia tay. Nguyễn Ánh xuống thuyền đi về cửa Rạch Giá, rồi theo đường bộ đến Hà Tiên, ghé vào Mạc phủ xin với vợ chồng Mạc Thiên Tứ cho Mạc Phi Yến cùng mình vào đất Xiêm. Vợ chồng Mạc Thiên Tứ chưa có quyết định thì Mạc Phi Yến nghe chuyện liền năn nỉ cha mẹ cho mình theo giúp Nguyễn Ánh. Hai vợ chồng cũng biết con gái mình vẫn còn nặng tình với chàng trai nầy nên không đành từ chối. Mạc Phi Yến cải nam trang thành tên thư đồng cùng Nguyễn Ánh đi vào đất Xiêm.

Đến nơi phải chờ đến ba hôm Nguyễn Ánh mới được vua Xiêm triệu vào yết kiến. Sau khi nghe Nguyễn Ánh phân tích tình hình bên xứ mình hiện nay và ngỏ ý mượn binh cùng những lời hứa hẹn sau khi lấy lại giang sơn, vua Xiêm nghĩ ngay đến thế lực và sự trả đũa của Tây Sơn sẽ bất lợi cho nước Xiêm, nên tìm cách trì hoãn, hứa sẽ bàn thảo với triều đình rồi trả lời. Nguyễn Ánh ở lại kinh đô của nước Xiêm đã hơn nửa năm, nhưng vua Xiêm cứ viện cớ bận rộn việc triều chính nên chưa trả lời cho Nguyễn Ánh, đồng thời ra lệnh canh chừng và giam lỏng Nguyễn Ánh, không cho về nước. Có thể vua Xiêm muốn dùng Nguyễn Ánh để trao đổi điều kiện với nhà Tây Sơn, hoặc dùng Tây Sơn để trao đổi điều kiện với Nguyễn Ánh, nên cố tình trì hoãn để xem tình hình thay đổi như thế nào.

Nửa năm trôi qua, bây giờ đang vào tiết xuân và cũng là ngày hội Tết của người Xiêm. Khắp cả kinh đô, dân Xiêm vui chơi, ăn uống, hội hè rất náo nhiệt. Nguyễn Ánh nhân dịp đó, dùng vàng bạc mua chuộc toán quan quân có nhiệm vụ canh chừng mình, lấy cớ xin ra ngoài để xem lễ hội. Toán canh gác được nhiều vàng bạc, lại thấy chủ chỉ là một thanh niên còn trẻ, tớ là một thư đồng dáng dấp ẻo lả như con gái thì chắc hai người không dám dở trò gì, hơn nữa lễ hội ngày Tết đối với người Xiêm rất quan trọng, nên chúng đồng tình cho hai người ra phố chơi một lát. Tên trưởng toán cẩn thận cử hai lính canh theo sau coi chừng.

Ra đến phố thấy người đi xem lễ hội chật các nẻo đường, Nguyễn Ánh và Mạc Phi Yến tìm cách đánh lạc hướng hai tên lính theo canh chừng, rồi theo những đường nhỏ mà ra khỏi kinh đô. Đến một làng nhỏ, hai người mua một đôi ngựa và nhắm về hướng Vũng Thơm mà chạy trốn.

Hai tên lính có nhiệm vụ theo canh chừng thấy mất dấu Nguyễn Ánh thì chạy về báo cho đội trưởng, tên đội trưởng vội đến dinh Thống Binh trình lên. Thống Binh Thạt Khỏn là người được vua Xiêm tín cẩn giao cho việc quản thúc người khách đặc biệt của mình. Thạt Khỏn lên được chức Thống Binh, lại nắm binh quyền ngay ở kinh đô là cũng do bản lãnh và những công trạng trên chiến trường. Nhân ngày lễ, Thống Binh Thạt Khỏn đang ở trong dinh cùng dự tiệc tùng với các quan lớn nhỏ trong triều, nghe cấp báo liền dẫn theo mười tên thuộc hạ tâm đắc, rồi cả nhóm nhắm về hướng biên giới mà truy đuổi.

Nguyễn Ánh và Mạc Phi Yến vì đường xa xứ lạ nên không thể đi nhanh được. Chỉ qua ngày hôm sau thì Thạt Khỏn đã theo dấu đến nơi. Thoạt đầu, Thạt Khỏn chỉ đứng ngoài đốc thúc thủ hạ vây đánh, hắn tin rằng sẽ bắt được đối thủ trong một thời gian ngắn, vì mười tên thuộc hạ mà hắn dẫn theo đều là những cao thủ có hạng ở kinh đô. Nhưng hắn thấy đối phương chẳng bối rối chút nào, nhất là cái tên thư đồng, trông dáng dấp như con gái mà kiếm pháp lại rất vững vàng trầm ổn. Hắn hét lên một tiếng thị uy, tay phải rút thanh đao cài bên hông ngựa và lâm trận.

Mạc Phi Yến thấy vậy liền để cho Nguyễn Ánh đối phó với nhóm mười người, còn nàng vung kiếm chận thanh đao của Thạt Khỏn rồi hai người quần thảo với nhau. Đao pháp của Thạt Khỏn đã từng chém đầu biết bao tướng địch trên chiến trường, mà nay vẫn không áp đảo được một tên thư đồng dáng dấp trói gà không chặt. Kiếm pháp của Mạc Phi Yến lúc này thủ nhiều hơn công, chiêu thế trầm ổn, liên hoàn với nhau, tựa như đồi nối đồi, núi liền núi, vững như thành quách, thật đúng với hổn danh của sư phụ là Địa Kiếm.

Gần nửa canh giờ mà tình thế vẫn không có gì thay đổi, Thạt Khỏn nổi giận, hắn dạt ngựa qua một bên, tra đao vào vỏ cài bên hông ngựa, rồi móc trong ngực áo ra cái tượng nhỏ của một vị thần nào đó đúc bằng vàng, cái tượng đeo trên cổ hắn bằng một sợi dây bạc. Hắn ngậm cái tượng vào miệng, rồi lâm râm đọc mấy câu chú gì đó. Trong giây lát, Mạc Phi Yến thấy hai mắt hắn đỏ ngầu, người hắn lừ đừ như say rượu, thúc ngựa xông vào, hai bàn tay không phát quyền, đao, chưởng, trảo liên hoàn tấn công Mạc Phi Yến. Hắn tấn công đối phương với hai cánh tay trần mà chẳng một chút e dè, tựa như thanh kiếm trên tay đối thủ là một thanh kiếm gỗ.

Thoạt đầu Mạc Phi Yến nghĩ rằng, hắn đánh không thắng nàng nên nổi cơn điên, nhưng đến khi thấy hắn đưa hai cánh tay trần ra đỡ hai nhát kiếm chí tử một cách thản nhiên và nàng cảm thấy như mình vừa chém vào một người rơm, thì bắt đầu hoang mang và sợ hãi. Thạt Khỏn thấy vậy liền cố gắng nhập nội để khóa cây trường kiếm và bắt sống đối phương, nhưng Mạc Phi Yến biết ý, nàng thấy hắn chỉ phòng giữ có hai nơi là mắt và yết hầu, nên cứ nhắm vào hai nơi này mà tấn công nhưng vẫn không làm cho hắn nao núng.

Nguyễn Ánh vừa đánh vừa để mắt coi chừng cho Mạc Phi Yến, thấy tình thế như vậy, chàng biết chỉ trong chốc lát Mạc Phi Yến sẽ bị đối thủ chế ngự. Nguyễn Ánh loan kiếm một vòng cho đối phương dạt ra, rồi nhắm tên yếu nhất trong bọn mà xông sát đến, tay kiếm từ trên chém bổ xuống đầu như chớp giật khiến cho tên này phải dùng cả hai tay tung đao lên đỡ. Chỉ đợi như vậy, tay trái chàng vươn tới điểm vào huyệt đạo bên ngực trái ngay dưới tim. Chỉ nghe tên này rú lên một tiếng, thanh đao rơi ngay xuống đất, miệng há hốc, mắt mở lớn coi bộ đau đớn không chịu nổi, phân và nước tiểu vãi ra, hắn nảy người lên một cái rồi tắt thở.

Nguyễn Ánh xông đến, nắm cổ tên này quay lại ném cái xác vào lưng Thạt Khỏn. Lúc đó tay trái Thạt Khỏn đã chộp được lưỡi kiếm của Mạc Phi Yến, hắn nắm lưỡi kiếm sắc bén trong tay như nắm một thanh kiếm gỗ. Mạc Phi Yến thấy nguy đang cố gắng thu kiếm về thì bàn tay phải của Thạt Khỏn, năm ngón vươn ra như móng diều hâu, nhắm yết hầu Mạc Phi Yến chộp đến. Đúng lúc đó, Thạt Khỏn nghe tiếng gió tập kích sau lưng nhưng hắn không thèm quan tâm. Cái xác bay đến đập vào lưng hắn nghe “bịch” một tiếng và sự chấn động chỉ làm cho người hắn nảy lên, nhưng nước tiểu và phân từ cái xác đã văng lên đầu lên cổ hắn.

Mạc Phi Yến thấy hắn đang xuất trảo nhắm yết hầu mình mà chộp tới bỗng nhiên khựng lại, hai mắt hắn đỏ ngầu, miệng há rộng nhả cái tượng vàng ra, rồi nghe hắn “khè” một tiếng như rắn phun độc và phun vào mặt Mạc Phi Yến một làn hơi mờ như sương mỏng. Mạc Phi Yến bị hắn nắm chặt thanh kiếm nên không thể né tránh kịp, chỉ thấy người choáng váng, biết mình đã trúng độc, liền cố gắng vận kình lực vào tay phải giật mạnh kiếm về. Năm ngón tay của Thạt Khỏn đứt lìa rơi xuống đất. Thạt Khỏn hình như chẳng còn biết đau đớn, hắn ngây người ngồi trên lưng ngựa, hai mắt thất thần. Mạc Phi Yến biết hắn đã bị bùa phản, vung kiếm xuất chiêu Trường Xà Nhập Động đâm vào yết hầu đối phương. Thạt Khỏn vẫn như người đang mơ màng, nhận một mũi kiếm mà chết.

Chín tên còn lại thấy chủ tướng đã chết liền kéo nhau bỏ chạy. Nguyễn Ánh thúc ngựa đến bên Mạc Phi Yến, thấy nàng ngồi trên ngựa mà thân hình lảo đảo liền hỏi:

- Mạc muội có sao không?

Mạc Phi Yến gượng cười:

- Muội bị trúng độc rồi.

Nguyễn Ánh lo lắng nói:

- Muội có thể gượng thêm một thời gian nữa được không? Chỗ này còn trong đất Xiêm, mình gắng qua biên giới, đến một trấn nào đó huynh sẽ kiếm thầy, kiếm thuốc giải độc cho muội.

Mạc Phi Yến không nói chỉ gật đầu. Trên vầng trán của nàng, những giọt mồ hôi lớn như hạt đậu, chứng tỏ chất độc đang phát tán. Hai người thúc ngựa tìm đường mà đi. Khoảng mười ngày sau hai người về đến Vũng Thơm, nhưng Mạc Phi Yến đã kiệt sức không thể ngồi trên ngựa được nữa. Nguyễn Ánh đỡ nàng xuống ngồi dựa vào một gốc cây. Nơi họ dừng chân vẫn còn là vùng đất hoang dã, chung quanh chẳng có làng xóm. Nguyễn Ánh ngỏ ý muốn đi một mình cho nhanh để tìm xem có làng xóm gần đây và có cách gì để cứu Mạc Phi Yến không, nhưng nàng buồn bã lắc đầu và nói:

- Khỏi phải tốn công, muội đã thấy lạnh rồi, hãy ngồi đây với muội thêm lát nữa.

Nguyễn Ánh ngồi xuống cạnh nàng và đỡ cho nàng tựa vào lòng mình, hai tay ôm vòng qua người nàng như muốn chuyền hơi ấm của mình cho nàng. Mạc Phi Yếm hai mắt nhắm nghiền, nhưng môi nở một nụ cười mãn nguyện:

- Muội có hy sinh vì huynh cũng không hối tiếc. Mong huynh một điều, đừng bao giờ quên muội, đừng quên muội nghe huynh.

Nguyễn Ánh ôm chặc Mạc Phi Yến vào lòng, người nàng lạnh dần, lạnh dần, chàng thì thầm bên tai nàng:

- Huynh không bao giờ quên muôi, không bao giờ quên muội.

Mạc Phi yến nở trên môi nụ cười cuối cùng. Nguyễn Ánh vẫn ngồi tựa gốc cây ôm Mạc Phi Yến trong lòng cho đến sáng hôm sau, chàng lấy miếng ngọc bội của Mạc Phi Yến mang nơi cổ giắt vào thắt lưng rồi đào đất mà chôn nàng cạnh gốc cây, bê một tảng đá đặt lên để làm dấu và khấn trước mộ:

- Huynh sẽ trở lại đưa muội về Mạc phủ.

Khấn xong lên ngựa tìm đường về Mạc phủ báo tin cho vợ chồng Mạc Thiên Tứ. Hai vợ chồng đau xót vô cùng, nhưng nghĩ rằng âu cũng là số kiếp. Hai vợ chồng gạt lệ, chuẩn bị phương tiện rồi đi cùng Nguyễn Ánh mang thi thể Mạc Phi Yến về Mạc phủ mà an táng. Công việc xong xuôi, Nguyễn Ánh cáo từ hai vợ chồng Mạc Thiên Tứ để trở về Phú Quốc.

Tiểu Lan từ ngày tiễn chồng ra đi, ngày đêm mong ngóng chờ tin. Hơn nửa năm qua vẫn biệt vô âm tín, nay thấy chồng trở về thì mừng rỡ khôn cùng, chuyện trò một hồi Tiểu Lan chợt nhớ, hỏi chồng:

- Mạc muội khỏe không?

Nguyễn Ánh nghe nhắc, nét mặt buồn bã đáp:

- Mạc muội vì ta mà đã hy sinh.

Rồi kể cho Tiểu Lan nghe mọi việc. Tiểu Lan gạt lệ thương tiếc vô cùng, hẹn cùng chồng ngày nào đó sẽ cùng về Mạc phủ để viếng mộ người sư muội bạc mệnh. Tiểu Lan cũng nói cho chồng biết, thời gian qua tình hình đã có phần thuận lợi hơn. Lúc khởi đầu, nhà Tây Sơn rất được lòng dân, nhưng sau khi đánh thắng họ Trịnh họ Nguyễn, thì anh em nhà Tây Sơn tranh chấp quyền hành, chống đối lẫn nhau làm cho dân tình chán ngán. Lại thêm Nguyễn Nhạc đóng đô ở Quy Nhơn, lấy danh nghĩa truy lùng dư đảng nhà Nguyễn, thường mang thủy binh vào các vùng Mỹ Tho, Hà Tiên và Rạch Giá sách nhiễu dân chúng địa phương. Bởi vậy, mấy tháng qua, nhiều phú hào ở các vùng này đã quyên góp vàng bạc để ủng hộ cho lực lượng của họ Nguyễn, và về phần nhân sự, trai tráng ở các địa phương này cũng đã tình nguyện gia nhập đầu quân rất đông vào các căn cứ của Nguyễn Ánh.

Với tình thế ngày càng thuận lợi và lực lượng ngày càng hùng mạnh, một năm sau, Nguyễn Ánh mang quân từ đảo Phú Quốc về đánh chiếm Rạch Giá làm bàn đạp, rồi hội quân từ các căn cứ trong nội địa đánh dần lên, chiếm dần từng trấn, và cuối cùng, năm Bính Thân, đánh chiếm thành Gia Định. Sau khi lấy thành Gia Định, Nguyễn Ánh xưng vương và phong cho Tiểu Lan làm Vương phi. Sau đó lo chỉnh đốn lực lượng chuẩn bị cho bước kế tiếp. Và một điều làm cho Nguyễn vương vui mừng, ví mình như hổ được thêm cánh là Võ Tánh, một trong Gia Địmh Tam Hùng đã mang hơn một vạn quân đến đầu phục. Gia Định Tam Hùng mà người đương thời phong tặng gồm Võ Tánh, Châu Văn Tiếp và Đổ Thành Nhơn. Trong ba người, Võ Tánh quê ở Phiên trấn, sau đổi là Bình Dương, một mình một cõi ở đất Gò Công, dưới trướng có hơn một vạn người, uy danh vang dội khiến cho các đảng thảo khấu chung quanh vùng phải khiếp sợ và quan quân nhà Tây Sơn cũng không dám đụng đến. Nay Võ Tánh nghe danh Nguyễn vương mà mang hết thuộc hạ đến đầu phục. Nguyễn vương đẹp lòng vừa ý nên đối với Võ Tánh theo tinh thần anh hùng trọng anh hùng, phong cho Võ Tánh làm Tiên Phong Dinh Khâm Sai Tổng Nhung Chưởng Cơ và gả người chị bà con của mình là công chúa Nguyễn Phúc Ngọc Du cho Tánh.

Sau một thời gian củng cố lực lượng của mình và thấy nhà Tây Sơn ngày càng suy yếu, Nguyễn vương quyết định cử đại binh ra đánh thành Quy Nhơn. Nguyễn Nhạc yếu thế, sai người ra Phú Xuân cầu cứu. Lúc đó Nguyễn Huệ đã mất, con là Nguyễn Quang Toản lên kế vị liền cho binh vào cứu viện. Hai lần đầu, lần nào Nguyễn vương cũng phải rút quân về vì quân Tây Sơn thế còn mạnh, lại gặp lúc mùa mưa gió làm cho quân lính cực khổ.

Lần thứ ba, Nguyễn vương cũng thân chinh xuất trận, điều thủy quân tiến vào cửa Thị Nại, rồi sai hai tướng Võ Tánh và Nguyễn Huỳnh Đức đem quân đổ bộ lên bờ, tiến đánh trấn Trác Khê, sai tướng Nguyễn Văn Thành đang trấn giữ Diên Khánh, mang quân đánh Phú Yên, rồi Nguyễn vương đích thân kéo đạo quân của mình đến hợp sức với quân của Võ Tánh mà công thành Quy Nhơn. Lần trước sau khi cho viện binh vào giúp Nguyễn Nhạc đẩy lui quân Nguyễn, quân Tây Sơn chiếm luôn thành Quy Nhơn và các trấn chung quanh làm cho Nguyễn Nhạc uất ức sanh bệnh mà chết.

Lần này vua Nguyễn Quang Toản được tin cấp báo liền sai hai tướng Trần Quang Diệu và Nguyễn Văn Dũng mang quân từ Phú Xuân vào cứu viện, nhưng quân cứu viện bị quân của Nguyễn vương đánh bại. Tổng Binh trấn thủ thành Quy Nhơn là Lê Văn Thanh thấy viện binh không đến được bèn mở cửa thành đầu hàng. Nguyễn vương vào thành chiêu dụ bá tánh, ổn định tình hình và đổi tên Quy Nhơn thành Bình Định. Nguyễn vương lưu lại đây một thời gian rồi mới trở về Gia Định, giao cho tướng Võ Tánh và quan văn Ngô Tùng Châu ở lại cai quản thành Bình Định.
NguyenPhucVinhTung viết ngày 10-10-2008 lúc 07:51 PM NguyenPhucVinhTung đã rời thuvienvietnam.com
Cũ
Bối cảnh lịch sử dựa theo Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, Đại Nam Thực Lục Chính Biên và Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả.

Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu sinh năm Tân Tỵ 1762, tên húy là Tống Thị Lan, cha là Tống Phúc Khuông, người huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa, sau được phong tước Quý Quốc Công. Lúc còn nhỏ, theo cha vào sinh sống tại Gia Định thành, bà đã lớn lên trong bối cảnh của miền Nam như một người sinh trưởng tại xứ này. Đức tính, phẩm hạnh và nhan sắc của bà đã nức tiếng khắp thành Gia Định. Nguyễn Ánh bấy giờ còn đang một mình một kiếm trên đường tranh bá đồ vương, nghe tiếng bà bèn mang lễ vật đến cầu hôn. Lúc đó bà mới 18 tuổi, nhưng đôi mắt cũng đã đáng khen:

Khen cho con mắt tinh đời
Anh hùng thấy giữa trần ai mới già...


Rồi suốt mười mấy năm chinh chiến, bà lúc nào cũng ở bên cạnh chồng, đồng cam cộng khổ với chồng và binh lính. Ngay cả khoảng thời gian Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi gắt gao, phải ngày đêm lẩn tránh, trên bộ cũng như trên biển, nay Hà Tiên, mai Phú Quốc, Côn Sơn..., lúc nào bà cũng sát cánh bên chồng không màng nguy hiểm. Chính tay bà may áo cho quân lính và có lúc chính tay bà đánh trống thúc quân cho tướng sĩ nức lòng phấn khởi mà chiến đấu. Chỉ có một lần, vì tình thế hai người phải xa nhau, bà ẩn náu trên đảo Phú Quốc, Nguyễn Ánh một mình lánh thân vào đất Xiêm, trước khi chia tay, không biết còn gặp nhau hay chăng, Nguyễn Ánh lấy một khâu vàng chặt làm đôi và giao cho bà một nửa để làm tín vật. Sau này vua Minh Mạng cho gắn liền lại với nhau và khắc mấy chữ “Thế tổ đế hậu Quý Mão bá thiên thời tín vật”, có nghĩa là “Tín vật của thế tổ và đế hậu lúc chia tay năm Quý Mão” và đem thờ ở điện Phụng Tiên, kinh thành Huế.



Hồi thứ năm

TRỞ LẠI PHÚ XUÂN


Bình Định thành Tây Sơn vây hãm
Đánh Phú Xuân đế nghiệp viên thành



Đầu tháng 12 năm Kỷ Mùi, 1799

Đại binh Tây Sơn dưới quyền thống lãnh của tướng Trần Quang Diệu và Nguyễn Văn Dũng chia ra hai đạo thủy bộ từ kinh đô Phú Xuân kéo vào tấn công thành Bình Định. Thành Bình Định là ải địa đầu của lãnh thổ nhà Nguyễn lúc bấy giờ, do tướng Võ Tánh cùng với Lễ bộ Ngô Tùng Châu trấn thủ.



Tháng giêng năm Canh Thân, 1800

Bộ binh của tướng Trần Quang Diệu tấn công vào Thạch Tân. Thủy binh của tướng Nguyễn Văn Dũng tiến vào cửa Thị Nại để chận đường cứu viện. Thế binh rất mạnh. Phó tướng Hậu quân Nguyễn Văn Biên phải bỏ Thạch Tân, lui quân về Bình Định. Võ Tánh đóng chặt cửa thành, án binh bất động và báo tin cho Nguyễn vương. Thấy Võ Tánh bình tĩnh thủ thành, tướng Trần Quang Diệu nói với tướng Nguyễn Văn Dũng:

- Tánh không ra đánh là muốn chờ quân ta mỏi mệt.

Hai người tính kế lâu dài, sai quân đào hào, đắp lũy, trải binh vây thành Bình Định ba vòng.



Tháng 4 năm Canh Thìn, 1800

Nguyễn vương nghe thành Bình Định lương thực gần cạn, lòng quân đã mỏi, liền để Đông Cung Thái Tử Cảnh trấn giữ Gia Định, đích thân mình cùng bộ tướng kéo đại binh theo đường thủy ra cứu viện. Thủy binh của Nguyễn vương đến cửa biển Cù Huân thì chia ra làm hai đạo tiến về Diên Khánh. Trước khi xuất quân, Nguyễn vương đăng đàn hịch với tướng sĩ rằng:

- Trong khi ra trận, thành bại quyết định trong giây phút, được thua phân nhau trong chốc lát, điều ấy quan hệ không phải nhỏ. Ta nay thân cầm đại quân, trừ được giặc hay không là ở trận này, vậy các ngươi hãy đồng lòng cố gắng.

Tướng Trần Quang Diệu nghe tin đại binh của Nguyễn vương định tái chiếm Diên Khánh liền truyền lệnh cho Thủy binh Đô đốc Đào Công Giản đem binh đến Phú Yên họp cùng tướng Phạm Văn Điềm chia quân trấn giữ hai bảo Hội An và La Thai.

Thủy binh của Nguyễn vương tiến vào cửa Tích Áo tức là Vũng Tịch, thuộc địa phận Phú Yên. Nguyễn vương truyền lệnh cho tướng Nguyễn Văn Thành cùng các phó tướng Lê Chất, phó tướng Nguyễn Đình Đắc và phó tướng Trương Tiến Bảo điều 8 đạo quân tiến về cửa biển Xuân Đài giao tranh với quân Tây Sơn đang trấn giữ tại đây. Trận chiến xảy ra ác liệt tại hai địa điểm Xích Thổ và Thanh Kỳ.

Quân Nguyễn vương chiếm được bảo Hội An. Phó tướng Tiền đạo Lê Chất bị thương và nhiều trận chiến khác đã xảy ra trong những ngày sau đó.



Tháng 12 năm Canh Thân, 1800

Viện binh của Nguyễn vương vẫn chưa đánh thủng được vòng vây của quân Tây Sơn để giải cứu cho thành Bình Định. Bộ binh của Tây Sơn vây thành rất ngặt, thủy binh của Tây Sơn tuần phòng cửa Thị Nại ngày đêm, khiến cho thủy binh của Nguyễn vương không thể tiến vào tiếp ứng được.



Tháng 4 năm Tân Dậu, 1801

Thành Bình Định lương thực đã gần cạn mà quân Tây Sơn vẫn kiên trì vây chặt. Nguyễn vương hội các tướng sĩ lại và bảo rằng:

- Thà mất thành chứ không để mất dõng tướng của ta.

Rồi sai thám tử tìm cách lẻn vào thành bảo Võ Tánh bỏ thành mà kiếm đường ra hội với đại quân. Võ Tánh không chịu, sai thám tử mang mật thư về cho Nguyễn vương.

Thư viết: “Nhân lúc đại binh của Tây Sơn đang dồn hết về đây vây thành Bình Định thì Phú Xuân coi như bỏ ngỏ. Hãy nhân đây đem quân ra đánh lấy Phú Xuân. Lấy thành Phú Xuân đổi một mạng của thần thật mãn nguyện lắm rồi”.

Nguyễn vương xem thư xong thở dài, trong lòng rất lưỡng lự, nửa không đành bỏ lại dõng tướng của mình, nửa thấy rằng nếu đánh Phú Xuân theo cái kế “đánh Ngụy cứu Hàn” biết đâu vừa lấy được Phú Xuân vừa giải vây cho Bình Định. Sau khi họp tướng sĩ lại bàn luận, Nguyễn vương cho mật báo với Võ Tánh là đại binh sẽ lên đường tiến đánh Phú Xuân, cố gắng cầm cự, lấy được Phú Xuân thì vòng vây không đánh cũng tan vỡ.



Ngày 1 tháng 5 năm Tân Dậu, 1801

Đại binh của Nguyễn vương tiến vào cửa biển Tư Dụng tức là cửa Tư Hiền ngày nay. Vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toản sai Phò mã Nguyễn Văn Tri cùng Đô đốc Trần Văn Tạ đem binh trấn giữ núi Qui Sơn tức là núi Linh Thái ngày nay.

Hai tướng tiên phong của Nguyễn vương là Lê Văn Duyệt và Lê Chất không thể nào tiến quân lên được. Quân Tây Sơn dựa thế cao, từ trên núi bắn xuống, quân của Nguyễn vương bị thương và chết khá nhiều.

Hai tướng Lê Văn Duyệt và Lê Chất chờ đến đêm, chia quân làm hai cánh, một đánh vào trước mặt, một đội ghe nhỏ vượt bãi cát, qua phá Hà Trung, đi vòng lên núi đánh úp đằng sau, quân Tây Sơn tan vỡ. Cánh quân của tướng Lê Văn Duyệt bắt sống được Phò mã Nguyễn Văn Tri và Đô đốc Phan Văn Sách.

Vua Cảnh Thịnh gom hết lực lựng phòng thủ Phú Xuân kéo về cửa Eo, tức là cửa Thuận An – Huế, quyết một trận mất còn với Nguyễn vương. Cho đến giờ này vua Cảnh Thịnh mới ân hận là đã không nghe theo lời di huấn của phụ hoàng mà ở lại Phú Xuân để cho sự việc xảy ra như ngày hôm nay.

Trước khi lâm chung, vua Quang Trung Nguyễn Huệ đã có lời trăn trối với con trai là Nguyễn Quang Toản:

- Thần kinh Phú Xuân không phải của ngươi có được. Nghệ An mới là đất của cha mẹ ta, đất ấy là nơi hiểm yếu có thể trông cậy. Ta đắp thành dày để làm Trung đô là làm kế Tấn Dương ngày khác cho ngươi. Sau khi ta mất, ngươi nên về đó, nếu có biến cố thì có thể giữ được.

(Tấn Dương là nơi Cao tổ đời Đường dựng nghiệp, ngày nay thuộc huyện Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây của Trung Hoa).



Ngày Đinh Sửu tháng 5 năm Tân Dậu, 1801

Nguyễn vương đứng trước mũi soái thuyền, áo bào bay phần phật trong gió chiều của cửa Thuận An, mắt dõi theo đại binh đang truy kích quân địch. Vua Cảnh Thịnh gom tàn quân chạy ra Bắc Hà. Đại binh của Nguyễn vương thế như chẻ tre tiến thẳng về thành Phú Xuân.



Ngày Mậu Dần tháng 5 năm Tân Dậu, 1801

Quân tiền đạo của Nguyễn vương tiến vào thành Phú Xuân. Nguyễn vương hạ lệnh cho tướng Lê Chất dẫn quân truy kích vua Cảnh Thịnh theo đường bộ, tướng Nguyễn Văn Chương đưa thủy binh tiến ra Linh Giang tức là sông Gianh để chận đầu. Tướng Phan Văn Nhân lo phòng thủ cửa Thuận An và cấp tốc sai bát mã truyền thư cho Võ Tánh, đồng thời cử hai tướng Lê Văn Duyệt điều động bộ binh và Tống Viết Phước đưa thủy binh vào cứu thành Bình Định.

Nguyễn vương đi ngựa vào thành Phú Xuân, dừng chân trước điện Long Các, đảo mắt nhìn quanh một vòng, những đền đài cung miếu, nơi mà ngày trước ông cha đã xây dựng nên, lòng không khỏi bùi ngùi.

Vương đi bộ một vòng, xem xét từng cung điện. Đến một dãy điện đằng sau Long các, giữa cái khung cảnh vắng lặng của một cuộc chiến vừa tàn, nơi đây còn nghe tiếng khóc của ai nghẹn ngào. Vương đẩy cửa bước vào. Ba người đàn bà đứng nép vào nhau ở cuối góc phòng, nét mặt vô cùng hoang mang sợ hãi...

Thành Bình Định bị vây hãm gần hai năm lương thực đã cạn, phải giết cả voi ngựa mà ăn nhưng lòng quân không loạn, lòng dân không oán, là vì Bình Tây Đại Tướng Quân Võ Tánh quân lệnh nghiêm minh. Tướng sĩ có người khuyên ông đột phá vòng vây mà ra, ông không nghe bảo rằng:

- Ta vâng mệnh giữ thành, phải cùng còn mất với thành. Nay bỏ thành mà cầu lấy sống thì còn mặt mũi nào mà nhìn thấy chúa thượng nữa.

Mỗi ngày ông lên vọng địch lầu nhìn quân Tây Sơn vây thành trùng trùng điệp điệp, mà bóng dáng viện binh của Nguyễn vương vẫn chẳng thấy đâu. Biết tướng sĩ không còn chống chỏi được bao lâu, ông sai người mở cửa thành mang hàng thư đến cho tướng Trần Quang Diệu. Thư hứa sẽ giao thành với điều kiện khi quân Tây Sơn vào thành, không được sát hại bất cứ một người nào. Tướng Trần Quang Diệu chấp thuận và cho hồi báo.

Sáng hôm sau, Lễ bộ Ngô Tùng Châu tới tướng phủ hỏi Võ Tánh xem có kế sách gì. Võ Tánh chỉ về hướng vọng địch lầu mà bên dưới ông đã cho chất sẵn củi khô và nói với Ngô Tùng Châu:

- Đây là kế sách cuối cùng của tôi. Tôi làm chủ tướng thì không thể sống cùng với giặc, ông là văn thần thì quân địch tất không hại đâu, vậy nên tính cách tự toàn.

Lễ bộ Ngô Tùng Châu cười trả lời:

- Cứ gì văn hay võ, lòng trung cũng là một thôi. Tướng quân biết chết theo nạn nước, Châu này không biết làm tôi chết với trung sao?

Ngô Tùng Châu trở về mặc quan phục, đội mão chỉnh tề, quỳ hướng về cửa khuyết bái vọng rồi uống thuốc độc mà chết.

Võ Tánh nghe tin ngậm ngùi than rằng:

- Ngô quân đã đi trước ta một bước rồi.

Và đích thân ông đến cho người khâm liệm, đồng thời gửi thư cho tướng Trần Quang Diệu hẹn ngày giao thành và nhắc nhở: “Tướng quân nghĩa phải chết là việc của ta, quân sĩ không có tội gì, không nên giết hại”.

Sắp xếp mọi việc xong, ông mặc triều phục lên vọng địch lầu, đổ thuốc súng vào củi khô và truyền tướng sĩ đến bảo rằng:

- Ta từ khi phụng mệnh giữ thành này, quân Tây Sơn đem toàn lực lượng vây đánh đã hai năm, thật nhờ tướng sĩ đồng tâm mới giữ được thành đến bây giờ, nhưng nay lương đã cạn, sức đã kiệt, nên ta có chết đi thì tướng sĩ cũng khỏi khổ thêm.

Tất cả tướng sĩ đồng quỳ mọp dưới chân vọng địch lầu mà khóc. Bình Tây Đại Tướng Quân Võ Tánh ra dấu cho tướng sĩ lui ra và châm lửa.

Khi con ngựa thứ tám trong toán bát mã truyền thư sùi bọt mép quỵ hai chân xuống trước cửa thành Bình Định, thì trên thành, vọng địch lầu chỉ còn là một đống tro tàn.



Thành Phú Xuân, điện Long Các

Ba người đàn bà run rẩy phủ phục dưới đất không dám nhìn lên. Nguyễn vương nhỏ nhẹ hỏi:

- Các ngươi là ai?

Người đàn bà quỳ ở giữa từ từ ngước mặt nhìn lên. Đối diện chỉ có hai người. Người đàn ông trung niên đứng phía trước dáng dấp oai nghiêm, lưng đeo trường kiếm, tay phải cầm một cây súng nòng dài, áo bào loang cả bụi đường và khói súng. Đằng sau ba bước là một võ tướng cầm gươm theo hầu. Người đàn bà đang lúc sợ hãi nhưng âm thanh cũng như tiếng ngọc chạm vào nhau:

- Thiếp là Ngọc Bình và hai đứa kia là thị nữ của thiếp.

Vương nhìn người đàn bà vừa trả lời mình hồi lâu mới hỏi tiếp:

- Ngươi là Ngọc Bình công chúa?

Ngọc Bình công chúa đáp rất nhỏ, giọng càng run hơn:

- Thưa, chính là thiếp.

Nguyễn vương không hỏi gì thêm, đứng im lặng nhìn Ngọc Bình công chúa vẫn còn phủ phục trước mặt mình. Viên cận tướng đã theo chủ soái của mình bao nhiêu năm nay vào sanh ra tử, nhưng chưa bao giờ thấy vương có một cái nhìn kỳ lạ như hôm nay. Ánh mắt nhìn trong một thoáng có cái nét như si, như ngây, như sự chếnh choáng của người vừa uống nhằm một chung rượu mạnh. Nhưng chỉ trong chốc lát, con người của đầu tên mũi đạn đã trở lại nguyên trạng. Vương ra hiệu cho Ngọc Bình đứng lên rồi bảo:

- Các ngươi đừng sợ hãi, cứ ở lại đây sinh hoạt bình thường như trước.

Rồi hạ lệnh cho viên tùy tướng:

- Cấm không được ai vào đây quấy nhiễu.

Nguyễn Vương nhìn Ngọc Bình công chúa một lần nữa trước khi bước ra. Đúng là một đóa hải đường, trong cơn phong ba mà hương sắc vẫn làm say đắm lòng người. Vương đã từng nghe tiếng hai chị em Ngọc Hân và Ngọc Bình vẫn được người đương thời truyền tụng là nhị Kiều của đất thần kinh, không ngờ hôm nay trở lại Phú Xuân, anh hùng mới gặp giai nhân.

Nguyễn vương ngự ở điện Long Các, quần thần, tướng sĩ bày tiệc chúc mừng. Khi tiệc nửa chừng, vương cho gọi Ngọc Bình công chúa vào diện kiến và chính thức phong làm Tam Phi. Tiệc chưa tàn, thám tử từ Bình Định trở về báo tin Võ Tánh đã tự sát trước khi viện binh đến. Nguyễn vương ngước mặt nhìn trời mà than:

- Ta lấy được Phú Xuân, nhưng lại mất đi một dõng tướng. Tiếc thay! Tiếc thay!



Ngày 2 tháng 5 năm Nhâm Tuất, 1802

Nguyễn vương Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, đổi tên nước là Nam Việt, sau đổi lại là Việt Nam và vẫn lấy Phú Xuân làm kinh đô, tưởng thưởng cho những tướng sĩ có công trạng.



Ngày 21 tháng 6 năm Nhâm Tuất, 1802

Sau mấy tháng chuẩn bị quân ngũ, vua Gia Long cử Nguyễn Văn Trương làm tiên phong thống lãnh thủy quân, cử Lê Văn Duyệt làm tiên phong thống lãnh bộ binh đi trước, và đích thân nhà vua chỉ huy đại quân hợp nhau vượt qua sông Gianh, tiến về thành Thăng Long. Quân Nguyễn thế như chẻ tre, đánh đến đâu quân Tây Sơn thua tan tác đến đó. Chỉ trong vòng một tháng kể từ ngày khởi binh, quân Nguyễn đã chiếm được thành Thăng Long. Vua Nguyễn Quang Toản đưa gia quyến và một số cận thần còn lại chạy lên Xương Giang, nhưng rồi lần lượt người bị bắt, người bỏ trốn và triều đại Tây Sơn kéo dài được mười năm, đến đây là chấm dứt.




Lời kết của tác giả:

Ngày hôm nay, nếu ai ghé Huế và lên núi Thọ Sơn thăm lăng Thiên Thọ, sẽ thấy phía sau lăng có hai ngôi mộ nằm song song cạnh nhau. Hai ngôi mộ